Báo cáo tốt nghiệp
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành báo cáo này, tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến các thầy (cô) giáo khoa Lịch sử,
các thầy (cô) giáo trong và ngoài trường Đại học Khoa
học đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi cùng các bạn
những kiến thức căn bản về lý luận và thực tiễn trong
những năm vừa qua. Và cũng cho phép tôi được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Trương Thị Yến đã trực
tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và đưa ra nhiều ý
kiến cần thiết giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành tốt báo cáo này.
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn các cô,
các chú và các anh chị trong Ủy ban nhân dân huyện
An Lão, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
huyện An Lão, tỉnh Bình Định đã hướng dẫn, giúp đỡ
và cung cấp tài liệu cho tôi trong suốt thời gian tôi
làm báo cáo.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Huế, tháng 9 năm 2014
Sinh viên
SVTH: Nguyễn Trung Quân
Báo cáo tốt nghiệp
Nguyễn Trung Quân
DANH MỤC CÁC BẢNG
!
"#$%&'&()*
SVTH: Nguyễn Trung Quân
Báo cáo tốt nghiệp
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Vef#Y.g&Chi1<N
1Gj>N
Z<B<#4N
1<#iN
!klm
/OBn
*V7>>>
1GGopg
-K@5
1GG
!-K@7
/-KqMr
SVTH: Nguyễn Trung Quân
Báo cáo tốt nghiệp
*"<A!
IViiB<#f;l!
+G$>f#@>?/
O$%&:/
V>(/
0Z8#/
-s%&*
V>(*
0Z8#*
!t:#:%&'&$H#$N
!+4>f#N
!Vu''&vN
!V#luw&''&vN
!!Vrm
-STU8RVSx-Vwy8RtzY1zQRQ{+8RS|}VyQS3ca8Y8.~}CV•8S€8S1\8S
VjM%&:MY.g&
!/Z#l#>k$pg(k$p:#:%&MY
.g&Chi1</
OdV.3†8Z]OQd88RS\//
On//
O</*
1(7E(/*
1(Bf@;/*
!1(%&/I
"Y8S+,-V]Q.Qa3VSY+OS{}/L
SVTH: Nguyễn Trung Quân
Báo cáo tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta đói nghèo là vấn đề bức xúc trong xã hội, xóa đói giảm
nghèo là một cuộc cách mạng lâu dài và phức tạp. Những năm gần đây, nhờ
những chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có
những bước chuyển mình rất quan trọng. Những nhân tố đó đã làm cho nền
kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được
nâng lên một cách rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đều đến
tất cả các vùng, các nhóm dân cư.
Một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư vùng cao, vùng sâu,
vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói chưa đảm bảo được những điều kiện tối
thiểu như ăn, mặc, ở, đi lại. Chính vì vậy, phân hóa giàu nghèo ở nước ta
ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Nó không chỉ là mối quan tâm của những nước
phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyển
mình thì vấn đề phân hóa giàu nghèo được chú trọng hàng đầu. Để có thể
hoàn thành mục tiêu quốc gia là xóa đói giảm nghèo thì trước tiên phải rút
ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo. Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ
máy lãnh đạo mà còn là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân. Xóa đói giảm nghèo
tâm thuộc chính sách xã hội và đưa ra các giải pháp cụ thể.
Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo có ảnh hưởng không nhỏ
tới đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Ngoài việc ứng dụng các lý
thuyết thì các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp chọn mẫu nghiên
cứu, phương pháp quan sát, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp phân
tích tài liệu. Cũng góp phần làm rõ cho đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
2.2.Ý nghĩa thực tiễn
Việc thực hiện đề tài này sẽ giúp chúng ta thấy được thực trạng và
nguyên nhân nghèo đói đang diễn ra tại huyện An Lão. Đặc biệt là những
người dân đang sinh sống nơi đây.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
2
Báo cáo tốt nghiệp
Qua đó góp phần không nhỏ vào quá trình thực hiện các chính sách xóa
đói giảm nghèo có hiệu quả nhất định ở địa phương.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời gian vừa qua cũng có khá nhiều bài viết nghiên cứu về vấn
đề này như:
- Nguyễn Thị Hằng: “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta
hiện nay” . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Hà Nội, 1997.
- Vũ Thị Ngọc Phùng “Vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”. NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội,
1993.
