Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 nền kinh tế Việt
Nam chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với hơn 220 quốc gia và các tổ
chức trên thế giới về nhiều mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục...Và đã
tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như : hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO),
chính những quan hệ hợp tác này đã góp phần vô cùng quan trọng thúc đẩy
ngoại thương Việt Nam ngày càng phát triển.
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, nó đóng góp
một tỷ trọng vô cùng lớn vào tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của đất nước.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn vô cùng quan trọng để đất nước đang phát triển
như nước ta hiện nay có thể nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại vào
sản xuất, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa( CNH- HĐH)
đất nước. Không chỉ vậy xuất khẩu còn góp phần không nhỏ vào việc giải
quyết và tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và nâng cao mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trên
thế giới.
Do vậy việc thúc đẩy phát triển xuất khẩu là một trong những chủ
trưởng lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện đẩy mạnh
quá trình CNH- HĐH đất nước. Nắm rõ được tầm quan trọng của xuất khẩu
đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước nhóm chúng em đã nghiên cứu đề
tài “Phát triển xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn đổi mới”. Với mục đích
là phân tích rõ thực trạng phát triển của xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn
đổi mới đề tìm ra những vấn đề còn tồn đọng, để từ đó chúng em đưa ra
1
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần làm cho hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam trong những năm tiếp theo ngày càng hoàn thiện và tăng
nước ngoài) xuất khẩu ngay tại chính đất nước của mình để thu ngoại tệ
thông qua việc giao hàng cho các doanh nghiệp đang hoạt động ngay tại
chính lãnh thổ của quốc gia đó theo sự chỉ định của phía nước ngoài hoặc
3
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
cũng có thể bán hàng qua khu chế xuất hoặc các xí nghiệp chế xuất đang
hoạt động ngay tại chính lãnh thổ nước đó.
*Khái niệm xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Là việc doanh nghiệp trong nước xuất khẩu hàng hóa (hữu hình hoặc
vô hình) ra thị trường nước ngoài (hàng hóa được chuyển ra ngoài biên giới
quốc gia) và được bán cho người nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ
về.ư
* Khái niệm phát triển xuất khẩu.
Phát triển xuất khẩu là sự cố gắng của chính phủ về việc gia tăng quy
mô xuất khẩu, dịch chuyển cơ cấu xuất khẩu theo nhu cầu thị trường căn cứ
vào lợi thế xuất khẩu của đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế nhằm đáp ứng
được các mục tiêu kinh tế xã hội trong ngắn hạn và đảm bảo phát triển bền
vững trong dài hạn.
1.2.Các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá sự phát triển TM XK
Sự phát triển của xuất khẩu được đánh giá thông qua 4 tiêu chí quan trọng:
*Tăng trưởng quy mô một cách hợp lý
- Kim ngạch xuất nhập khẩu
- Khối lượng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu
- GDP đóng góp cho nền kinh tế từ hoạt động xuất nhập khẩu
- Giá trị gia tăng, tổng lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
*Nâng cao chất lượng xuất nhập khẩu
- Cơ cấu xuất nhập khẩu
+ Cơ cấu mặt hàng
+ Cơ cấu thị trường
+ Cơ cấu hàm lượng gia tăng trong các sản phẩm
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
- Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của
đất nước, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu với những
quốc gia đang và chậm phát triển. Trong quá trình hội nhập và mở cửa, khi
đã tham gia vào sân chơi chung này hầu hết mỗi quốc gia đều thực hiện một
khâu, một chức năng nào đó trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các quốc gia đều
sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh hơn hẳn
các quốc gia khác và nhập khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó kém lợi thế
hoặc chi phí sản xuất cao hơn so với việc nhập khẩu. Khi đó thì ngành nào
có lợi thế cạnh tranh thì sẽ được chú trọng hơn, đầu tư hơn để giúp các
doanh nghiệp khai thác hiệu quả nhất, góp phần nâng cao khả năng xuất
khẩu ra thị trường thế giới. Và kết quả dẫn đến là có sự chuyển dịch kinh tế
giữa các ngành trong một quốc gia.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
Chẳng hạn, khi phát triển xuất khẩu dệt may sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc
phát triển ngành sản xuất nguyên vật liệu như bông, đay...Sự phát triển
ngành chế biến thực phẩm( gạo, cà phê...) có thể kéo theo các ngành công
nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó phát triển.
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo điều kiện cho sản
xuất phát triển và ổn định.
