Nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay - Pdf 24

I. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ
1. Lịch sử ra đời của BHNT.
1.1. Trên thế giới:
Hình thức BHNT đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân đôn, ngời đợc bảo hiểm
là William Gybbon. Nh vậy, BHNT có phôi thai từ rất sớm, nhng lại không có
điều kiện phát triển ở một số nớc do thiếu cơ sở kỹ thuật ngẫu nhiên, nó giống
nh một trò chơi nên bị nhà thờ giáo hội lên án với lý do lạm dụng cuộc sống con
ngời, nên BHNT phải tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên sau đó
do sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, cuộc sống của con ngời đợc cải thiện rõ rệt,
thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên bảo hiểm
đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng lớn. Hợp đồng BHNT đầu tiên ra
đời ở Philadenphia (Mỹ). Công ty đó đến nay vẫn còn hoạt động nhng ban đầu
nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên ở nhà thờ của mình. Năm 1762, công ty
BHNT Equitable ở Anh đợc thành lập và bán BHNT cho mọi ngời dân.
ở Châu á, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty
bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là
Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến nay.
1.2.Tại Việt Nam
ở nớc ta, Công ty Bảo hiểm Việt Nam trớc đây và Tổng công ty Bảo Hiểm
Việt Nam hiện nay (gọi tắt là BAOVIET) là doanh nghiệp Bảo hiểm đầu tiên
của Nhà nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, BAOVIET đã ra đời ngày
17/12/1964 và bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 15/01/1965. Kể từ đó cho
tới trớc năm 1993, ở nớc ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm là Tổng Công
ty Bảo hiểm Việt Nam (BAOVIET) trực thuộc Bộ Tài chính Trong những
năm gần đây, Đảng và Nhà nớc ta đã thực hiện công cuộc đổi mới về kinh tế,
từng bớc đa nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng có sự quản lý của Nhà nớc, tạo ra tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ
phát triển kinh tế mới, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt
Nam đã nêu rõ : Khuyến khích phát triển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
bảo hiểm cuả các thành phần kinh tế và mở cửa hợp tác với nớc ngoài . Đ-

- Prudential là công ty 100% vốn nớc ngoài của Anh quốc đây là công ty
BHNT đầu t vào Việt Nam có số vốn lớn sau Bảo Việt 40 triệu USD,
khai trơng hoạt động ngày 29/10/1999 và có thời gian hoạt động là 50
năm.
- Bảo Minh - CMG liên doanh giữa tập đoàn CMG (Australia) và Công ty
bảo hiểm TP Hồ Chí Minh (Bảo Minh) khai trơng hoạt động ngày
12/10/1999, vốn đăng ký kinh doanh 6 triệu USD, thời gian hoạt động
30 năm.
- AIA công ty Bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài của Mỹ khai trơng hoạt
động 22/2/2000, vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD, thời gian hoạt
động là 50 năm.
Cho đến 1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức phát huy hiệu
lực tạo ra hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ngành
kinh doanh bảo hiểm trong xã hội Việt Nam.
2. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ (BHNT)
Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông với một số ít trong số họ
phải gánh chịu những rủi ro. Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên đợc ghi
vào lịch sử là năm 1583, ở thị trờng Luân đôn một nhóm ngời đã thoả thuận
góp tiền và số tiền này sẽ đợc trả cho ngời nào trong số họ bị chết trong 1
năm. Đây cũng là mầm mống của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng nh trong hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhng con ngời vẫn có
nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên
nhân, ví dụ nh:
- Các rủi ro do môi trờng thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật.
Khoa học kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản5 xuất và tạo điều kiện
thuận lợi cho cuộc sống con ngời nhng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất
ngờ nh tai nạn ôtô, hàng không , tai nạn lao động
- Các rủi ro do môi trờng xã hội. Đây cũng là một trong những nguyên