- Ngày 31/3/2008 tại trụ sở của Viện nghiên cứu Môi trường và phát
triển bền vững đã tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học:” Phát triển bền vững
vùng Tây Bắc: Xóa đói giảm nghèo, Bảo vệ tài nguyên nước”. Đây là một
trong các đề tài nhánh thuộc hệ đề tài khoa học cấp Viện năm 2007 của Viện
nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững. Đề tài do TS (Tiến sĩ) Phan Sĩ
Mẫn làm chủ nhiệm, với sự tham gia của nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện,
gồm TS.Đinh Thị Hoàng Uyên, TS.Lưu Bách Dũng, TS.Nguyễn Thị Bích Hà,
xóa đói giảm nghèo.
Riêng ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định thì chưa có công trình nghiên
cứu về vấn đề này.
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề xóa đói giảm nghèo tại huyện An Lão,
tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất một số giải pháp và làm rõ vai trò của nhân viên
công tác xã hội đối với hoạt động xóa đói giảm nghèo.
4.2. Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu thực trạng xóa đói giảm nghèo tại huyện An Lão, tỉnh Bình
Định.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
4
Báo cáo tốt nghiệp
Phân tích hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa bàn huyện.
Đề xuất giải pháp pháp nhằm tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo
ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
Làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác xóa đói
giảm nghèo.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện An Lão
tỉnh Bình Định hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Chính sách xóa đói giảm nghèo ở địa phương
Cán bộ trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Những người nghèo ở địa phương.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Báo cáo này được sử dụng một cách thích hợp các lý thuyết của xã hội
2011, 2012, 2013 về việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại địa
phương. Các tài liệu về công tác xã hội liên quan đến vấn đề này.
Thu thập thông tin từ mạng Internet, qua các website và thanh công cụ
tìm kiếm google.
Các thể loại báo chí có liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo.
Các chính sách, thông tư, quyết định liên quan đến công tác xóa đói
giảm nghèo.
7. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo được tiến hành
trong phạm vi địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
6
Báo cáo tốt nghiệp
Về thời gian: Số liệu nghiên cứu của đề tài chủ yếu từ năm 2010 - 2013
và một số định hướng giải pháp đến năm 2015.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương
Chương 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các khái niệm, lý
thuyết liên quan
Chương 2.Thực trạng xóa đói giảm nghèo tại huyện An Lão, tỉnh Bình
Định
Chương 3. Giải pháp xóa đói giảm nghèo tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định
SVTH: Nguyễn Trung Quân
7
Báo cáo tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1. Tổng quan về huyện An Lão, tỉnh Bình Định
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
thuộc khu vực xã An Toàn với dạng địa hình đồng bằng bóc mòn lượn sóng,
bên trong rải rác các đồi sót thoải, độ cao tương đối trên 300 mét và có độ dốc
nhỏ. Vùng này đất tốt thảm thực vật còn khá phong phú, thuận lợi phát triển
lâm nghiệp, cây công nghiệp ngắn ngày.
Vùng tương đối cao có độ chênh cao 500- 700 mét, độ dốc khá lớn gồm
các xã còn lại. Địa hình bị chia cắt mạnh, có những dãy núi cao co đỉnh nhọn
chạy theo hướng Bắc Nam rồi thấp dần xuống thung lũng sông An Lão và
sông Xang. Do đặc điểm địa hình và thảm thực vật còn ít nên vùng này quá
trình rữa trôi trên mặt diễn ra mạnh.
1.1.1.3. Sông ngòi
Quan trọng nhất trên địa bàn huyện là sông An Lão. Đây là phần đầu
nguồn của hệ thống sông Lại Giang. Sông An Lão quan trọng nhất của huyện
về nhiều mặt, cung cấp lượng nước tưới, nước sinh hoạt, cân bằng sinh thái
Diện tích lưu vực sông là 697 km
2
, lưu lượng dòng chảy bình quân năm
24 m
3
/s(với tần suất trung binh là 75%). Phụ lưu cuối của con sông này: sông
Vố, nước Đinh, nước Xáng có chiều dài đáng kể, tạo nên mật độ sông dày.
Ngoài các suối lớn cón có khá nhiều suối nhỏ, tổng chiều dài các suối nhỏ
khoảng 90km.
Nhìn chung, sông suối tại huyện An Lão có đặc điểm: ngắn, dốc nên
thường chảy xiết vào mùa mưa, cạn kiệt vào mùa khô, khả năng giữ nước
phục vụ sản xuất, sinh hoạt kém.
