Báo cáo tốt nghiệp
Lời Cảm Ơn
Thực tế cho ta thấy rằng bắt cứ sự thành công nào cũng
cần phải có sự trợ giúp của người khác, giúp đỡ không ít thì
nhiều, có thể trực tiếp hay gián tiếp. Và trong suốt thời gian
từ khi bắt đầu học tập cho đến nay tại Trường Đại Học Khoa
Học Huế bản thân tôi cũng như các bạn bè trong lớp đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy cô, gia
đình, bạn bè.
Để hoàn thành báo cáo này. Tôi xin chân thành cảm ơn
các thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện .
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Hồ Sỹ
Thái đã tận tình, chu đáo hướng dẫn để tôi thực hiện báo cáo
này.
Và mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một
cách hoàn chỉnh nhất. Song do con bỡ ngỡ với công tác
nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như là sự hạn
chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa nhận thấy
được. Do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của các quý
thầy cô giáo và các bạn để bài báo cáo của tôi được hoàn
chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
Báo cáo tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
1.2 Tiếm năng và trở ngại đối với việc phát triển kinh tế xã hội của xã Quảng
Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 12
1.2.1 Tiềm năng 12
1.2.2 Trở ngại 13
1.3. Một sồ khái niệm và lý thuyết liên quan tới bạo lực gia đình 13
1.3.1. Bạo lực gia đình là gì 13
1.2.2. Các hành vi bạo lực gia đình 13
1.3.3. Gia đình là gì? 14
1.3.4. Bạo lực trẻ em là gì? 14
1.3.5. Phụ nữ trước bạo lực gia đình 14
1.3.6. Nam giới trước bạo lực gia đình 15
1.3.7. Bình đẳng giới là gì? 15
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở XÃ QUẢNG SƠN, HUYỆN QUẢNG TRẠCH,
TỈNH QUẢNG BÌNH 16
2.1 Thực trạng bạo lực gia đình ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng
Bình 16
2.1.1. Tại tỉnh Quảng Bình 16
2.1.2. Tại huyện Quảng Trạch 17
2.1.3. Tại xã Quảng Sơn 18
2.2. Nguyên nhân dẫn tới bạo lực gia đình tại xã Quảng Sơn 19
2.2.1. Nguyên nhân khách quan 19
2.2.1.1. Tác động của các chất kích thích, của men bia, rươu, của thói trăng
hoa 19
2.2.1.2. Do tình hình kinh tế gia ðình khó khăn 20
2.2.2. Nguyên nhân chủ quan 20
2.2.2.1. Do nhận thức về giới và bình đẳng giới còn hạn chế 20
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
Báo cáo tốt nghiệp
2.2.2.2. Do quan niệm trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng còn nặng 21
3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội với vấn đề phňng chống bạo lực gia
đình ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 29
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
Báo cáo tốt nghiệp
3.3. Các mô hình, chương trình hoạt động của công tác xã hội trong việc phòng
chống bạo lực gia đình ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.33
3.4 Thực hành công tác xã hội với cá nhân bị bạo hành trong gia đình 34
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
Báo cáo tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay có thề nói bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề
đang được dư luận và toàn xã hội quan tâm sâu sắc. Đây có thể nói là một
dạng tệ nạn xã hội, nó gây hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau lên đời sống
gia đình và xã hội, làm ảnh hưởng trực tiếp tới cuốc sống của người dân. Và
nghiêm trọng hơn bạo lực gia đình còn là nguyên nhân gây ra những hậu quả
tai hại về cuộc đời, nhân cách của con người, gián tiếp tạo nên những mầm
móng các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác trong xã hội.
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại
hoặc có khả năng tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên
khác trong gia đình.
Bạo lực gia đình đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi nơi, mọi
lúc và phổ biến ở mọi tầng lớp xã hội với nhiều đối tượng khác nhau và với
nhiều hình thức khác nhau: bạo lực gia đình về thể chất, tinh thần, kinh tế,
tình dục
Những hành vi bạo lực gia đình thể hiện lối sống thiếu trách nhiệm,
việc ứng xử thiếu văn hóa trong đình, phản ánh sự suy thoái về đạo đức của
một số thành viên trong gia đình.
ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe, tâm lý, tình cảm của mỗi cá nhân. Đặc biệt
đối với trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình hay là thành viên trong gia
đình có hành vi của bạo lực gia đình thì nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình
thường nhất là tương lai của các em sau này.
Mặt khác, bạo lực gia đình cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế
xã hội của đất nước. Đối với nền văn hóa, bạo lực gia đình làm xói mòn về
đạo đức, mất tính dân chủ xã hội và làm ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai.
Bạo lực gia đình xâm phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm, tính
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
2
Báo cáo tốt nghiệp
mạng của mối cá nhân đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đối với nền kinh tế bạo
lực gia đình tác động tiêu cực đến sức khỏe và tinh thần của nạn nhân và từ
đó thêm gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia, nó cũng làm ảnh hưởng đến lực
lượng lao động và gián tiếp tác động đến kinh tế. Bạo lực gia đình còn gây
ảnh hưởng đến hệ thống bảo trợ xã hội Qua đó cho ta thấy ró hơn những ảnh
hưởng tiêu cực của bạo lực gia đình và nó đòi hỏi phải được giải quyết tốt.
Và có thể nói xã Quảng Sơn, huyện Quảng trạch, tỉnh Quảng Bình tuy
là một xã nhỏ, xã miền núi nhưng cũng chịu ảnh hưởng của vấn đề bạo lực gia
đình này, cuộc sống gia đình của một số người vẫn chịu cảnh bạo lực làm cho
hạnh phúc gia đình tan vỡ và là một sinh viên chuyên nghành công tác xã hội
và là một người con của quê hương Quảng Bình tôi muốn góp một phần công
sức của mình vào việc phòng chống bạo lực gia đình ở địa phương xã Quảng
Sơn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài
này.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình không phải là một vấn đề mới mà nó đã xuất hiện từ
rất lâu và đã được rất nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp khác
nhau nhằm giải quyết vấn đề này:
nhằm phòng chống bạo lực gia đình tại xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch,
tỉnh Quảng Bình.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Khảo sát thực trạng bạo lực gia đình tại địa bàn xã, thông qua phương
pháp quan sát, phỏng vấn, bảng anket
Tìm và phân tích các số liệu liên quan đến vấn đề bạo lực gia ðình tại
địa bàn xã.
Tìm và phân tích nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình tại địa bàn xã.
Nêu và phân tích những hậu quả của bạo lực gia đình trên địa bàn xã.
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
4
Báo cáo tốt nghiệp
Đưa ra một số giải pháp thích hợp nhằm phòng chống bạo lực gia đình
trên địa bàn xã Quảng Sơn.
Nâng cao nhận thức cho cán bộ và người dân địa phương , làm thay đổi
lối sống tư duy cũ, lạc hậu, giúp họ có cái nhìn đúng đắn về vấn đề bình đẳng
giới và bạo lực gia đình.
Đề xuất một số kiến nghị.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội với vấn đề phòng chống bạo lực gia đình ở xá Quảng
Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng bình.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ và nam giới trong các gia đình trên địa bàn xã, cán bộ phụ nữ,
đại diện chính quyền địa phương, trưởng của các thông trên địa bàn xã
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): tình hình bạo lực gia đình tại
xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Phạm vi thời gian: hiện nay
5. Phương pháp nghiên cứu
bạo lực gia đình.
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
6
Báo cáo tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ QUẢNG SƠN,
HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH VÀ CÁC LÝ
THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Tổng quan về xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Quảng Sơn là một xã miền núi nằm ở phía tây nam huyện Quảng
Trạch, có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Quảng Hòa, Quảng Minh, phía tây giáp
xã Lâm Trạch, Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, phía bắc giáp xã Quảng Thủy.
