ĐẶT VẤN ĐỀ
Xơ gan là một quá trình viêm lan toả với xơ hoá, đảo lộn cấu trúc bình
thường của gan dẫn tới hình thành các nhân có cấu trúc không bình thường.
Xơ gan là một bệnh thường gặp ở Việt nam cũng như trên thế giới. Theo tài
liệu của tổ chức y tế thế giới thì tỷ lệ tử vong do xơ gan ở các nước từ 10 đến
20 / 100.000 dân[29].[30].
Xơ gan do nhiều nguyên nhân như các bệnh gan mạn tính, bệnh đường
mật, xơ gan do rượu. Do sự phát triển của xã hội, xơ gan do rượu ngày càng
phổ biến. Hằng năm ở Mỹ tiêu tốn trên 1.6 tỷ USD cho xơ gan do rượu, là
loại chiếm 44% tử vong do xơ gan ở Mỹ [2]. ở Anh xơ gan là nguyên nhân
của 6000 người chết hàng năm và xơ gan rượu chiếm khoảng 80% trong
tổng số xơ gan [43]. Tại Việt nam xơ gan do rượu ngày càng nhiều và chiếm
khoảng 20% trong các nguyên nhân xơ gan [19]. Hậu quả cuối cùng của xơ
gan do rượu là K gan. Xơ gan do rượu nếu không đuợc điều trị sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới sức khoẻ và nhân cách con người. Hiện điều trị xơ gan còn bù
do rượu hàng đầu là bệnh nhân phải bỏ rượu và dựng các thuốc bảo vệ tế
bào gan, tăng cường chức năng gan. Tuy nhiên giá thành của những thuốc
này còn cao.
Hiện nay nền Y học của thế giới rất quan tâm tới việc nghiên cứu các
dạng thuốc có nguồn gốc thảo mộc như Sylymarin chiết xuất từ cây ké có tác
dụng bảo vệ tế bào gan và gần như không có độc tính, được biết đến như một
dược phẩm hàng đầu điều trị gan ở châu Âu thế kỷ XVI, Chophyton chiết
xuất từ cao Actiso có tác dụng điều trị hỗ trợ chứng hoàng đản rất tốt. Nền Y
học cổ truyền nước ta từ xưa cũng có nhiều bài thuốc hay sử dụng cây cỏ,
nguyên liệu có nguồn gốc thiên nhiên điều trị các bệnh lý gan mật và còn
được truyền đến tận ngày nay như “Tiêu dao tán”, “Nhân trần ngũ linh tán”,
“Nhân trần cao thang” [6]
1
Gần đây ở Trung Quốc cũng có nhiều công trình nghiên cứu các vị
thuốc, bài thuốc điều trị xơ gan có hiệu quả như bài “ Kháng nguyên thang”,
“Sơ can kiện tỳ thang” , “Hoạt can thang” [10].
[27].[42].[44]
Theo nghiên cứu của Arthur sự sống sót của xơ gan sau 5 năm và 10 năm
do các nguyên nhân là [37]
Nguyên nhân Sau 5 năm (%) Sau 10 năm (%)
Rượu 23 7
Virut viêm gan C 38 24
Virut viêm gan B 48 20
Tại Pháp xơ gan 80% nguyên nhân là do rượu, Không chỉ ở Pháp mà các
nước châu Âu, Mỹ nguyên nhân xơ gan do rượu cũng chiếm tỷ lệ cao và là
nguyên nhân phổ biến nhất của các bệnh gan . Theo tổ chức y tế thế giới
3
(WHO _ 1978) ở các nước này tỷ lệ tử vong do xơ gan giao động từ 10 đến
20/100 ngàn dân [ 38].[39]
Nhưng uống rượu số lượng bao nhiêu và thời gian bao lâu thì ảnh hưởng
tới gan và các bệnh gan mạn tính do rượu. Theo Thomasd lượng rượu là 40
đến 80g một ngày uống liên tục 5 đến 15 năm sẽ gây nên bệnh gan mạn tính.
