huy động nguồn vốn kinh doanh và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tnhh que hàn đại tây dương việt nam - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là điều kiện
tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường việc huy động, quản lý và sử dụng có vốn có
hiệu quả là vấn đề bức xúc đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và khối
doanh nghiệp nhà nước nói riêng.Nền kinh tế thị trường mở ra những cơ hội
lớn cho các doanh nghiệp hội nhập và phát triển nhưng bên cạnh đó là những
thách thức to lớn mà các doanh nghiệp gặp phải.
Thông qua tìm hiểu thực tế em thấy vấn đề huy động và sử dụng vốn ở
Công ty TNHH Que Hàn Đại Tây Dương Việt Nam còn nhiều bất cập. Với
sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Đình Kiệm và cán bộ
công nhân viên trong công ty em đã đi sâu nghiên cứu đề tài : “Huy động
nguồn vốn kinh doanh và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty TNHH Que Hàn Đại Tây Dương Việt Nam ”.
Nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về những vấn đề huy động nguồn vốn kinh
doanh và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn của Công ty
TNHH Que Hàn Đại Tây Dương Việt Nam .
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn ở Công
ty TNHH Que Hàn Đại Tây Dương Việt Nam .
Do trình độ lý luận và trình độ thực tiễn còn nhiều hạn chế nên trong quá
trình làm đề tài không tránh khỏi thiếu sót hạn chế. Em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ngô Sơn Bắc Học viện Tài chính
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN KINH DOANH

thì: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời”. Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là quỹ tiền mặt đặc biệt,
vốn kinh doanh này nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh tức là mục đích
tích luỹ. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản
xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn
thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới hình thái tiền, vừa tồn tại dưới
hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là
hình thái tiền.
ở đây cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn, tiền chỉ được gọi là vốn khi nó
đồng thời thoả mãn những điều kiện sau:
- Điều kiện 1: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định tức là
tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản nhất định.
- Điều kiện 2: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất
định, đủ sức đầu tư cho một dự án kinh doanh nào đó.
- Điều kiện 3: Khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục
đích sinh lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương
thức đầu tư kinh doanh quyết định.
Các phương thức đầu tư kinh doanh được mô phỏng bởi sơ đồ sau:
- Trường hợp đầu tư sản xuất kinh doanh:
SLĐ
T - H SX

H

- T


TLSX
- Trong lĩnh vực thương mại:

giá trị (tiền) với giá trị lớn hơn.
- Vốn phải được tập trung, tích tụ với một lượng nhất định mới có thể ứng
ra phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh để đầu tư vào quá trình sản xuất
kinh doanh vốn phải được gom thành những món lớn. Vì thế trong quá trình
kinh doanh nhà quản lý doanh nghiệp không chỉ khai thác những tiềm năng về
vốn mà cón tìm cách thu hút, tập trung vốn
- Vốn có giá trị về mặt thời gian có nghĩa là khi tiến hành đầu tư vào một
dự án kinh doanh nào đó phải xét đến yếu tố thời gian của vốn vì trong nền
kinh tế thị trường dưới sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: giá cả, lạm phát
nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau thì cũng khác nhau. Giá
trị của đồng tiền của ngày hôm nay sẽ khác với giá trị của đồng tiền ngày mai.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu, mỗi đồng vốn sẽ gắn với chủ sở hữu nhất
định. Trong nền kinh tế thị trường không thể có những đồng vốn vô chủ, nếu
4
Chuyên đề tốt nghiệp
có những đồng vốn vô chủ thì đồng nghĩa với việc sử dụng lãng phí, kém hiệu
quả của nguồn vốn. Khi đồng vốn gắn với một chủ sở hữu nhất định thì nó
mới được chi tiêu một cách hiệu quả người sở hữu vốn có thể đồng thời là
người là người sử dụng và cũng có thể không phải là người sử dụng vốn mà
nó hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức đầu tư. Song bất kỳ trường hợp nào thì
người sở hữu vốn phải được ưu tiên quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu
đồng vốn của mình. Đó là nguyên tắc cơ bản làm căn cứ để khai thác triệt để
tiềm năng về vốn cho sản xuất kinh doanh và quản lý sử dụng vốn có hiệu
quả.
- Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được quan niệm là một hàng hoá
đặc biệt. Những người có vốn có thể đưa vốn vào thị trường và những người
có nhu cầu về vốn tới thị trường để vay, họ được quyền sử dụng vốn của chủ
nợ đồng thời người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất có nghĩa là họ phải trả giá
cho quyền sử dụng vốn của mình. Như vậy khác với hàng hoá thông thường,
hàng hoá “vốn” khi được bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất

phận quan trọng của vốn kinh doanh. Tài sản cố định trong doanh nghiệp là
những tài sản có giá trị lớn (hiện nay quy định >= 5000 000đ), có thời gian sử
dụng dài (từ 1 năm trở lên) và nó là phương tiện giiữ vai trò quan trọng trong
việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc điểm nổi bật của mọi
tài sản cố định được dùng vào sản xuất kinh doanh là chúng tham gia vào
nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng hình thái vật chất, tính năng công dụng kinh
tế của tài sản cố định không thay đổi về mặt hiện vật. Còn về mặt giá trị tài
sản cố định được biểu hiện dưới hai hình thái một bộ phận giá trị tồn tại dưới
hình thái ban đầu gắn với hiện vật là tài sản cố định còn một bộ phận giá trị
chuyển dịch vào sản phẩm mà tài sản cố định sản xuất ra, bộ phận này sẽ
được chuyển hoá thành tiền khi bán sản phẩm. Bộ phận thứ nhất ngày một
giảm còn bộ phận thứ hai ngày một tăng lên cho tới khi bằng giá trị ban đầu
của tài sản cố định thì cũng là lúc kết thúc quá trình vận động của tài sản cố
định. Như vậy khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố định không bị
thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng và công suất thì giảm dần. Tức là
nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị bộ phận giá trị hao mòn
được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm sẽ được tính vào chi phí khấu hao.
Quỹ khấu hao được dùng để tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định khi chúng bị
hư hỏng nhằm duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định. Chính đặc điểm
vận động về hiện vật và giá trị của tài sản cố đinh đã quyết định đặc điểm lưu
thông và chu chuyển của vốn cố định.
Vốn cố định khi tham gia vào sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng của
nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Do chu kỳ vận động của tài sản cố định dài sau nhiều năm doanh nghiệp
6
Chuyên đề tốt nghiệp
mới thu hồi đủ vốn ứng ra ban đầu.
- Do kinh doanh kém hiệu quả.
- Do sự phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức hao mòn của tài
sản cố định vượt mức dự kiến cả về mặt hiện vật và mặt giá trị.

nhu cầu vốn lưu động khác nhau ở mỗi giai đoạn của vòng tuần hoàn vốn. Vì
vậy vốn của doanh nghiệp được huy động theo từng bộ phận và các giai đoạn
hoạt động của từng bộ phận lại đan xen vào nhau. Tuỳ theo các tiêu thức khác
nhau mà vốn lưu động có thể được chia ra thành nhiều loại:
a. Căn cứ vào vai trò của vốn thì vốn lưu động được chia thành:
- Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất.
- Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất.
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông.
b. Căn cứ vào hình thái biểu hiện và chức năng của từng bộ phận vốn lưu
động ta chia thành:
- Vốn vật tư hàng hoá.
- Vốn tiền tệ.
c. Dựa vào nguồn hình thành vốn lưu động chia ra:
- Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn tự bổ sung.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết.
- Nguồn vốn huy động.
1.1.2.2 Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp chia
ra:
A- Nguồn vốn thường xuyên
Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất lâu dài và ổn định mà doanh
nghiệp có thể sử dụng, nguồn này được dùng cho việc hình thành tài sản cố
định và một phần tài sản lưu động thường xuyên cần thiết.
B- Nguồn vốn tạm thời
Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn thường được sử dụng đáp ứng
nhu cầu tạm thời.
1.1.2.3 Căn cứ vào phạm vị huy động vốn đựơc chia ra:
8
Chuyên đề tốt nghiệp
A- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp

phải làm ăn có lãi bảo toàn và phát triển được vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp
có thể tái sản xuất mở rộng cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngô Sơn Bắc Học viện Tài chính
Như vật vốn vừa được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại
tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật vừa là công cụ để biến
mọi ý đồ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở thành sự thực.
1.3 Nguồn vốn và hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
đòi hỏi phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Đó là tiền đề cần thiết cho sự
hình thành và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự phát triển kinh
doanh với quy mô ngày càng lớn hơn của doanh nghiệp đòi hỏi phải có lượng
vốn ngày một nhiều hơn. Mặt khác cùng với sự tiến bộ của khoa học công
nghệ ngày một phát triển với tốc độ rất nhanh bên cạnh đó các doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế mở với xu thế quốc tế
hoá ngày càng cao, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ do đó
nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh nhất là vốn dài hạn của các doanh
nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn đặc biệt với các doanh nghiệp
vận tải. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải xác định các nguồn vốn có
thể huy động để đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
1.3.1 Các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác
1.3.1.1. Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp
a. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp
Đây là nguồn vốn mà Nhà nước cấp cho các doanh nghiệp khi mới thành
lập và trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp phải quán triệt nguyên tắc
doanh nghiệp phải tích tụ và huy động vốn để sản xuất kinh doanh, ngân sách
Nhà nước không đầu tư bổ xung cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong một
số trường hợp Nhà nước xem xét đầu tư bổ xung vốn kiinh doanh cho những
doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá và kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát
triển vốn.
b. Nguồn vốn tự bổ xung và các quỹ của doanh nghiệp.