1.1.1.2. Đất đai
Xã Quảng Sơn chủ yếu là đất nông nghiệp với diện tích 90,13%; đất
phi nông nghiệp chiếm 4,57% và đất chưa qua sử dụng 5,3%, phần lớn diện
tích là đất lâm nghiệp và một phần nhỏ là đồng bằng nằm ven sông Gianh.
Tổng diện tích đất toàn xã là 5414 ha gồm các thành phần đất: nhóm
đất cát, nhóm đất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám, nhóm đất móng
1.1.1.3. Địa hình
Quảng Sơn là một xã miền núi cho nên địa hình chủ yếu là đồi núi bao
quanh.
Chạy quanh xã có sông Nan được ngăn cách bởi con đập đưa nước về
phục vuản xuất cho bà con nông dân.
1.1.1.4. Khí hậu
Xã Quảng Sơn nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc
trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa nhiều, mùa hè nóng, mưa
ít có gió Tây Nam thổi mạnh từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm với tốc độ
trung bình 20m/s làm cho nhiệt độ tăng lên, độ ẩm trong không khí thấp
Gia cầm các loại có 5.564 con đạt 111% kế hoạch.
Đàn dê có 150 con đạt 125% kế hoạch.
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
8
Báo cáo tốt nghiệp
1.1.2.3. Về nuôi trồng thủy hải sản
Ngay từ đầu năm UBND xã đã có kế hoạch thông bóa hướng dẫn kỹ
thuật cho các hộ có nuôi trồng thủy hải sản như: Vệ sinh, xử lý ao hồ. Hội
nông dân đã tư vấn giống có chất lượng cao ở các thương hiệu có uy tín trên
địa bàn tỉnh nên các hộ gia đình đã chủ động bám sát lịch thời vụ để thả cá có
hiệu quả với diện tích 5,8 ha, sản lượng thu về ước đạt 50ta/ ha.
Công tác nuôi trồng thủy hải sản của xã còn được chú trọng và phát
triển trong việc nuôi cá lồng trên phần thượng lưu của sông Nan, đã và đang
đem lại kết quả và thu nhập tốt cho bà con nhân dân.
1.1.2.4. Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đảng ủy và UBND xã thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về phát triển các ngành nghề truyền thống, dịch vụ buôn bán kinh
doanh được nhân rộng và phát triển, nghề đan tre truyền thống ở Diên Trường
được giữ vững. Một số hộ chuyển sang đan tre xuất khẩu hiệu quả đã giải
quyết được một số lao động có thu nhập ổn định.
1.1.2.5. Về lâm nghiệp
Về lâm nghiệp vẫn đang phát triển ổn định, công tác phòng chống cháy
rừng được quan tâm đúng mức.
Lập kế hoạch xin trồng rừng kinh tế cho 50ha.
Kết quả đạt được năm 2009 là 3.500.000.000đ
1.1.2.6. Về thương mại- dịch vụ
Các nghề vận tải được phát triển, hiện nay đã có 17 xe công nông đầu
ngang, 15 đò máy vận chuyển vật liệu xây dựng như đá, cát, sạn… thu nhập
bình quân 500.000đ- 700.000đ/1 tháng. Có 3 hộ hàn xì, 5 hộ sửa chữa xe
máy, 16 hộ có máy xay xát, 13 hộ có máy cày, 10 hộ có máy tuốt lúa bằng
tế của mỗi trường, tích cực bằng nhiều biện pháp nâng cao chất lượng dạy và
học nên trong năm học 2008-2009 có 13 giáo viên đạt chiến sĩ thi đua cấp
huyện, tăng 2 giáo viên so với năm học 2007-2008. Có 48 học sinh đầu vào
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
10
Báo cáo tốt nghiệp
các trường Đại học, Cao đẳng. Học sinh giỏi cấp tỉnh có 7 em, cấp huyện có
14 em.
Trường Trung Học Cơ Sở có tổng số học sinh 601 em, tỉ lệ học sinh tốt
nghiệp đạt 96%, tỉ lệ lên lớp đạt 85,7%, học sinh giỏi đạt 3,8%, khá đạt
22,8%, trung bình 59,2%, yếu 14,1%, kém 0,2
Trường tiểu học số 1 có 330 em học sinh, tỉ lệ học sinh lên lớp đạt
96,4%, đạt 107% kế hoạch, học sinh giỏi đạt 5,5%, khá 19,75%, trung bình
đạt 71,2%, yếu 3,6%.