Tuy nhiên không phải tất cả những người lạm dụng rượu đều gây tổn thương
gan. Tỷ lệ mới mắc của xơ gan trong số những người nghiện rượu qua mổ tử
thi vào khoảng 10 đến 15%. Mặc dù mối liên quan giữa nghiện rượu và bệnh
gan đã được biết đến từ rất lâu, nhưng cơ chế chính xác của bệnh gan vẫn
được bàn cãi. Lượng rượu trung bình ở một nhóm lớn nam giới bị xơ gan do
rượu là 160g/ngày trong tám năm. Viêm gan do rượu, một tổn thương tiền xơ
gan được phát hiện ở 4% người uống dưới 160g/ngày. Trong phần lớn trường
hợp liều nguy hiểm là trên 80g/ngày. Thời gian uống cũng rất quan trọng. Cả
xơ gan và viêm gan do rượu đều không được phát hiện ở người uống trung
bình 160g/ngày trong vòng dưới 5 năm trong khi 50% người uống với mức độ
lớn hơn trong thời gian trung bình 21 năm đã phát triển thành xơ gan.[34].
[39]
Còn ở Việt nam: xơ gan nguyên nhân chủ yếu là do virút, ngoài ra rượu cũng là
nguyên nhân đáng kể và tăng nhiều trong những năm gần đây. Theo Nguyễn Xuân
Để chẩn đoán xơ gan còn bù do rượu ngoài các triệu chứng chung của xơ
gan còn bù còn có một số triệu chứng và xét nghiệm hỗ trợ thêm:
- Tiền sử uống rượu kéo dài
- Xét nghiệm máu ngoại vi: thể tích trung bình hồng cầu ( MCV) có thể >
95 fl
- Các enzym AST, ALT tăng cao nhưng không nhiều bằng xơ gan do các
nguyên khác như virut, do thuốc. Tỷ lệ AST/ALT thường lớn hơn 2
- GGT tăng cao
Sự kết hợp tăng MCV và GGT huyết thanh có thể xác định 90% bệnh
nhân phụ thuộc ruợu [27 ]
5
- Hình ảnh siêu âm gan [26]
* Trong xơ gan do rượu hình ảnh siêu âm gan chủ yếu là xơ gan nốt nhỏ.
Kích thước gan lớn, các vùng cửa nối với nhau bằng các dải xơ nhỏ phân tách
tế bào gan thành những nốt nhỏ. Độ hồi âm của nhu mô gan tăng. Độ hút âm
của nhu mô gan tăng do hiện tượng thói hoá mỡ và mô xơ. Nhu mô gan thô
ráp, không đều, đôi khi bắt gặp dạng hạt do các nốt hình thành, hình ảnh các
nốt này có thể thấy hằn rõ trên thành các tĩnh mạch gan. Đường bờ gan không
đều do các nốt và dải xơ co rúm xung quanh. Góc gan trở nên tự.
* Những biến đổi của các cấu trúc mạch máu và huyết động:
+ Hình ảnh tăng áp lực tĩnh mạch cửa: do hiện tượng xơ hoá trong các tiểu
thuỳ gan làm chít hẹp khoảng cửa, cản trở lưu thông ở xoang tĩnh mạch, chít
hẹp phần nào tĩnh mạch gan dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa, biểu hiện:
tăng đường kính tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng
trên, lách to, dịch cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ
+ Động mạch gan dãn và ngoằn ngoèo
- Nội soi thực quản dạ dày: dãn tĩnh mạch thực quản từ một vài tĩnh mạch
trên thành thực quản đến giãn toàn bộ tĩnh mạch trong lòng thực quản từ độ I
đến độ IV
* Điều trị
Kim Loan, Nguyễn Nhược Kim “Tác dụng của bài thuốc cổ phương tiêu giao
tán điều trị xơ gan còn bù”[16]
Ngoài ra nhiều loại thảo dược đã được sử dụng trong điều trị các bệnh lý
về gan như: Viêm gan mạn tính do vi rút, gan nhiễm mỡ, xơ gan nhằm cải
thiện tình trạng tổn thương hoại tử tế bào gan, giảm men gan.
Silymazine (Legalon): là một dẫn xuất từ cây ké(cây cúc gai), trong thành
phần có chứa Flavonoid, Silybimin, Silydiamin,Silychristin. Trên các nghiên
cứu tế bào và ở động vật thực nghiệm cũng như lâm sàng, thuốc có tác dụng
bảo vệ tế bào gan và hầu như không có độc tính. Legalon được coi là một
dược phẩm điều trị gan có hiệu quả ở châu Âu và thế giới từ thế kỷ XVI
7
- Biphenyl Dymethyl Dycacboxylate: là một chất tương tự như
Schisaudzin được phân lập từ quả cây ngũ vị tử. Thuốc có tác dụng làm giảm
bilirubin trong máu, làm tăng albumin, giảm gamaglobulin, giảm enzyme
ALT, cải thiện tình trạng viêm và hoại tử gan trên mô bệnh học[34].
