DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
BLHS : Bộ luật hình sự
HĐXX : Hội đồng xét xử
TAND : Tòa án nhân dân
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 3
5. Những đóng góp khoa học của đề tài 3
6. Kết cấu của đề tài 4
B. PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH 5
1.1. Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý nghĩa của thi hành hình
phạt tử hình: 5
1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt tử hình: 5
1.1.2. Ý nghĩa của thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.2. Nguyên tắc thi hành án tử hình: 7
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định thi hành án tử hình: 10
1.3.1. Trên thế giới 10
1.3.2. Ở Việt Nam 14
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ TỪ NĂM 2009 - 6/2014 18
2.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thi hành án tử hình . 18
2.2. Tình hình áp dụng thi hành án tử hình tại tỉnh Quảng Trị : 21
2.2.1. Đặc điểm tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị 21
đạo xã hội chủ nghĩa.
Trước yêu cầu trên, pháp luật về thi hành án tử hình đã không ngừng
thay đổi và hoàn thiện nhằm bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng và phù hợp
với mục đích răn đe, giáo dục của hình phạt này. Tử hình được coi là hình
phạt nghiêm khắc nhất do nhà nước áp dụng đối với người phạm tội để loại
trừ người đó ra khỏi đời sống xã hội. Điều này cho thấy, hình phạt tử hình
không chỉ đơn thuần là một chế định pháp luật hình sự mà còn là một phạm
trù thuộc về chính trị, văn hóa, đạo đức, tâm linh. Các quy định của pháp luật
về hình phạt tử hình nói chung và thi hành hình phạt này nói riêng phải chứa
đựng các giá trị xã hội, trong đó có giá trị nhân đạo. Chính vì vậy, nghiên cứu
chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam là rất
cần thiết để bảo vệ có hiệu quả các lợi ích xã hội, song phải đặt trong mối
quan hệ lợi ích với người bị kết án nhằm đảm bảo tính khoan hồng của pháp
luật Hình sự nước ta.
Hơn nữa, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình cũng đặt ra nhiều vấn đề
vướng mắc đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự giải quyết như: Đối tượng bị
áp dụng hình phạt tử hình, vấn đề ân giảm án tử hình, việc gia đình người bị
1
kết án xin xác về mai táng…Trong khi đó, xét về mặt lí luận, chế định thi
hành hình phạt tử hình chưa được quan tâm thỏa đáng, và xung quanh chế
định này còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ TỪ NĂM 2008 -
6/2014” là mang tính cấp thiết, không những về lí luận, mà còn đòi hỏi về
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình không chỉ tỉnh
Quảng Trị nói riêng mà còn cả các địa phương khác trên cả nước.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
• Hiểu rõ hơn về hình phạt tử hình cũng như các biện pháp thi hành
hình phạt tử hình của Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung;
• Tìm hiểu và biết rõ hơn về việc áp dụng và thi hành hình phạt này
• Phương pháp so sánh, chứng minh;
• Tham khảo tài liệu, sách báo, tạp chí…
• Ngoài ra, còn sử dụng những phương pháp cần thiết khác.
5. Những đóng góp khoa học của đề tài
• Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình
• Phân tích làm rõ thực trạng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng ở nước ta
• Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình với những quy định tương ứng trong
pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị
hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự
• Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu qủa việc áp dụng các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
3
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết
luận thì nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về thi hành án tử hình
Chương II: Pháp luật hiện hành về thi hành án tử hình và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Quảng Trị từ năm 2008 – 6/2014
Chương III: Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật và hệ thống các giải pháp
nâng cao hiệu quả pháp luật về thi hành án tử hình
4
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH
1.1. Khái niệm, các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý nghĩa của
thi hành hình phạt tử hình:
1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt tử hình:
Trước hết, để có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tử hình cần
phải làm rõ khái niệm hình phạt tử hình. Trong hệ thống hình phạt trong luật
việc thi hành án tử hình. Đây là đặc điểm chúng ta cần lưu ý khi thực hiện
công tác tư tưởng đối với người thân của người bị kết án cũng như đối với cán
bộ chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ cướp đi sinh mạng của người bị kết án.