thực hiện chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo nguồn đầu t
dài hạn cho sự phát triển kinh tế- xã hội, giảm bớt tình trạng vay vốn nớc
ngoài với lãi suất cao. Theo số liệu của Thời báo kinh tế thì trong năm 2001
doanh thu phí BHNT đạt 2500 tỷ đồng, chiếm 0,55% GDP. BHNT giúp tăng
tích luỹ cho ngân sách nhà nớc, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội nh
vấn đề thất nghiệp, vấn đề giáo dục Hiện nay hầu hết các công ty lớn trên
thế giới đều tham gia BHNT nhằm duy trì hoạt động của công ty, bù đắp phần
thiệt hại do rủi ro trong trờng hợp ngời chủ công ty phải ngừng làm việc do tử
vong hoặc thơng tật toàn bộ vĩnh viễn.
Trong điều kiện kinh tế Việt nam, trải qua hơn 10 năm thực hiện đờng lối
đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng, đất nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng
phấn khởi và có ý nghĩa rất quan trọng. Đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo
dài, tạo ra đợc những cơ sở vật chất thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất nớc,
cho phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội văn minh".
Cùng với tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm từ 8 đến 9% và tốc độ tiêu
dùng thấp hơn tốc độ tăng trởng kinh tế thì tiết kiệm trong dân sẽ không
ngừng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP. Đa số với ngời dân,
ngoài khả năng gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng thì thờng rất ít khả năng để
đầu t những khoản tiền nhàn rỗi. Nh vậy cùng với việc tăng nhanh số lợng và
tỷ lệ tiết kiệm trong dân, nhà nớc cần phải có giải pháp, chính sách và công
cụ để huy động mạnh nguồn vốn trong dân cho đầu t phát triển.
BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính
chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động đợc một lợng vốn
không nhỏ trong dân. Tuy bớc đầu, lợng ngời tham gia bảo hiểm cha lớn, số
hợp đồng tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng cha nhiều, nhng đã mở ra
thêm cho ngời dân một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát
triển nguồn vốn, tăng đầu t cho đất nớc.
3. Vai trò của BHNT
3.1. BHNT đối với nền kinh tế

nh tổ chức. Ngày nay khi BHNT ra đời, ngời tham gia đã có thể tự bảo vệ cho
mình, chủ động đối phó với các rủi ro đồng thời tạo ra một khoản tiết kiệm
(không may rủi ro xảy ra, bên cạnh các chế độ bảo hiểm y tế, BHXH ngời lao
động còn đợc hởng quyền lợi từ BHNT nếu họ tham gia). Bên cạnh đó, tham
gia bảo hiểm hu trí tụ nguyện ngời lao động còn đợc hởng khoản trợ cấp hu
trí, tụ lo đợc cho bản thân giảm gánh nặng cho gia đình cũng nh xã hội.
Thứ ba: BHNT là công cụ thu hút vốn đầu t hữu hiệu.
Phí trong BHNT khá lớn, nhờ vào những đặc trng cũng nh quyền lợi to lớn khi
tham gia BHNT mà ngày nay ngời ta ngày càng quan tâm đến BHNT, từ đó
mà lợng vốn đợc huy động từ dân chúng đợc tăng lên. Việt Nam đang trong
thời kỳ đổi mới Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc để phục vụ cho sự
phát triển kinh tế phảI có một lợng vốn đầu t rất lớn. Chính vì nhận thức đợc
tầm quan trọng của BHNT nên tuy mới ra đời đợc 5 năm nhng Nhà nớc ta đã
liên tục có những chính sách để tạo điều kiện cho BHNTngày một phát triển
mà bớc tiến quan trọng là sự cho phép các công ty BHNT nớc ngoài tham gia
vào thị trờng BHNT Việt Nam và sự ra đời của Luật Bảo hiểm ngày
7/12/2000. Đây là một trong các biện pháp của Nhà nớc nhằm tạo ra các
nguồn vốn dồi dào cho đầu t phát triển Đất nớc với chủ trơng là chủ yếu dựa
vào nguồn nội lực và tranh thủ nguồn ngoại lực, chúng ta có quyền hy vọng
thông qua BHNT có thể trong thời gian tới dần dần sẽ thu hút đợc nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân c vì lợng tiền này đợc dự kiến sẽ lên tới hơn 10 tỷ (đợc dự
trữ dới dạng ngoại tệ cũng nh vàng). Ngoài ra, khi các công ty BHNT nớc
ngoài tham gia vào thị trờng BH Việt Nam nguồn vốn do họ đầu t vào cũng sẽ
rất lớn. Thêm vào đó, do đặc điểm của BHNT là mang tính dài hạn, nguồn vốn
huy động đợc có thể đem đầu t trong một thời gian dài đây là đựoc coi là
nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.
Thứ t: BHNT tạo ra một số lợng lớn công ăn việc làm cho ngời lao
động.
Với dân số gần 80 triệu lại là dân số trẻ, hàng năm riêng số lợng sinh
viên ra trờng cũng là cả một thách thức đối với xã hội, việc làm luôn là vấn đề