thức: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Giá trị hao mòn đó được
chuyển dịch vào sản phẩm. Sau khi sản phẩm được bán sẽ được trích lại và
hình thành nên quỹ khấu hao của doanh nghiệp. Quỹ khấu hao này doanh
nghiệp tích luỹ dùng để tái đầu tư và trong lúc chưa có nhu cầu thay thế tài
sản cố định thì doanh nghiệp có thể sử dụng coi như một nguồn vốn tạm thời.
d. Các khoản phải trả:
Các khoản phải trả bao gồm tiền lương, tiền thanh toán bảo hiểm xã hội
Các khoản này được hình thành và phát sinh hàng ngày trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Nhưng việc thanh toán được thực hiện theo định kỳ nên
Ngô Sơn Bắc Học viện Tài chính
trong khoảng thời gian giữa hai lần thanh toán các khoản này đựơc tích luỹ lại
và doanh nghiệp có thể sử dụng như một nguồn vốn ngắn hạn.
e. Các khoản phải nộp:
Các khoản phải nộp gồm nộp thuế, nộp BHXH, kinh phí công đoàn và
các khoản phải nộp khác. Khi chưa đến kỳ nộp thì doanh nghiệp cũng có thể
huy động và sử dụng.
1.3.1.2 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
a. Nguồn vốn tín dụng:
Là các khoản tín dụng ngân hàng, tín dụng của các tổ chức tài chính kinh
tế và cá nhân. Khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này các doanh nghiệp
phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn ( lãi suất) và một số điều kiện theo
thoả thuận giữa hai bên.
b. Các khoản tiền trả trước của khách hàng:
Đây là các khoản mà người mua đặt cọc trước cho một phần hay toàn bộ
sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ bán cho họ. Doanh nghiệp có thể sử dụng các
khoản tiền này như một nguồn tài trợ ngắn hạn. Sử dụng nguồn này rất có lợi
vì doanh nghiệp không phải trả lãi nhưng doanh nghiệp phải đảm bảo về mặt
uy tín để chủ đẩu tư có thể đầu tư trước cho doanh nghiệp.
c. Vốn nhận liên doanh, liên kết:
Đây là nguồn vốn mà các đơn vị kinh tế khác tự nguyện đóng góp vào

Tuy nhiên để đảm bảo cho công tác huy động vốn của doanh nghiệp được
thuận lợi các doanh nghiệp cần quán triệt một số vấn đề và tính nguyên tắc
sau đây:
- Ưu tiên khai thác tối đa tiềm năng vốn từ nội bộ doanh nghiệp
- Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
- Xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh và thực trạng vốn của doanh
nghiệp mình.
- Đảm bảo tính hợp pháp của việc huy động vốn, khai thác các nguồn vốn
được pháp luật cho phép.
- Gắn việc huy động vốn với việc quản lý và sử dụng có hiệu quả số vốn
huy động được để đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đồng thời có tích luỹ để tái đầu
tư để mở rộng sản xuất kinh doanh.
1.3.2.2 Một số hình thức huy động vốn của doanh nghiệp giao thông vận
tải
A. Huy động vốn ngắn hạn.
Ngô Sơn Bắc Học viện Tài chính
Vốn ngắn hạn là vốn có thời gian đáo hạn trong vòng một chu kỳ sản xuất
kinh doanh hay trong vòng một năm kể từ khi doanh nghiệp nhận được tiền
vay. Huy động vốn ngắn hạn bao gồm các hình thức:
a. Tín dụng thương mại
Đây là hình thức chiếm dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp đối với nhà
cung cấp dưới hình thức mua hàng mà không trả tiền ngay. Thực chất đây
chính là việc mua chịu, hình thức này rất có lợi cho việc tạo vốn ngắn hạn cho
doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ. Nhiều khi doanh nghiệp không đủ
điều kiện vay vốn ngân hàng nhưng vẫn có thể mua chịu được của nhà cung
cấp. Thực ra việc mua bán chịu cũng là một hìmh thức cạnh tranh giưa các
nhà cung cấp. Tuỳ thuộc vào khả năng của khách hàng và mức độ rủi ro trong
việc mua ban chịu mà nhà cung cấp có thể bán chịu cho khách hàng số lượng
hàng hoá trong những khoảng thời gian khác nhau. Nhiều trường hợp nhà
cung cấp hầu như tài trợ hoàn toàn cho các doanh nghiệp bằng cách bán chịu