1.1.2. Ý nghĩa của thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam
Thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988 và được quy định tiếp trong Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh
dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta. Việc
nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt tử hình trong thực
tiễn là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nhằm thi hành hình phạt tử hình
đúng người, không để xảy ra oan, sai trong lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm này.
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nói
chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng, đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc bảo đảm hiệu quả đạt được của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự.
Vì vậy, việc quy định chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng
hình sự góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn,
vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tài sản của công dân. Những hành vi vi phạm pháp luật về thi hành
hình phạt tử hình không những xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan
6
bảo vệ pháp luật, xâm hại quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân,
mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự
quản lý của Nhà nước. Do vậy, việc quy định một cách chặt chẽ chế định thi
hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự thể hiện sự tôn trọng quyền
con người của Nhà nước ta, bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội trong
hoạt động thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng.
Việc quy định trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong luật tố
tụng hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa
tổ chức chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thi hành án, công bố các
quyết định có liên quan đến việc thi hành án tử hình, quyết định thời gian, địa
điểm, hình thức táng, những cơ quan, tổ chức, người cần huy động, những nội
dung cần giữ bí mật, thống nhất kế hoạch thực hiện và phân công trách nhiệm
cho từng thành viên Hội đồng. Các cuộc họp của Hội đồng thi hành án phải
được lập biên bản, lưu hồ sơ thi hành án tử hình. Hồ sơ thi hành án tử hình do
cơ quan Công an, Quân đội có thẩm quyền quản lý.
Trước khi thực hiện việc thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải
kiểm tra căn cước của người sẽ bị tử hình. Nếu người bị kết án từ hình phụ nữ
thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành
án tử hình theo quy định tại Bộ luật hình sự. Theo đó, không thi hành tử hình
đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong
trường hợp này án tử hình chuyển thành tù chung thân.
Việc thực hiện thi hành án tử hình gồm các bước và theo trình tự như sau:
1.Áp giải người sẽ bị tử hình đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành
án tử hình.
2.Lăn tay, kiểm tra căn cước, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan
(chụp ảnh việc đang làm thủ tục lăn tay, kiểm tra căn cước và lập biên bản)
3.Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án
và giao cho người sẽ bị tử hình đọc các văn bản sau (Nếu người bị thi hành án
tử hình không biết chữ, không biết tiếng Việt thì Hội đồng thi hành án tử hình
chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe) :
8
- Quyết định thi hành án tử hình.
- Quyết định không kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
- Quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước ( nếu trước đó
người bị thi hành án có đơn xin ân giảm án tử hình).
4.Cho người sẽ bị đưa ra tử hình ăn, uống, viết thư hoặc ghi âm lời nói
hợp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia.
GS.TS người Nga A.Ph. Kixthiacopxki đã dày công nghiên cứu về những
hình thức thi hành hình phạt tử hình trong lịch sử và đưa ra 21 hình thức thi
hành hình phạt này chủ yếu đã được loài người áp dụng như sau:
• Treo cổ
• Chặt đầu
• Đun trong vạc dầu
• Dùng bánh xe cán chết
• Xé xác người bị kết án thành những mảnh nhỏ
• Lột da cho đến chết
• Chôn sống
• Bóp cổ hoặc làm cho chết ngạt trong bao tải
• Thiêu chết
• Mổ bụng, moi ruột
• Cho ngồi lên cọc nhọn hoặc dùng cọc nhọn đâm thủng người
• Đốt cổ họng bằng chì đun sôi
• Đẩy người bị kết án từ đỉnh núi xuống vực
• Thắt cổ
• Voi dày, ngựa xéo
• Quăng cho hổ báo ăn thịt
• Dùng đá ném cho đến chết
• Cho chết đói chết khát
• Đầu độc chết
• Dùng gậy đánh chết
• Xử bắn
Từ sự thống kê này, A.Ph. Kixthiacopxki đã chia hình thức thi hành
hình phạt tử hình thành hai loại: loại hình thức thi hành hình phạt tử hình bình
10
thường (treo cổ, xử bắn…) và loại hình thức thi hành hình phạt tử hình đặc
biệt ngoài việc tước sự sống của người bị kết án, còn có mục đích làm đau
than thể người bị kết án, lần đầu được thực hiện vào năm 1888 tại New York,
Hoa Kỳ. Trước khi hành hình 4 tuần lễ người bị kết án được chuyển đến khu
giam giữ đặc biệt, được viết nguyện vọng về nơi chôn cất và tài sản thừa kế.