Lượng nước ngầm tuy chưa có những nghiên cứu cụ thể, nhưng đối với
một số khu vực không thể lấy nước từ nguồn sông, suối thì các giếng đào để
lấy nước thướng có độ sâu trung bình từ 6- 8 mét.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
9
Đất đỏ nâu : Phân bố không tập trung ở các thung lũng . Loại đất này
giàu mùn, giàu đạm, lân, kali có thể trồng các cây công nghiệp ngắn ngày, dài
ngày như tiêu, chè, lạc…
Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất : Chủ yếu nằm ở các sườn núi, loại
đất này chiếm 45% diện tích toàn vùng.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
10
Báo cáo tốt nghiệp
Đất mùn và mùn vàng đỏ trên núi đá cao : Đất này giàu mùn, độ ẩm
khá, tầng dày vừa phải.
Nhìn chung đất ở An Lão được hình thành từ đất đá mẹ là sa phiến
thạch đá vôi và có địa hình bị chia cắt lớn nên cũng đất cũng đa dạng.
Tài nguyên rừng
Toàn huyện có 22.204 ha đất rừng đặc dụng, 19.151 ha đất rừng sản
xuất, 16.359 ha đất rừng phòng hộ. Trong ba loại đất rừng trên thì loại đất có
rừng là 41.592 ha, đất chưa có rừng là 17.113 ha. Đây là tiềm năng thế mạnh
của huyện, là vùng nguyên liệu cung cấp sản phẩm gỗ cho các ngành sản xuất
công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Cơ cấu dân số
Năm 2013, huyện An Lão có khoảng 22.029 người, với 5.836 hộ gồm
các dân tộc Kinh, Bana, Hre.
Mật độ dân số là 19 người/km
2
, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1.38%. Tổng
số lao động của huyện 15.126 người. Qua cân đối nguồn lao động xã hội
phân công vào việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân của huyên cho thấy
rằng: ngoài số lao động trong độ tuổi đã được bố trí thì huyện An Lão còn
khoảng 6926 người trong độ tuổi thiếu việc làm thường xuyên, chưa kể học
sinh tốt nghiệp phổ thông và các trường chuyên nghiệp ra trường hàng năm.
đường sắt Bắc Nam đi qua.
Nhìn chung, hệ thống đường giao thông của huyện những năm qua đã
được đầu tư nâng cấp đáng kể (kể cả đương huyện lộ và đường nông thôn )
nhưng do mạng lưới giao thông đã xuống cấp nặng, các tuyến đường giao thông
liên xã, giao thông nông thôn còn nhỏ hẹp, chất lượng các loại đường còn hạn
chế, không bảo đảm với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
* Giáo dục
Có bước phát triển mới, chất lượng dạy và học được nâng lên đáng kể.
Tỷ lệ người biết chữ so với tổng dân số (trong độ tuổi) là trên 98%. Đến nay
SVTH: Nguyễn Trung Quân
12
Báo cáo tốt nghiệp
có 99% số xã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Cơ sở
vật chất kỹ thuật được nâng cấp, hoàn thiện đầy đủ. Hệ thống các trường học,
phòng học phổ thông được kiên cố hóa.
Cơ sở vật chất trang bị cho ngành giáo dục ngày càng được nâng cấp,
đổi mới toàn diện.
* Y tế
Mạng lưới y tế được phủ kín trong toàn huyện 100% ,chất lượng khám
chữa bệnh từng bước được nâng lên, trang thiết bị y tế đã được nâng cấp, y tế
xã đã được cũng cố.
1.1.2.5. Dịch vụ
Về bưu chính viễn thông: đã hiện đại hóa bưu chính viễn thông trong
toàn huyện, hoàn thiện cơ bản mạng lưới thông tin liên lạc đối với toàn huyện.
Đến nay có 98% số xã đã có điện thoại.
Hệ thống truyền hình đã được phủ sóng 100% số xã trong toàn huyện.
Mạng lưới chợ, xăng dầu, trung tâm dịch vụ được hình thành. Các
trung tâm và cụm điểm du lịch đang được quan tâm đầu tư.