Ngoài ra một số thuốc khác như Chophytol (chiết suất từ actiso. Trong
thành phần có Lynara Scolymus L) có tác dụng hỗ trợ nhuận mật, điều trị
chứng tăng Bilirubin trong xơ gan, viêm gan mạn tính.
1.2. QUAN NIỆM CỦA Y HỌC Cổ truyền về XƠ GAN
1.2.1 Khái niệm
Trong các y văn cổ của Y học cổ truyền không có bệnh danh xơ gan.
Nhưng qua các biểu hiện triệu chứng lâm sàng thường thấy của bệnh này như
ăn kém, đau hạ sườn phải, gan to, lách to, vàng da, vàng mắt thì bệnh được
xếp vào phạm vi các chứng “hiếp thống”, “hoàng đản”, “tích tụ”.
*Chứng hoàng đản
Trong “ Hoàng đế nội kinh”- một bộ sách kinh điển nhất của Y học Trung
hoa vào thế kỷ thứ VIII trước công nguyên ở chương “bình nhân khí tượng
luận” đã mô tả chứng bệnh có biểu hiện vàng da, vàng mắt, tiểu tiện vàng
trên lâm sàng và gọi đó là hoàng đản. Ngoài ra tập sách cũng đã đề cập tới
những nguyên nhân gây bệnh từ sự thay đổi của môi trường bên ngoài như:
tụ. [17].[18]
1.2.2 Các thể bệnh xơ gan theo y học cổ truyền
*Thể can nhiệt tỳ thấp:
- Triệu chứng: Bệnh nhân thấy trong người nóng, sắc da hơi vàng, đau tức
nặng vùng hạ sườn phải, miệng khô khát, thích ăn thức ăn mát, thích uống
nước mát, đại tiện táo bón tiểu tiện vàng đỏ. Chất lưỡi hồng râu lưỡi vàng.
Mạch trầm sác hoặc đới sác.
- Pháp điều trị: Thanh nhiệt trừ thấp, sơ can kiện tỳ.
- Phương thuốc: Bài “ Nhân trần cao thang” hoặc bài “ Nhân trần ngũ linh
tán” gia giảm .[6].[18]
9
*Thể can uất tỳ hư, can tỳ bất hòa.
Triệu chứng:sắc mặt sạm tối, đầu chóng mệt mỏi, ăn kém, đau vùng gan,
tức vùng thượng vị, ợ hơi bụng chướng, đại tiện lỏng , râu lưỡi trắng mỏng,
mạch huyền tế.
Phương pháp chữa: sơ can kiện tỳ
Bài thuốc: bài tiêu giao tán gia giảm
* Thể khí trệ huyết ứ
Triệu chứng: đau vùng mạng sườn nhiều, bụng chướng người gầy, môi
lưỡi tím, mạch tế.
Pháp điều trị: hành khí hoá ứ, sơ can lý khí hoạt huyết
Bài thuốc: “tứ vật đào hồng” gia giảm hoặc bài “cách hạ trục ứ thang gia
giảm”
Trong Thiên gia diệu phương cũng có nhiều bài thuốc điều trị xơ gan có
hiệu quả như bài: “Nhất quán tiễn”, “Sơ can lợi đởm thang”, “Tam tiên vị linh
thang gia vị”, “ Hoạt can thang”, “Nhuyễn kiên súc tý thang”.[10]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ XƠ GAN CÒN BÙ VÀ CÁC
BỆNH LÝ GAN MẬT
1.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước.
Năm 1983 Bệnh viện Trung y Hà Bắc Trung Quốc sử dụng bài thuốc
cổ truyền Việt Nam đã dựng bài “tiêu dao gia giảm” điều trị viêm gan mạn
tính và xơ gan còn bù cho thấy kết quả tốt 56.7%, trung bình 33,3%, không có
kết quả 10%. Trong đó sau 2 tháng điều trị ALT về bình thường 46,7% và
giảm nhiều là 47%.