Người ta thử 3 lần ghế điện, chuẩn bị dung dich Amoniac dung làm chat cách
điện, thấm vào một cái đệm để áp vào đầu người bị kết án (bị cạo trọc), chân
phải người đó được bôi chất dẫn điện. Người bị kết án bị buộc vào ghế điện.
Hai cực điện đặt vào đầu, chân phải người bị kết án và vòng điện mạnh 2500
vôn được đóng. Việc cắm điện làm người bị kết án ngất ngay lập tức nhưng
cái chết chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định, trong một số trường hợp
phải sau từ 10-15 phút người bị kết án mới chết.
6.Dùng hơi ngạt
Đây là hình thức thi hành hình phat tử hình áp dụng từ những năm 30
thế kỉ 20. Người bị kết án được buộc vào một chiếc ghế trong một phòng
được thiết kế hoàn toàn bằn thép, ở ngực người bị kết án, người ta gắn một
ống nghe của bác sĩ và dây cao su dẫn tới phòng bên để bác sĩ theo dõi nhịp
tim của bị án. Dưới ghế ngồi của bị án được đặt 16 viên thuốc độc (Xianua).
Khi cánh cửa thép được đóng lại, người ta cho chạy thiết bị làm những viên
thuốc độc được hòa vào dung dịch axít, thuốc độc bốc thành khói, làm ngạt
thở người bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng đập. Hình thức này bị coi là
phức tạp và khá tốn kém.
7.Tiêm thuốc độc
Đây là hình thức thi hành hình phat tử hình, trong đó người bị kết án bị
buộc vào một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc độc
vào bắp thịt. Năm 1888 tại tiểu bang New York, Hoa Kỳ, các bác sĩ đã áp
dụng biện pháp tiêm thuốc độc để thi hành hình phạt tử hình phạm nhân
Julius Mount Bleyer vì cho rằng chi phí rẻ hơn cách treo cổ tử tội. Tuy nhiên
mãi đến những năm 1949-1953, Hội đồng Hoàng gia Anh về án tử hình (The
12
British Royal Commission on Capital Punishment) mới quyết định áp dụng
rộng rãi biện pháp này. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền phát
phòng ngừa tội phạm cao hơn trong xã hội.
Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch máu, người bị kết án sẽ bị chết
trong khoảng thời gian từ 10 đến 15 phút. Tuy nhiên đã xảy ra một số trường
hợp người bị kết án không chết ngay do dụng cụ truyền chất độc trượt khỏi
mạch máu hoặc thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế. Hình thức tử hình này
được coi là nhân đạo và tiết kiệm hơn cả, trên thế giới, trong số gần 80 nước
đang áp dụng án tử hình, có hơn 30 nước áp dụng hình thức tiêm thuốc độc để
thi hành hình phạt tử hình, một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã áp dụng biện
pháp tiêm thuốc độc như Guatemala năm 1998, Philippines năm 1999 (tuy
nhiên gần đây Philippines đã bãi bỏ án tử hình nên dĩ nhiên biện pháp này
cũng bị hủy bỏ), Thái Lan năm 2003, Đài Loan năm 2005, Việt Nam và các
nước khác trên thế giới
1.3.2. Ở Việt Nam
Trước năm 1945:
Thời kì này nước ta tồn tại chế độ phong kiến, và cũng như những nhà
nước phong kiến khác trên thế giới, hình phạt ở nước ta với hệ thống ngũ hình
( xuy, trượng, đồ, lưu, tử ), nhất là hình phạt tử hình mang nặng tính dã man,
tàn bạo, là công cụ bảo vệ giai cấp cầm quyền và nền độc lập quốc gia. Hình
phạt tử hình được duy trì với nhiều hình thức như: thắt cổ, chém đầu, chém
bêu đầu, nấu trong vạc dầu, xẻo thịt cho đến chết…rất dã man, nhằm gây ra
cho người bị kết án những đau đớn tột cùng về thể xác. Nhìn chung, tử hình
dưới chế độ phong khiến được giai cấp thống trị sử dụng như là một công cụ
chủ yếu chống lại các hành vi phạm tội, bảo vệ tuyệt đối quyền và lợi ích của
giai cấp mình. Vì vậy hình phạt tử hình được quy định với phạm vi rất rộng
và nặng về tư tưởng trừng trị.
Từ năm 1945 đến trước khi Luật thi hành án hình sự 2010 có
hiệu lực (01/07/2011):
14
Trong thời kỳ này, Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến sự điều chỉnh
pháp luật việc thi hành hình phạt tử hình. Ngày 31-6-1946, Bộ Tư pháp đã
biện pháp hà khắc, dã man tồn tại trong thời kì trước như: Việc ân giảm án tử
hình, các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ.
Thời kỳ này hình thức thi hành hình phạt tử hình được điều chỉnh bởi
BLHS Việt Nam 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) và BLTTHS 2003, nhìn chung
hình thức thi hành án tử hình vẫn là xử bắn. Hình thức xử bắn có tác dụng răn
đe tội phạm, tuyên truyền phòng ngừa tội phạm cao. So với các hình thức tử
hình trước đây, so với các hình thức tử hình đã tồn tại trong lịch sử loài người
và một số phương thức đang hiện hành ở các nước xử bắn đã thể hiện sự tiến
bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều. Tuy nhiên, hình thức tử hình này không
nhân đạo và khoan hồng ở chổ làm cho thi thể bị cáo không còn nguyên vẹn,
và ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, tư tưởng cán bộ thi hành án. Số cán bộ công
an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được
giao trói, bịt mắt, nhét giẻ vào mồm bị cáo, hoặc được giao bắn viên đạn cuối
cùng vào thái dương phạm nhân đều ảnh hưởng đến tâm lí nhiều.
Từ khi Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực (01/07/2011)
đến nay:
Luật thi hành án hình sự năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2011) đã
quy định hình thức tử hình mới đó là tiêm thuốc độc. Việc quy định chuyển từ
hình thức xử bắn sang tiêm thuốc độc thể hiện thái độ khoan hồng trong chủ
trương đường lối của Đảng ta. Việc tiêm thuốc độc thay hình thức xử bắn đối
với tử tù đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Hình thức này ít gây đau
đớn cho người bị thi hành án, đảm bảo tử thi còn nguyên vẹn, ít tốn kém và
giảm áp lực tâm lý cho người trực tiếp thi hành án (hiện do lực lượng Cảnh
sát hỗ trợ tư pháp thực thi).