Trường tiểu học số 2 có 278 học sinh, tỉ lệ học sinh lên lớp 98,9%, đạt
105% kế hoạch, học sinh giỏi 8,4%, khá 16,1%, trung bình 45,1%, yếu 0,1%.
Trường mầm non có 287 cháu, trong đó nội trú 188 cháu, tất cả các
cháu đến trường đều được chăm sóc chu đáo, chất lượng dạy và học luôn
được nâng cao.
1.1.3.3. Về công tác y tế
Toàn xã có 01 trạm y tế nằm ở thôn Minh Sơn. Công tác khám chữa
bệnh cho bệnh nhân được quan tâm hơn trước, đội ngũ cán bộ y tế đã nêu cao
tinh thần phục vụ bệnh nhân. Năm 2009 có 4.800 lượt người đến khám chữa
bệnh, trong đó tại trạm có 144 bệnh nhân, có 262 bệnh nhân được điều trị
ngoại trú. Có 1.200 trẻ em đến khám chữa bệnh và được cấp thuốc miễn phí,
thực hiện tốt việc khám và tiêm phòng định kỳ hàng tháng cho trẻ em và bà
mẹ mang thai đầy đủ và đúng quy định.
Đội ngũ bác sỹ, y tá được đào tạo nâng cao trình độ, công tác khám
chữa bệnh ngày càng được đảm bảo hơn.
Tuy nhiên cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của
Con người xã Quảng Sơn chịu thương, chịu khó, cần cù lao động, có
tinh thần đoàn kết cao.
Sông nan là một tiềm năng lớn trong việc phát triển các nghề nuôi cá
khi sông được chia thành hai phần thượng lưu và hạ lưu. Phần thượng lưu
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
12
Báo cáo tốt nghiệp
thuận lợi cho việc nuôi trồng cá nước ngọt mà hiện nay ở xã đang tiến hành
đạt kết quả cao.
1.2.2 Trở ngại
Mặc dù có nhiều tiềm năng về hệ thống giao thông đường bộ. Đường
thủy và tiềm năng phát triển qua hệ thống đất đai nhưng xã Quảng Sơn gặp
nhiều khó khăn và trở ngại.
Xã Quảng Sơn phát triển kinh tế qua trồng trọt nhiều nhưng hệ thống
tưới tiêu ở một số Hợp tác xã và đội sản xuất chưa đảm bảo, việc đưa giống
mới, giống có năng suất cao vào sản xuất còn thấp gây ảnh hưởng đến năng
suất.
Hệ thống nước sạch trên toàn xã chưa đáp ứng được nhu cầu của người
dân, còn thiếu nước vào mùa khô.
Hệ thống gia thông đường bộ trong thôn xóm còn gặp nhiều khó khăn,
việc đi lại của bà con trong xã còn khó, hệ thống bê tông hóa các tuyến đường
liên thôn xã chưa chú trọng và phát triển.