Phạm Đức Dương [8] dựng bài thuốc VG 99 cho bệnh nhân viêm gan B
mạn tính sau 2 tháng điều trị kết quả cho thấy 11/18 bệnh nhân chiếm tỷ lệ
61,1% ALT về bình thường, 6/18 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 33,3% men gan ALT
giảm
Năm 2000 Trần Lưu Vân Hiền và cộng sự [18] đã công bố kết quả nghiên
cứu tác dụng bảo vệ và điều trị tế bào gan chuột nhắt trắng trên thực nghiệm
11
được gây độc bằng CCl
4
của bài thuốc viêm gan (BVG). Đây là bài thuốc
kinh nghiệm của Viện Y học cổ truyền Việt Nam trong điều trị viêm gan mạn
tính có 7 vị thuốc gồm: Chó đẻ răng cưa, nhân trần, ngũ vị tử, rau má Qua
các nghiên cứu trên thực nghiệm các tác giả đưa nhận xét:
Dịch nước sắc BVG có tham gia vào cơ chế chống viêm, giải độc làm
giảm hủy hoại tế bào gan qua giảm men gan.
1.4 Tổng QUAN BÀI THUỐC ĐÔNG Y XG
1
Bài thuốc điều trị xơ gan còn bù do rượu dựa trên cơ sở bài thuốc cổ
phương “Nhân trần ngũ linh thang” gia giảm, một bài thuốc nổi tiếng trong
sách Kim quỹ yếu lược. Bài thuốc gồm các vị như sau:
Nhân trần :15g Quế chi : 06g
Bạch truật :12g Ngũ vị tử : 10g
Bạch linh :12g Thổ phục linh : 15g
Trư linh :10g Trạch tả : 12g
Trong bài thuốc Trạch tả, Trư linh, Bạch linh có tác dụng lợi thủy thẩm
thấp, Bạch truật kiện tỳ vận hóa thấp khiến thủy thấp không đình tụ được.
mãn tính.
Theo tài liệu cổ, Bạch truật vị ngọt, tính đắng, hơi ơn, vào 2 kinh tú và vị.
Có tác dụng kiện vị, hồ trung, táo thấp, hoá đờm, lợi tiểu, làm hết mồ hôi, an
thai. Chữa tơ hư, trướng mãn, hung cách phiền muộn, tiết tả, tơ thũng, đàm
ẩm, tự hãn (mồ hôi trộm), thai khí không yên.
Chỉ định: chữa sốt ra mồ hôi, phù thũng, viêm ruột mạn tính, an thai bổ
máu
- Tẩm sao Hoàng thổ: bạch truật tẩm sao hoàng thổ thì bổ tỳ,chữa nôn
mửa, bụng chướng, an thai.
- Sao cháy: đem sao cháy thì cầm máu, ấm trung tiêu
Liều dựng: 6-12g
*Trạch tả:
Tên khoa học: Alisma plantago aquatica L, thuộc họ trạch tả
13
Thành phần hoá học: trong trạch tả có tinh dầu, chất nhựa, protit, chất bột.
Tác dụng:Vị ngọt, tính mát. Vào các kinh: thận, bàng quang
Chỉ định: chữa phù thũng, viêm thận, viêm gan mạn tính, xơ gan, sỏi thận.
*Thổ phục linh:
Tên khoa học:Similax glabra Roxh – Similax hookeri Kunt, thuộc họ hành
tỏi Liliacace.
Thành phần hoá học: trong thổ phục linh có saponin, tanin, chất nhựa,
nhiều tinh bột
Tính vị qui kinh: vị ngọt, nhạt, tính bình vào 2 kinh can và vị.
Tác dụng: trừ phong thấp, lợi gân cốt, giải độc do thuỷ ngân, chữa đau
xương, ác sang ung thũng.
Dựng nhiều trong nhân dân để giải độc cơ thể, bổ dạ dày, khoẻ gân cốt,
làm cho ra mồ hôi, chữa đau xương khớp.