về con ngời là vô cùng quan trọng, thực hiện BHNT chính là thực hiện chiến l-
ợc phát triển toàn diện con ngời của Đảng và Nhà nớc.
Có thể nói, BHNT đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết một số vấn đề
xã hội nh giáo dục, xoá đói giảm nghèo, giảm thất nghiệp bù đắp tổn thất, bất
hạnh trong cuộc sống, góp phần giảm gánh nặng trách nhiệm xã hội đối với
ngời lao động, ngời cao tuổi
3.2. BHNT trong lĩnh vực bảo hiểm
3.2.1. BHNT là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất
Bảo hiểm thơng mại trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 500 năm.
Bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc số đông bù số ít đó là sự chia sẻ rủi ro
giữa một số đông và một vài ngời trong số họ chẳng may gặp phải rủi ro. Bảo
hiểm ra đời là một biện pháp hữu hiệu để xử lý các rủi ro tồn tại khách quan.
Tham gia bảo hiểm đang ngày càng trở thành một tác nghiệp không thể thiếu
đợc đối với các chủ doanh nghiệp, một thói quen tốt trong dân chúng.
Ban đầu bảo hiểm chỉ dừng lại ở một số hình thúc nh bảo hiểm hoả
hoạn, bảo hiểm hàng hải Đến nay, bảo hiểm đã phát triển rất mạnh mẽ với
những loại hình bảo hiểm hết sức phong phú và đa dạng. Một trong các loại
hình bảo hiểm ra đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển 400 năm, nó đang
ngày càng chứng tỏ vị thế của mình trong thị trờng bảo hiểm nói chung.
3.2.2 BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng
không thể thiếu đợc trên thị trờng BH.
Thực tế cho thấy tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới
không ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu của các
nghiệp vụ BH. Tuy nhiên tốc độ phát triển của BHNT rất không đồng đều.
Nếu nh ở châu Mỹ Latinh phí BH từ hoạt động kinh doanh BHNT rất thấp, chỉ
chiếm khoảng 21,4% thì ở châu âu phí BHNT đạt tỉ lệ cân đối trong khoảng
từ 41,8% - 49,3% còn tỉ lệ phí BHNT ở châu Đại đơng chiếm 52,3% trong
toàn bộ doanh thu phí nghiệp vụ BH.
Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng ta cũng
phải thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan

hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn khi ng-
ời tham gia bảo hiểm gặp những khó khăn về mặt tài chính, thủ tục cho vay đ-
ợc công ty bảo hiểm giải quyết rất nhanh gọn không nh đi vay vốn ngân hàng
hơn nữa số tiền cho vay này có thể trả hay không trả lại cho công ty BH (tất
nhiên số tiền cho vay đợc giới hạn theo quy định trong hợp đồng bảo hiểm).
Chính vì đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau mà BHNT đang có thị
trờng ngày càng rộng rãi và đợc nhiều ngời quan tâm.
4.3 Các hợp đồng trong BHNT rất đa dạng
Tính đa dạng của các hợp đồng BHNT xuất phát từ mục đích của ngời
tham gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Mỗi sản phẩm
của công ty thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tợng tham gia khác nhau,
cho nên bất cứ ai cũng có thể tham gia bảo hiểm và có đợc sản phẩm phù hợp
với mục đích của bản thân khi tham gia bảo hiểm.
4.4.Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình
định phí khá phức tạp.
Để đa đợc sản phẩm BHNT đến với ngời tiêu dùng, ngời BH đã phải bỏ
ra rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác, chi phí
quản lý hợp đồng Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu
tạo nên phí BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:
+ Độ tuổi của ngời tham gia bảo hiểm
+ Tuổi thọ bình quân của con ngời
+ Số tiền bảo hiểm
+ Thời hạn tham gia bảo hiểm
+ Phơng thức thanh toán
+ Lãi suất đầu t
+ Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền

Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng
vùng địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của
mỗi nớc khác nhau là khác nhau. Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trng cơ bản

5. Các loại hình BHNT
Nh trên đã nêu, BHNT là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế - xã
hội sâu sắc. Trong đó, ngời tham gia bảo hiểm sẽ định kì đóng những khoản
phí trong một thời gian thoả thuận trớc vào một quỹ lớn do công ty bảo hiểm
quản lí và công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền nh đã thoả
thuận trong hợp đồng khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi ro
xảy ra cho ngời đợc bảo hiểm. Do đó BHNT đợc hiểu nh một sự đảm bảo, một
hình thức tiết kiệm và mang tính chất tơng hỗ. BHNT trên một phơng diện nào
đó còn mang tính chất bổ sung cho bảo hiểm xã hội (BHXH) khi đời sống của
nhân dân đọc nâng cao mà chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) cha đáp ứng hết
đợc.
BHNT đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau của con ngời tuỳ theo
mục đích của ngời tham gia là gì. Trong thực tế để phân loại bảo hiểm ngời ta
chia ra các hình thức cơ bản sau:
5.1. Phân loại theo rủi ro bảo hiểm
Có 3 loại hình BHNT cơ bản, sản phẩm của các công ty bảo hiểm đều xuất
phát từ 3 loại này.
5.1.1. Bảo hiểm tử kỳ
Còn gọi là BH tạm thời hay BH sinh mạng có thời hạn. Đây là loại hình
BH đợc kỳ kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của
hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngời đợc BH
không nhận đợc bất kỳ một khoản tiền nào. Điều đó cũng có nghĩa là ngời BH
không phải thanh toán số tiền BH cho ngời đợc BH. Ngựoc lại, nếu có cái chết
xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, ngời BH có trách nhiệm thanh
toán số tiền BH cho ngời thụ hởng quyền lợi BH đợc chỉ định. Loại hình BH
này đợc đa dạng hoá thành các loại hình sau:
+Bảo hiểm tử kỳ cố định
+ Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục
+ Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi
+ Bảo hiểm tử kỳ giảm dần

Bảo hiểm trọn đời là loại hình BHNT mà thời gian bảo hiểm không xác
định và số tiền bảo hiểm đợc chi trả cho ngời thừa kế khi ngời đợc bảo hiểm
chết. Ngoài ra trong một số trờng hợp, loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo
chi trả cho ngời đợc bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99 tuổi (nh Prudential).
Loại hình này thơng có các loại hợp đồng sau:
+ Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận
+ BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhận
+ BHNT trọn đời đóng phí liên tục
+ BHNT trọn đời đóng phí một lần
+ BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí
Đặc điểm:
- STBH trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm bị chết
- Thời hạn BH không xác định
- Phí BH có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay đổi trong
suốt quá trình bảo hiểm
- Phí BH cao hơn so với sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc chắn
xảy ra nên STBH chắc chắn phải chi trả
Mục đích:
- Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình
- 0iữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau
5.1.4. BHNT hỗn hợp.
BHNT hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảo
hiểm sẽ đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạn hợp
đồng và thời hạn bảo hiểm đợc xác định trớc, trong đó bảo tức trả khi đáo hạn
hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại do đầu t phí bảo hiểm mà ngời
đợc bảo hiểm chọn.
Tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính khác nhau của bản thân,
mỗi ngời đều có thể lựa chọn cho mình một sản phẩm BHNT sao cho phù hợp
với mục đích của mình. Trong BHNT hỗn hợp này yếu tố rủi ro và tiết kiệm
đan xen nhau vì thế nó đợc áp dụng rộng rãi hầu hết ở các nớc trên thế giới.