* Vai trò về mặt xã hội
6
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
- Đẩy mạnh xuất khẩu được xem là yếu tố quan trọng kích thích sự tăng
trưởng kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
lợi thế của mình sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, ít nhiều tham
gia vào phân công lao động quốc tế.Giúp các nước thành viên tiếp cận đến
mức công bằng trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Tạo ra vị thế
mới trong đàm phán và các hợp đồng mua bán.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
giữa các quốc gia.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác
động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn
các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: giao lưu văn hóa, chính trị, kinh
tế...và tạo điều kiện thúc đẩy các mối quan hệ này phát triển, ngược lại chính
các quan hệ kinh tế đối ngoại cũng góp phần thúc đẩy và tạo tiền đề cho mở
rộng xuất khẩu. Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều có quan hệ hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội theo các cam kết và hiệp định song phương, đa phương.
Song bên cạnh đó thì xuất khẩu cũng có nhiều tác động tiêu cực đến
nền kinh tế, xã hội của đất nước như các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
hiện tại chưa thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường thế giới nên nguy
cơ tồn đọng hàng hóa, xuất khẩu với giá thấp hoặc xuất khẩu sang nước
trung gian là rất nhiều, do đó làm giảm thu nhập của người lao động, nếu
tình trạng thị trường diễn biến phức tạp hàng hóa không tiêu thụ được có thể
làm cho người lao động thất nghiệp, và dẫn đến nhiều hệ lụy khác diễn ra
như : cờ bạc, trộm cắp...Mặt khác thúc đẩy xuất khẩu cũng đồng nghĩa với
việc làm ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến môi trường sinh
thái.Ngành công nghiệp phát triển, các nhà máy mọc nên như nấm. Mặt khác
8
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
công nghệ xử lý rác thải của các quốc gia đang và chậm phát triển nên nguy
cơ ô nhiễm môi trường là rất cao. Các quốc gia này lại thường xuất khẩu
nhiều tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô: Than đá, dầu thô, gỗ... nếu
khai thác bừa bãi không có quy hoạch cụ thể thì nguy cơ cạn kiệt tài nguyên
và nhập.
10
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 1986- 1990
2.2 Giai đoạn từ 1990 đến nay.
Đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song
phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư,
40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc.
Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế
Việt Nam - Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn “WTO Plus”, nghĩa là
chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu
tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn
kiện có hiệu lực đang áp dụng của WTO. Từ đây xuất khẩu của việt nam có
nhiều chuyển biến:
Năm ĐVT Tổng
KNXK
Kim ngạch
xuất khẩu
Kim ngạch
nhập khẩu
1985
Triệu USD
25559 6985 18574
1990 51564 24040 27524
11
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
+ Quy mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu đã được mở rộng và tăng
trưởng ở mức độ khá cao
12
Phạm Thị Anh Lý – ĐHTM – Kinh tế thương mại Việt Nam
2002 36451.7 16706.1 19745.6 -3039.5
2003 45405.1 20149.3 25255.8 -5106.5
2004 58453.8 26485.0 31968.8 -5483.8
2005 69208.2 32447.1 36761.1 -4314.0
2006 84717.3 39826.2 44891.1 -5064.9
2007 111326.1 48561.4 62764.7 -14203.3
2008 143398.9 62685.1 80713.8 -18028.7
Sơ bộ 2009 127045.1 57096.3 69948.8 -12852.5
Nguồn: Tổng cục thống kê
Từ năm 1990 trở lại đây, quy mô và tốc độ tăng trưởng của xuất
khẩu đã được mở rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao. Tổng mức giá trị
xuất khẩu vẫn tăng đều qua các năm, nhưng do tổng giá trị nhập khẩu cũng
tăng nhanh nên nước ta vẫn là nước nhập siêu. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu
lại có sự chuyển biến tích cực: nhóm nông- lâm- thủy sản có tỷ trogj giảm
tương đối, nhóm cong nghiệp có tỷ trọng ngày càng tăng, thị trường xuất
khẩu ngày càng được mở rộng…
Về thị trường xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2005:
* Khu vực thị trường châu Á đã giảm dần tỷ trọng từ 57,3% năm 2001
xuống 50,5% năm 2005 song vẫn chiếm ưu thế trong xuất khẩu hàng hóa
việt nam.
* Khu vực thị trưởng Châu Âu: Tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị
trường Châu Âu có xu hướng giảm nhẹ nhưng giá trị tuyệt đối năm sau vẫn
tăng so với năm trước và đóng góp trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước.
* Khu vực thị trường Châu Mỹ: Xuất khẩu vào thị trường Châu Mỹ
tăng khá đột biến, chiểm tỷ trọng từ 8,9% năm 2001 lên 21,3% vào năm
2005; xuất khẩu vào thị trường hoa kỳ tăng mạnh từ 7,1% năm 2001 lên
20,2% năm 2005.