Chỉ định: chữa phong thấp, gân xương đau nhức, mụn nhọt, lở ngứa, giải
độc
Liều dựng: 12-20g
* Trư linh: là nấm cây Phong (Polyporus umbellatus) họ nấm lỗ
a) Tính vị quy kinh: đạm bình vào kinh thận, bàng quang.
b) Tác dụng: lợi niệu thẩm thấp.
c) Ứng dụng lâm sàng:
- Lợi niệu thông lâm: chữa viêm bàng quang, gây các chứng tiểu tiện ít, ra
máu, phụ nữ có thai đỏi rắt, viêm gan, xơ gan, gây các chứng tiểu tiện ít, vàng sẻn.
*Quế chi: Tên khoa học Cinnanomum Coureinru Nees. Thân họ long não
Lauracear. Là cành nhỏ của nhiều loại quế: quế Trung Quốc, quế thanh, quế Xây lan.
a) Tính vị quy kinh: cay ngọt, ấm vào kinh tâm, phế, bàng quang.
b) Tác dụng: chữa cảm mạo phong hàn, ơn kinh chỉ thống và ơn thông
kinh mạch, chữa đau khớp, đau dây thần kinh, hoá khí lợi tiểu.[7]. [21]
15
CHƯƠNG 2
CHẤT LIỆU, ĐốI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU
Bài thuốc đông y XG1 sử dụng trong nghiên cứu là bài thuốc cổ phương
“Nhân trần ngũ linh thang” gia giảm. Thành phần và liều lượng mỗi thang
thuốc như sau:
Nhân trần :15g Quế chi :06g
Bạch truật :12g Ngũ vị tử :10g
Bạch linh :12g Thổ phục linh :15g
Trư linh :10g Trạch tả :12g
Dạng sử dụng: Thuốc được sử dụng dưới dạng thang sắc uống. Sắc bằng
máy Extractor do hãng Kyungseo của Hàn Quốc sản xuất năm 2003, đảm bảo
chất lượng ISO 9001. Thuốc được sắc trong 3 giờ. Sau đó nước thuốc sắc
được đóng vào túi nilon bằng dây chuuyền tự động. Mỗi thang đúng được 2
túi, mỗi túi 125ml, thời gian bảo quản 30 ngày.
Thuốc được bào chế tại trung tâm dược, sắc tại khoa dược Bệnh viên y
học cổ truyền - Tổng cục hậu cần kỹ thuật Bộ công an.
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
B,C,E xơ gan do thuốc, xơ gan lách to
- Xơ gan kết hợp với các bệnh lý khác như tim mạch, hô hấp, cơ quan tạo
máu
- Phụ nữ có thai và cho con bơ
- Bệnh nhân không tuân thủ chế độ điều trị: Trong thời gian điều trị bệnh
nhân còn tiếp tục uống rượu, bỏ thuốc 3 ngày liên tiếp, không làm đủ các xét
nghiệm
- Không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
2.3.1 Nghiên cứu trên thực nghiệm
*Nghiên cứu độc tính cấp :
17
Thí nghiệm được tiến hành trên động vật nhằm xác định LD50.
- 15 chuột nhắt trắng được chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 5 con.
+ Nhóm chứng: Uống nước cất.
+ 2 nhóm nghiên cứu: uống thuốc ở các mức liều khác nhau.
Theo dõi diễn biến của chuột từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 7(về hành vi, dấu
hiệu bất thường, tác dụng phụ, độc tính, sống chết).
2.3.2 Nghiên cứu trên lâm sàng:
2.3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh trước - sau điều trị.
2.3.2.2 . Cỡ mẫu : n = 30
2.3.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu:
- Trước khi điều trị bệnh nhân sẽ được khám lâm sàng làm đủ các xét
nghiệm [31].[32]
- 30 bệnh nhân trong diện nghiên cứu được uống mỗi ngày 1 thang thuốc
“Nhân trần ngũ linh thang” gia vị (ngày uống 2 lần, mỗi lần một túi ngày
uống 250ml). Thời gian uống thuốc : Ngày uống 2 lần mỗi lần 125ml. Thời
gian uống thuốc trong 30 ngày liên tiếp.
2.3.2.4.Phương pháp khám và chẩn đoán theo y học cổ truyền:
- Tiểu tiện nước trong
Thiết
- Da lòng bàn tay, lòng bàn chân
nóng.