1.3. Một sồ khái niệm và lý thuyết liên quan tới bạo lực gia đình
1.3.1. Bạo lực gia đình là gì
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên trong gia đình gây
tổn haị hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các
thành viên khác trong gia đình( Khoản 2 điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia
đình, 2007 )
1.2.2. Các hành vi bạo lực gia đình
Theo điều 2 của Luật phòng chống bạo lực gia đình thì các hành vi sau
Phụ nữ nước ta từ trước đến nay sẵn có trong mình tư tưởng chịu đựng,
nhẵn nhịn, miễn sao gia đình êm ấm. Họ sợ chuyện vỡ ra ngoài mọi người sẽ cười
chê, sợ gia đình, họ hàng nhà chồng dè bỉu, con cái phải xấu hổ với bạn bè
Thông thường người phụ nữ bị chồng đánh đập, chửi bới sẽ cam chịu,
chờ đợi sự tỉnh ngộ của đức ông chồng không muốn làm lớn chuyện vì quan
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
14
Báo cáo tốt nghiệp
niệm “ Xấu chàng hổ ai’’ chính vì vậy phụ nữ luôn luôn là đối tượng cảu
bạo lực gia đình nhiều nhất. Qua khảo sát của những người làm công tác tư
vấn ở trung tâm thì trước khi xảy ra bạo lực gia đình thì số người hy vọng
được ứng cứu là 42,05%; tìm cách thoát thân là 25,61%; 15,92% sẽ có hành
động tự vệ; 16,43% chấp nhận sống chung với bạo lực gia đình. Nhưng khi
bạo lực xảy ra những người muốn kêu cứu là 50%; muốn bỏ chạy là 19,08%;
có hành động tự vệ là 6,94%, đáng ngạc nhiên nhất là những phụ nữ cam chịu
bạo lực gia đình lại ở mức 23,98%.
Từ những sồ liệu trên cho ta thấy rõ hơn về bạo lực gia đình đối với
phụ nữ và đang diễn ra rất nhiều chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta phải có
những chính sách ngăn ngừa và phòng chống vấn đề này có hiệu quả nhằm
làm cho cuộc sống của người phụ nữ được đảm bảo để cùng phát triển với sự
phát triển của xã hội.
1.3.6. Nam giới trước bạo lực gia đình
Phụ nữ “ giữ’’ bạo lực gia đình. Điều này nghe có vẻ vô lý nhưng thực
tế đã có nhiều phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia ðình lại chính là thủ phạm
giúp bạo lực tồn tại hết năm này qua năm khác.
Ngày xưa bạo lực gia đình luôn là do nam giới gây ra và nguyên nhân
cũng bắt nguồn từ nam giới, thế nhưng hiện nay nam giới cũng là nạn nhân của
bạo lực gia đình. Nam giới chủ yếu là bị bạo lực tinh thần hơn là thể xác, họ bị
đối xử lạnh nhạt, bị vợ cằn nhằn suốt ngày gây tâm lý mêt mỏi, chán nản
1.3.7. Bình đẳng giới là gì?
đẳng giới ngày càng được quan tâm hơn. Đối tượng phụ nữ ngày càng được
tín nhiệm, đề cử vào các vị trí quan trọng trong xã hội, tuy nhiên trong quan
hệ gia đình nhiều trường hợp phụ nữ, trẻ em vẫn là nạn nhân chính của bạo
lực gia đình tại Quảng Bình nói riêng và Việt Nam nói chung. Qua đó cho
thấy các chính sách để phòng, chống bạo lực gia đình tại Quảng Bình còn
nhiều thiếu sót, công tác dân vận và bộ máy chức trách còn lơ là trong vấn đề
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
16
Báo cáo tốt nghiệp
này. Những vấn đề này xảy ra trước hết là do nhận thức của mỗi người tiếp đó
là do kinh tế khó khăn, Quảng Bình còn nghèo, đời sống còn thấp chính vì
vậy dẫn đến ức chế tâm lý và thường trút giận lên những người thân của mình
Sau đây là một số trường hợp bạo lực gia đình:
Chị Lê Thị M đã gần 7 năm sống trong cảnh bạo lực mà không hề có
một sự phản kháng. Chồng chị, một người đàn ông thuần nông, nát rượu. Hễ
có rượu vào là anh ta tự cho mình “cái quyền” đánh vợ, một tuần dăm ba trận
đòn thâm tím mặt mày, có hôm ra đồng làm việc chị M chân thấp, chân cao vì
trận đòn đêm qua của chồng.
Hay viêc trẻ em bị bạo lực cũng xảy ra như ngày 03/10/2010. Em Trần
Thị Th (15 tuổi ) bị người cha nát rượu dùng rựa chém một nhát vào cổ, theo
lời kể của em thì từ nhỏ đến giờ em thường xuyên bị ba đánh đập.