năm, hết 1 năm lại tái tục hợp đồng ví dụ nh: Trợ cấp nằm viện, chi phí phẫu
thuật, bảo hiểm thơng tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn
III. Chơng trình An Sinh Giáo Dục trong BHNT
1. Vai trò của an sinh giáo dục đối với xã hội, đối với ngời tham
gia
2. Sự phát triển của chơng trình an sinh giáo dục
2.1.Bảo hiểm cho trẻ em trên thế giới
Trên thế giới bảo hiểm cho trẻ em xuất phát từ những nhu cầu thực tế là
cha mẹ muốn đảm bảo cho con cái về mặt tài chính khi có rủi ro về thu nhập
xảy ra với bản thân họ. Việc thanh toán học phí có thể thực hiện trong khi bố
mẹ đang có thu nhập đủ để trả cho các chi phí này. Khó khăn phát sinh nếu
khoản thu nhập chính bị đánh mất hoặc bị giảm do cha hoặc mẹ bị thơng tật
toàn bộ vĩnh viễn hoặc chết. Có nhiều cách để cha mẹ có thể đảm bảo thanh
toán học phí ngay cảc trong trờng hợp họ chết sớm. Bảo hiểm nhân thọ hỗn
hợp có thể thu xếp đợc điều đó, số tiền bảo hiểm đợc thanh toán nhiều lần
hoặc một lần. Đơn bảo hiểm dựa trên sinh mạng của cha mẹ chứ không đợc ký
do khả năng tự bảo vệ của trẻ em là rất ít.
Tuy đợc ký do cha mẹ nhng cha mẹ không có quyền lợi bảo hiểm đối
với sinh mạng con cái họ. Bất cứ bảo hiểm nhân thọ nào vì lợi ích trẻ em đều
hoàn phí trong trờng hợp chết sớm xảy ra. Đây đợc gọi là bảo hiểm trả chậm,
bảo hiểm của trẻ em thờng đợc ký kết đựa vào cuộc sống của bố mẹ chúng và
cho phép đứa trẻ lựa chọn khi đứa trẻ đạt độ tuổi xác định trớc (ví dụ ở tuổi
18).
Nếu cha mẹ chết trớc khi con cái đến tuổi trởng thành, hợp đồng bảo
hiểm vẫn tiếp tục mà không phải đóng thêm phí cho đến ngày hợp đồng đáo
hạn. Vào ngày kỷ niệm hợp đồng trớc ngày sinh nhật lần thứ 18 sẽ có nhiều sự
lựa xhọn khác nhau cho đứa trẻ. Những dsự lựa xhọn này bao gồm việc thanh
toán ngay toàn bộ số tiền hoặc đơn bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực trên cơ sở
bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp. Không cần bằng chứng về sức khoẻ. Nếu đứa trẻ
là nữ thì có quyền lựa chọn việc chuyển hợp đồng cho ngời chồng trớc khi kết