- Mạch huyền đới sác hoặc sác
- Da lòng bàn tay, bàn chân hơi
lạnh
- Mạch huyền
2.3.2.5. Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc:
Thường xuyên theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc: Đau
đầu, chóng mặt, nổi ban dị ứng, chóng mặt buồn nôn, rối loạn tiêu hóa…trong
suốt quá trình bệnh nhân uống thuốc.
2.3.2.6. Phương pháp đánh giá kết quả:
- Về lâm sàng:
+ Theo dõi hàng ngày hàng tuần và đánh giá các biểu hiện lâm sàng như:
Mệt mỏi, chán ăn, đau tức hạ sườn phải, vàng da, nước tiểu vàng, ngứa, gan
to theo các mức độ:
Hết, giảm, không giảm hoặc tăng
+ Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc:
19
- Về cận lâm sàng:
Đánh giá sự thay đổi của các xét nghiệm: Tiểu cầu, hồng cầu, thể tích
trung bình hồng cầu, AST, ALT, GGT, bilirubin toàn phần, tỷ lệ
prothrombin , siêu âm trước và sau điều trị
- Kết quả điều trị được phân loại theo 4 mức độ: Tốt, khá, trung bình,
kém.
Bảng 2.2 Phân loại kết quả điều trị;
Phân loại Lâm sàng Cận lâm sàng
Tốt
đi.
2.3.3. Xử lý số liệu:
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học theo chương
trình SPSS for Windows 16.0
20
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. KỊt quả NGHIÊN CỨU TRÊN THỰC NGHIỆM :
Kết quả thử độc tính cấp
Bảng 3.1: Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của bài thuốc XG1
Nhóm Liều
(ml/Ngày)
Số chuột chỊt từ ngày 1 đến ngày thứ 7
Ngày
1
Ngày
2
Ngày
3
Ngày
4
Ngày
5
Ngày
6
Ngày
7
1 5
Uống nước
(0.5ml x 3
≥ 60
3 10 0 0 3 10
Tổng 30 100 0 0 30 100
± SD 48.53 ± 7.89
Biểu đồ 3.1.Phân bố tuổi của bệnh nhân xơ gan còn bù do rượu
Độ tuổi
Nhận xét :
Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân xơ gan còn bù do rượu là 48.53 ±
7.89, tuổi thấp nhất là 34 tuổi và cao nhất là 70 tuổi, lứa tuổi hay gặp nhất là
22
40 - 49 tuổi chiếm 53.3% . Trong nghiên cứu này 100 % là nam giới không
gặp bệnh nhân nữ giới nào.
Bảng 3.3 : Thời gian mắc bệnh của nhóm bệnh nhân xơ gan còn bù do rượu.
Thời gian mắc bệnh Số bệnh nhân ( n ) Tỷ lệ phần trăm ( % )
< 1 năm 3 10
1 - 2 năm 16 53.3
> 2 năm 11 36.7
Nhận xét :
Thời gian mắc bệnh từ 1 - 2 năm chiếm tỷ lệ cao 53.3 %. Mắc bệnh trên
2 năm chiếm 36.7 %
Bảng 3.4 : Thời gian uống rượu của nhóm bệnh nhân xơ gan còn bù do rượu
Số bệnh nhân
Thời gian
Số lượng ( n ) Tỷ lệ phần trăm ( % )
< 10 năm 3 10
10 - 20 năm 6 20
20 - 30 năm 14 46.7
> 30 năm 7 23.3
Tổng 30 100
Chán ăn 30 100
Đầy bụng, khó tiêu 30 100
Ngứa 5 16.7
Đau tức hạ sườn phải 9 30
Chảy máu chân răng, chảy máu cam 8 26.7
Sao mạch 10 33.3
Đại tiện táo 18 60
Tiểu tiện vàng 17 56.7
Đại tiện nát 8 26.7
Đại tiện lúc táo lúc nát 6 20
Vàng da vàng mắt 8 26.7
Gan to 7 23.3
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ một số triệu chứng hay gặp trong nhóm bệnh
nhân xơ gan còn bù do rượu
Nhận xét:
Các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu, là những triệu
chứng thường gặp chiếm tỷ lệ 100 % trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Triệu chứng đau tức hạ sườn phải có 9 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 30 % , chảy
máu chân răng 8 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 26.7 %, đại tiện táo có 18 bênh nhân
chiếm tỷ lệ 60 %, tiểu tiện vàng 17 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 56.7 %.
25