2.1.2. Tại huyện Quảng Trạch
Bạo lực gia đình là một vấn đề nan giải nó đã và đang có chiều hướng
gia tăng ở mọi nơi, mọi lúc. Và Quảng Trạch là một huyện cũng không thể
tránh khỏi tình trạng bạo lực gia đình và là một trong những huyện có tỷ lệ
bạo lực gia đình nhiều trong tỉnh Quảng Bình.
Hằng năm tại huyện Quảng Trạch có khoảng 25% vụ ly hôn liên quan
tới bạo lực gia đình, nạn nhân của bạo lực gia đình chủ yếu vẫn là phụ nữ và
trẻ em. Theo điều tra cho thấy bạo lực gia đình ở huyện Quảng trạch còn tồn
tại nhiều hình thức và có 23% gia đình có hành vi về bạo lực về thể chất, 25%
Và thực trạng này được thể hiện rõ hơn thông qua kết quả điều tra bằng
mẫu phiếu đánh giá nhận thức của người dân tại địa phương. Qua bảng điều
tra cho thấy nguyên nhân chủ yếu của bạo lực gia đình ở xã Quảng Sơn là do
dùng rượu bia, do nghen tuông và do nhận thức của họ chiếm tỉ lê khá cao.
Bên cạnh đó còn là do nhận thức của của chính bản thân cá nhân nạn nhân bị
bạo lực tại xã là sống im lặng, cam chịu, chấp nhận sống chung cùng bạo lực
gia đình. Chính vì vậy mặc dù xã đã thực hiện tốt công tác phòng chống bạo
lực gia đình trong năm qua và đã đạt được những thành tích đáng kể nhưng
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
18
Báo cáo tốt nghiệp
bạo lực gia đình nó vẫn đang còn tồn tại và gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng. Mặt khác dù bị bạo lực gia đình nhưng những nạn nhân của bạo lực gia
đình và ngay cả người dân nơi cộng đồng vẫn chưa có những biện pháp thiết
thực để khắc phục hiện trạng này. Những điều trên cho thấy bạo lực gia đình
đã và đang lan nhanh vào cuộc sống của gia đình, của người dân tại xã, tuy
nhiên hiện nay chính quyền xã đang ngày càng cố gắng để thực hiện tốt và
triệt để công tác phòng, chống bạo lực gia đình với nhiều mô hình mới, những
biện pháp mới để ngăn ngừa bạo lực gia đình lan nhanh hơn và không còn tồn
tại trên địa bàn xã.
2.2. Nguyên nhân dẫn tới bạo lực gia đình tại xã Quảng Sơn
2.2.1. Nguyên nhân khách quan
2.2.1.1. Tác động của các chất kích thích, của men bia, rươu, của thói trăng hoa
Bia, rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực gia
đình ở xã, khi người đàn ông uống rươu, bia vào mất tự chủ sẽ làm những
việc gây tổn hại cho mọi người mà trước hết là người vợ và con của mình. Họ
đánh đập vợ, con mình không thương tiếc vì khi có men bia, rượu vào họ sẽ
khônng còn lý trí nữa, họ làm tất cả mọi việc và đánh đập tất cả những người
mà họ thấy khi đang say. Bên cạnh đó còn một nguyên nhân khá quan trọng
nữa đó là do người chồng “ chán cơm thèm phở” đây cũng là một nguyên
thì chỉ biết làm việc mà không được nói gì. Chính từ những suy nghĩ về vấn
đề giới và bình đẳng giới còn lạc hậu cho nên người phụ nữ không có quyền
lên tiếng mà chỉ biết thực hiện theo yêu cầu của người đàn ông. Người đàn
ông chỉ ngồi chơi còn người phụ nữ phải làm để nuôi gia đình, phụ nữ làm
nhiều hơn nữa còn đàn ông thì ngược lại. Bạo lực gia đình xuất phát từ những
suy nghĩ lạc hậu trên, người đàn ông cho rằng người phụ nữ muốn làm chủ
khi mà họ lên tiếng và họ thấy mình bị xỉ nhục và họ làm mọi việc để ngăn
SVTH: Đinh Thị Thanh Tuyền
20