nghiệp vụ này vào ngày kết thúc hợp đồng đợc gọi là bảo tức.
-Trong thời hạn bảo hiểm khi hợp đồng có hiệu lực từ 2 năm trở lên, ng-
ời tham gia bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng và nhận đợc một số tiền gọi là
giá trị giải ớc.
Từ lúc Bảo Việt nhân thọ bắt đầu triển khai sản phẩm thì một trong hai
sản phẩm đầu tiên đợc Bảo Việt sử dụng có một sản phẩm dành riêng cho đối
tợng trẻ em. Điều này cũng dựa trên phận nào phong tục tập quán của ngời
dân Việt Nam là trẻ em bao giờ cũng là đợc u ái nhất trong gia đình cũng nh
trong xã hội, gia đình luôn giành cho con cái những gì quý giá nhất cũng nh
mong muốn con em mình có một nền tảng vững chắc sau này. Sản phẩm An
sinh giáo dục ra đời đã đáp ứng đợc mong muốn đó, cha mẹ, ông bà vừa đợc
thể hiện tình thơng yêu đối với con cái vừa tạo cho con cái hành trang để vững
bớc vào đời. Bắt nguồn từ đức tính tốt đẹp này của ngời dân Việt Nam Bảo
Việt nhân thọ đã đa ra loại hình bảo hiểm An sinh giáo dục và đây cùng là thể
hiện sự quan tâm của xã hội đối với ngời dân.
Nh đã nói ở trên loại hình bảo hiểm này thuộc nhóm BHNT hỗn hợp
nên thể hiện rất rõ nét tính kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm vì thế nên ngời
tham gia lại càng thấy đợc tính tiện lợi khi tham gia Bảo hiểm. Hơn nữa, ngời
ta nói Bảo hiểm mang tính xã hội và nhân văn rất lớn điều đó đợc thể hiện ở
tính chất của sản phẩm An sinh giáo dục là khi chẳng may có rủi ro xảy ra đối
với bậc cha mẹ chủ hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng sẽ đợc miễn phí cho đến
khi đáo hạn và quyền lợi bảo hiểm dành cho em bé đó vẫn không hề thay đổi.
Có lẽ vậy cho nên các bậc cha mẹ tham gia cho con cái của mình rất nhiều vừa
thể hiện đợc tình thơng yêu đối với con cái, vừa đảm bảo cho con một tơng lai
vững chắc về mặt tài chính khi có rủi ro xảy ra đối với bản thân, vừa mang
tính tiết kiệm. Hội tụ đủ các yếu tố trên cho thấy quyền lợi của ngời tham gia
bảo hiểm là rất lớn cả cho ngời chủ hợp đồng lẫn ngời đợc bảo hiểm. Vì thế
sản phẩm An sinh giáo dục luôn là sản phẩm đợc bán nhiều nhất trong các
công ty bảo hiểm.
Cho đến nay, Qua 5 năm hoạt động bảo Việt đã triển khai thêm nhiều

duy nhất và trực tiếp của một lực mạnh, bất ngờ từ bên ngoài tác động lên thân
thể ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời tham gia bảo hiểm, loại trừ ốm đau hoặc
bệnh tật hoặc bất kì trạng thái nào xảy ra tự nhiên hoặc quá trình thoái hoá.
Nh vậy những thơng tật xảy ra do ngộ độc thức ăn, cảm, trúng gió bất ngờ đối
với ngời bảo hiểm nhng không đợc coi là tai nạn bảo hiểm.
Thơng tật toàn bộ vĩnh viễn:
Là khi ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời tham gia bảo hiểm bị mất hoàn
toàn hoặc không thể phục hồi đợc chức năng của:
- Hai tay hoặc hai chân hoặc . . .
- Một tay, một chân hoặc hai mắt hoặc . . .
- Một tay, một mắt hoặc . . .
- Một chân, một mắt hoặc . . .
Giá trị giải ớc (hay giá trị hoàn lại):
Là số tiền mà ngời tham gia bảo hiểm có thể nhận lại khi yêu cầu huỷ
bỏ hợp đồng trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực.
Hợp đồng bảo hiểm có giá trị giải ớc khi có hiệu lực từ 2 năm trở lên.
Giá trị giải ớc ứng với mỗi năm hợp đồng vào ngày sinh nhật của hợp đồng
bảo hiểm (là ngày kỉ niệm hàng năm của hợp đồng bảo hiểm bắt đầu có hiệu
lực trong thời hạn bảo hiểm).
Giá trị giải ớc luôn nhỏ hơn tổng số phí mà ngời tham gia bảo hiểm đã
đóng góp với công ty bảo hiểm, nó chiếm khoảng 70 đến 80 % số phí bảo
hiểm đã đóng, vì ngời tham gia bảo hiểm phải thanh toán cho công ty những
khoản chi phí đã thực hiện hợp đồng nh chi phí phát hành và quản lí hợp đồng,
chi phí khai thác Tỷ lệ giải ớc trên số phí đã đóng càng cao thì càng thu hút,
hấp dẫn đối với khách hàng và do đó cũng là nhân tố tác động đến quyết định
tham gia BHNT hay không.
Số tiền bảo hiểm giảm:
Khi hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên. Ngời tham gia
bảo hiểm có thể ngừng đóng phí và tiếp tục duy trì hợp đồng bảo hiểm này với
số tiền bảo hiểm mới gọi là số tiền bảo hiểm bị giảm.