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng có thể hiểu bản chất của biện
pháp thi hành hình phạt tử hình này là tiêm vào người tử tội một liều thuốc
16
độc (thường gồm 3 loại: một để gây mê, một để cơ bắp thịt và thần kinh
ngưng hoạt động và một để làm cho tim ngừng đập) để kết thúc sự sống của
tử tội. Về cơ chế chết trong phương thức thi hành hình phạt tử tội này là: làm
năm 2003 quy định thời hạn kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án
18
là một năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm) hoặc một năm kể từ ngày nhận được tin báo về tình tiết mới
được phát hiện (kháng nghị theo thủ tục tái thẩm); còn kháng nghị theo hướng
có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được tiến hành
trong cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ. Đối với
bản án tử hình, không thể thi hành xong hình phạt tử hình, rồi sau đó mới phát
hiện sai lầm, cho nên, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án
và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Việc ra một trong các quyết định này
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao là bắt buộc, không phụ thuộc vào việc người bị kết án có gửi đơn
xin ân giảm lên Chủ tịch nước hay không.Nếu người bị kết án đã gửi đơn xin
ân giảm lên Chủ tịch nước, nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thấy việc xét xử không chính
xác, thì vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Sau khi đã có kháng nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo Chủ tịch nước biết về
việc bản án tử hình đã bị kháng nghị
Trong trường hợp người bị kết án làm đơn xin ân giảm án tử hình thì
theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002:
"Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về
những trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình" và quy định tại
khoản 6 Điều 27 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002: "Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những
trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình” .Hồ sơ trình Chủ tịch
nước xét đơn xin ân giảm của người bị kết án bao gồm: đơn xin ân giảm của
người bị kết án viết trong thời hạn quy định (bảy ngày kể từ khi bản án có
thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án
20
nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản
án tử hình, thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết
án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình. Quy định này bảo đảm quyền
của người bị kết án được làm đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước trong trường
hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm,
nhưng bị cấp có thẩm quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản
án tử hình.
Khoản 2 Điều 258 BLTTHS năm 2003 quy định: "Trường hợp người
bị kết án xin ân giảm hình phạt tử hình, thì bản án tử hình được thi hành sau
khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm". Như vậy, tương tự như quy định tại
BLTTHS năm 1988, trong việc xem xét bản án tử hình đã có hiệu lực pháp
luật, BLTTHS năm 2003 của nước ta có quy định thời hạn kháng nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao nhưng lại không quy định thời hạn cho Chủ tịch nước ra quyết định ân
giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm. Đây là vấn đề cũng được quy định
tương tự trong pháp luật thi hành án hình sự của Liên bang Nga
2.2. Tình hình áp dụng thi hành án tử hình tại tỉnh Quảng Trị :
2.2.1. Đặc điểm tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Trị
Quảng Trị là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, có
diện tích 4.739,8 km², phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh
Thừa Thiên Huế, phía tây giáp các tỉnh Savannakhet và Saravane của Cộng
hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm hành chính
của tỉnh là thành phố Đông Hà nằm cách 598 km về phía nam thủ đô Hà Nội
và 1.112 km về phía bắc thành phố Hồ Chí Minh. Quảng Trị hiện bao gồm 1
Thành phố, 1 Thị xã và 8 huyện, trong đó có một huyện đảo:
• Thành phố Đông Hà : 9 phường
• Thị xã Quảng Trị : 4 phường và 1 xã
0
28'55 kinh độ đông, thuộc địa phận đồn biên
phòng Cù Bai, xã Hướng Lập, Hướng Hóa.
Quảng Trị có chiều dài bờ biển 75 km và được án ngữ bởi đảo Cồn Cỏ,
có tọa độ địa lý 1709'36 vĩ bắc và 107020' kinh đông, đảo Cồn Cỏ cách bờ
biển (Mũi Lay) 25 km, diện tích khoảng 4 km2. Chiều ngang trung bình của
tỉnh 63,9 km, (chiều ngang rộng nhất 75,4 km, chiều ngang hẹp nhất
52,5 km). Tuy với một diện tích không rộng, người không đông nhưng do
nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng Trị đã và đang giữ vai trò trọng
yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, giao lưu giữa hai miền Bắc -
Nam của đất nước cũng như lưu thông thuận lợi với các nước phía tây bán
22