1.1.2.6. Tình hình chính trị an ninh quốc phòng
Tình hình chính trị an ninh quốc phòng ở huyện An Lão tương đối ổn
phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo tùy theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
1.2.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển được xếp danh sách
là một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp. Chính vì vậy qua
nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu các nhà nghiên cứu và quản lý ở các bộ
ngành đã đi đến thống nhất về khái niệm nghèo đói ở Việt Nam như sau:
SVTH: Nguyễn Trung Quân
14
Báo cáo tốt nghiệp
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức
sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức
tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
1.2.2. Chuẩn nghèo
1.2.2.1. Trên thế giới
Hiện nay trên Thế giới có nhiều thước đo khác nhau tùy theo từng
vùng, điều kiện cụ thể mà các quốc gia có thể lựa chọn cho nước mình làm
chuẩn đói nghèo riêng.
Theo Mỹ đưa ra chuẩn nghèo họ là hộ gia đình có 4 người thu nhập
dưới 16000 USD.
Theo Ngân hàng Thế giới: Nghèo là những người có thu nhập dưới
0,5 USD / người.
Đối với các nước đang phát triển: Nghèo là người có thu nhập 1
USD / ngày.
Theo chuẩn nghèo tại các nước Công nghiệp phát triển thì người nghèo
là những người có thu nhập dưới 14,4 USD / ngày.
Hiện nay chuẩn nghèo của Thế giới quy định quốc gia có thu nhập bình
nghèo đói khác nhau, cụ thể:
Lần thứ nhất Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội quy định năm 1993:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân một người / một tháng quy đổi ra
gạo dưới 13 kg gạo ở thành thị, 8 kg gạo ở nông thôn.
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người / tháng quy đổi ra
gạo dưới 20 kg gạo ở thành thị, 15 kg gạo ở nông thôn.
Lần thứ hai công bố vào năm 1996 :
+ Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người / tháng quy đổi ra gạo
dưới 13kg (cho mọi vùng).
SVTH: Nguyễn Trung Quân
16
Báo cáo tốt nghiệp
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người / tháng quy đổi ra
gạo dưới 25 kg gạo đối với thành thị, dưới 20 kg đối với nông thôn, đồng
bằng và trung du và dưới 15 kg đối với nông thôn, miền núi và hải đảo.
Lần thứ ba công bố vào năm 1997 (Công văn số 1751 / LĐTBXH):
Về cơ bản tính bằng gạo theo thu nhập đầu người ở lần công bố thứ ba
không có sự thay đổi, song do biến động về giá cả và tính bất hợp lý nếu chỉ
dùng gạo và tính không thuận lợi của nó đối với vùng kinh tế phát triển mọi
thứ đều được tiền tệ hóa, do vậy năm 1997 thước đo nghèo đói được dùng
bằng cả gạo và tính theo thu nhập bình quân đầu người, cụ thể như sau:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg gạo / người
/ tháng, tương ứng 45.000 đồng.
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 15 kg gạo /
người / tháng, tương ứng 55.000 đồng đối với vùng núi, hải đảo, 20 kg gạo,
tương ứng với 70.000 đồng đối với nông thôn, đồng bằng và 25 kg gạo tương
ứng với 90.000 đồng.
Lần thứ tư công bố vào năm 2000 (Quyết định số 1143 / QĐ -
LĐTBXH) chuẩn nghèo hộ gia đình được đưa ra như sau:
+ Vùng miền núi, hải đảo 80.000 đồng / người / tháng.
phần có phần hành riêng, khi tập trung lại một cách trật tự sẽ tạo thành một hệ
thống với chức năng riêng của hệ thống. Cá nhân cũng là một hệ thống, vì cá
nhân là kết quả của nhiều hợp phần: phần tâm lí, phần sức khoẻ vật chất, phần
ảnh hưởng văn hoá, tôn giáo, gia đình, nghề nghiệp, chức vụ mỗi thành phần
có một tác động riêng tạo thành cá tính và ứng xử của cá nhân.
Thuyết hệ thống giúp nhà CTXH có cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên
cứu, xác định được điều cần thay đổi trong tình hình hiện tại của địa phương,
ở trạng thái động.
1.3.2. Thuyết vai trò(Role theory)
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho
mỗi chức vị trí của con người trong xã hội đó.
SVTH: Nguyễn Trung Quân
18
Báo cáo tốt nghiệp
Vai trò của người làm CTXH là giúp mọi người nhận thức được vai trò
của mình trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách về hoạt động xóa
đói giảm nghèo và những tài nguyên có thể
Qua đó nhân viên CTXH thể hiện vai trò là nhà giáo dục, tư vấn, kết
nối và truyền thông trong hoạt động xóa đói giảm nghèo cho người dân trên
địa bàn.
1.3.3. Thuyết nhu cầu
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai
nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như
mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ
bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được
đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh
để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công