trong hợp đồng.
- Trách nhiệm khai báo rủi ro: Ngay khi kí hợp đồng bảo hiểm, ngời
tham gia bảo hiểm có trách nhiệm kê khai trung thực những yêu cầu của công
ty bảo hiểm (kê khai tình trạng sức khoẻ).
- Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm: đây là số tiền mà họ phải đóng cho
công ty bảo hiểm, theo quy định nộp phí của công ty khoản phí đóng đầu tiên
sẽ là cơ sở thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng. Ngời tham gia baỏ
hiểm phải đóng đầy đủ phí theo quy định và đúng hạn.
- Trách nhiệm khai báo, thông báo tổn thất: khi có sự cố rủi ro xảy ra,
ngời tham gia bảo hiểm phải khai báo cụ thể tình hình xảy ra sự cố tổn thất,
tình trạng sức khoẻ của ngời đợc bảo hiểm cho công ty bảo hiểm biết. Bên
cạnh đó phải cung cấp đầy đủ hồ sơ cho công ty một cách trung thực, chính
xác để công ty căn cứ trả tiền bảo hiểm. Tạo điều kiện để công ty giám định
tình trạng sức khoẻ.
* Trách nhiệm của công ty bảo hiểm:
- Kí kết hợp đồng chấp nhận ngời tham gia để hình thành quỹ bảo hiểm.
- Đề phòng, hạn chế tổn thất xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu
lực.
- Thu phí và có trách nhiệm nộp cho ngân sách Nhà nớc một khoản tiền
gọi là thuế nh đối với các doanh nghiệp khác.
- Bảo toàn đồng vốn và chấp hành đúng pháp luật.
3.2.2 . Quyền lợi bảo hiểm
- Đến năm ngời đợc bảo hiểm tròn 18 tuổi, khi hợp đồng bảo hiểm hết
hạn, công ty BHNT sẽ trả cho ngời đợc bảo hiểm số tiền bảo hiểm đã cam kết
và đợc ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
- Trờng hợp ngòi đợc bảo hiểm bị chết trớc ngày hợp đồng bảo hiểm hết
hạn, công ty BHNT sẽ hoàn trả 100% số phí đã nộp vì khi ngời tham gia
BHNT kí kết hợp đồng với mục đích là đảm bảo cho con em mình tới tuổi tr-
ởng thành. Do vậy khi ngời đợc bảo hiểm gặp rủi ro bị chết thì ý nghĩa của ch-
ơng trình này không còn nữa, nên chỉ hoàn trả 100% số phí đã nộp.

Ngoài các quyền lợi nói trên và khi hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực
từ 2 năm trở lên, công ty bảo hiểm còn có thể trả một khoản tiền lãi từ kết quả
đầu t phí BHNT của công ty cho ngời tham gia bảo hiểm vào ngày kỉ niệm của
hợp đồng bảo hiểm hoặc khi thanh toán giá trị giải ớc hoặc vào ngày thanh
toán tiền bảo hiểm trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị chết và trả cho ngời
đợc bảo hiểm vào ngày đáo hạn của hợp đồng.
3.3. Thủ tục bảo hiểm
1. Khi yêu cầu bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm phải điền đầy đủ,
trung thực vào giấy yêu cầu bảo hiểm, xuất trình giấy khai sinh của ngời đợc
bảo hiểm và giấy khai sinh hoặc chứng minh th hay hộ khẩu của ngời tham
gia bảo hiểm cho công ty BHNT.
2. Khi hợp đồng đã có hiệu lực từ 2 năm trở lên, ngời tham gia bảo
hiểm không tiếp tục nộp phí bảo hiểm nhng vẫn muốn duy trì hợp đồng thì
phải thông báo bằng văn bản cho công ty BHNT trớc kỳ nộp phí tiếp theo 15
ngày, và công ty BHNT sẽ thông báo bằng văn bản cho ngời tham gia bảo
hiểm biết về số tiền bảo hiểm giảm tại thời điểm dừng đóng phí trong vòng 15
ngày kể từ ngày nhận đợc thông báo của ngời tham gia bảo hiểm.
3. Trong thời gian 14 ngày kể từ ngày nộp phí bảo hiểm đầu tiên, ngời
tham gia BH có quyền từ chối không tiếp tực tham gia bảo hiểm. Trong trờng
hợp này ngời tham gia bảo hiểm đợc nhận 100% số phí đã nộp.
4. Huỷ bỏ và thay đổi hợp đồng bảo hiểm:
a) Trong trờng hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực công ty BHNT
không có quyền huỷ bỏ hay thay đổi các điều khoản, điều kiện của hợp đồng
này trừ khi đã có thoả thuận khác nhau giữa công ty BHNT và ngời tham gia
bảo hiểm.
b) Trờng hợp ngời tham gia bảo hiểm có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo
hiểm
- Khi hợp đồng có hiệu lực cha đủ hai năm, công ty BHNT không hoàn
trả lại số phí đã nộp cho ngời tham gia bảo hiểm.
- Khi hợp đồng có hiệu lực từ hai năm trở lên, công ty BHNT sẽ thanh

giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Trách nhiệm của ngời đợc bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng bằng
trách nhiệm của công ty bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng
Phí bảo hiểm gồm hai phần: phí thuần và phụ phí.
+ Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho ngời đợc bảo hiểm.
+ Phụ phí gồm:
- Chi phí khai thác chi cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới, chi cho
đại lý
- Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể cả
chi phí thu phí BH
- Chi phí quản lý liên quan đến các khoản chi trả bồi thờng.
3.4.3.Cách xác định phí:
a. Phí thuần:
Có rất nhiều yếu tố tác động lên phí nhng cơ bản vẫn là:
- Tuổi thọ của ngời đợc bảo hiểm cụ thể là bảng tỉ lệ tử vong.
- Lãi suất kỹ thuật: lãi xuất tiền gửi tính trong cơ sở tính phí.
Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động nh thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo
hiểm, cách thức nộp phí, tỉ lệ huỷ bỏ hợp đồng trớc thời hạn.
Qua bảng tỉ lệ tử vong ta có thể đa ra số lợng những ngời còn sống (lx+n) ở
lứa tuổi x sau n năm. Từ đây có thể tính đợc xác suất sống và xác suất tử vong
của một ngời ở độ tuổi x sau n năm.
Tuổi
(x)
Số ngời sống
(lx)
Số ngời chết
(dx)
Tỷ lệ chết
(1000.qx)
Lãi suất kỹ thuật: nhà bảo hiểm phải có trách nhiệm đầu t các khoản phí để đ-

=
+
+
=
1
0
2/1
2
n
k
kv
vkP
lx
kdx
P
+ Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi ngời đợc bảo hiểm bị thơng
tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn:


=
+
+=
1
0
3
)(
4
n
k
k

Mức phí không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng bảo hiểm, ngời
tham gia bảo hiểm có thể nộp theo tháng, quý, năm hoặc theo 2 kì trong năm.
công thức tính phí nộp mỗi kì (F) theo phí tháng nh sau:
Nếu nộp phí theo quý thì số phí nộp mỗi kỳ đợc tính bằng
F
quí
= F
tháng
* 3*0,98
(so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo quý giảm 2 %)
Nếu nộp phí hai kỳ trong năm thì số phí nộp mỗi kỳ đợc tính bằng
F
2 kì
= F
tháng
* 6 * 0,96
( so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo hai kỳ trong năm
giảm 4 %)
Nếu nộp phí theo năm thì số phí nộp mỗi kỳ đợc tính bằng
F
năm
= F
tháng
* 12 * 0,92
( so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo năm giảm 8 %)
Phí bảo hiểm cho các mức số trên bảo hiểm đợc tính theo tỉ lệ sau:
+ Với các mức số tiền bảo hiểm từ 5 triệu đến 30 triệuVNĐ- tính bằng 100%
tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.
+ Với các mức số tiền bảo hiểm từ 31 triệu đến 40 triệuVNĐ- tính bằng 98%
tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status