* Các hình thức vay ngắn hạn không có đảm bảo:
- Hạn mức tín dụng:
Là một thoả thuận giữa các doanh nghiệp với ngân hàng mà theo đó ngân
hàng đồng ý tạo sẵn một khoản tín dụng nào đó cho doanh nghiệp. Loại tín
dụng này thường được thiết lập trên cơ sở hàng năm. Tại thời điểm kết thúc
mỗi năm ngân hàng sẽ xem xét lại tình hình hoạt động tài chính của doanh
nghiệp và dựa trên cơ sở của sự xem xét đó có thể ra hạn hay điều chỉnh tăng
mức tín dung cho doanh nghiệp năm kế tiếp. Tiền lãi của hình thức này tuỳ
thuộc vào tổng giá trị tín dụng mà doanh nghiệp đã sử dụng, các doanh nghiệp
được phép tính khoản tiền lãi này vào chi phí hàng ngày. Đây là hình thức vay
vốn có chi phí thấp nhất đối với các doanh nghiệp xong điều bất lợi của nó là
nếu doanh nghiệp vay tiền theo thoả thuận này thì phải duy trì đảm bảo khả
năng tài chính đề phòng có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân
hàng yêu cầu.
- Tín dụng tuần hoàn: Là một công cụ do ngân hàng thương mại tạo ra để
phục vụ các doanh nghiệp. Nội dung tương tự như hạn mức tín dụng ngoại trừ
những cam kết chính thức và mang tính pháp lý do ngân hàng đưa ra để tài trợ
tín dụng tối đa đã thoả thuận. Theo hình thức này doanh nghiệp có nghĩa vụ
trả cho ngân hàng một khoản chi phí sử dụng nguồn ngân quỹ trên toàn bộ
hạn mức tín dụng đã thoả thuận đổi lại ngân hàng giành cho doanh nghiệp độc
quyền sử dụng nguồn tín dụng đã được tạo ra tuỳ nhu cầu của doanh nghiệp.
- Cho vay theo hợp đồng: Đây là hình thức vay vốn để thực hiện hợp
đồng của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không đủ vốn để thực hiện hợp
đồng đã ký. Thời hạn cho vay theo hợp đồng thường 3 tháng, 6 tháng cùng
lắm là 9 tháng tuỳ theo ngân hàng và uy tín của doanh nghiệp.
Ngô Sơn Bắc Học viện Tài chính
* Các hình thức vay ngắn hạn có bảo đảm:
- Vay có thế chấp bằng khoản phải thu: Một doanh nghiệp muốn nhận
được khoản vay ngắn hạn có thể tiếp xúc với ngân hàng hay công ty tài chính
và đề nghị sử dụng các hoá đơn thu tiền làm vật bảo đảm cho khoản vay. Nếu

Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp giao thông vận tải. Hình thức này dưới dạng vốn góp của lái xe với
phương tiện để lái xe có trách nhiệm hơn với tình trạng kỹ thuật của phương
tiện trong sử dụng.
B. Huy động vốn dài hạn.
Vốn dài hạn là các khoản vốn có thời gian đáo hạn từ một năm trở lên kể
từ ngày doanh nghiệp nhận vốn. Có các hình thức huy động vốn dài hạn sau:
a. Vay có kỳ hạn:
Là hình thức vay vốn ngân hàng, tổ chức tài chính một khoản vay có thời
gian đáo hạn trên một năm. Đó là khoản vay trung và dài hạn và thường được
hoàn trả dần cả vốn lẫn lãi theo một định kỳ trong suốt thời hạn cho vay.
Để được vay doanh nghiệp phải thế chấp một số tài sản của mình như
quyền sử dụng đất, các loại máy móc, bất động sản
Để đảm bảo lợi ích người cho vay, một số điều khoản quan trọng thường
được ghi vào thoả thuận vay là:
- Doanh nghiệp đảm bảo chính xác trong ghi chép và cung cấp thường
xuyên, kịp thời các báo cáo kiểm toán cho Ngân hàng để họ giám sát tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
- Duy trì vốn huy động ổn định ở mức nào đó trong suốt thời kỳ tồn tại
khoản tiền vay để doanh nghiệp không bị thiếu vốn lưu động, không bị rơi
vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm sử dụng khoản vay đúng như mục đích đã
thoả thuận với ngân hàng.
- Doanh nghiệp không được dùng tài sản đã đem ra thế chấp để vay thêm
bất cứ một khoản vay nào khác.
Hình thức vay này có ưu điểm là thời gian sử dụng vốn dài nhưng có
nhược điểm là lãi suất vay tương đối cao và ngân hàng chỉ cho vay 70-90%
nhu cầu.
b. Vay dự phần:
Là hình thức mà người cho vay (ngân hàng - tổ chức tài chính) không chỉ

tài sản. Người cho thuê phải trả tiền thuê, có quyền sử dụng tài sản và có trách
nhiệm bảo quản, bảo trì tài sản.
Đây là hình thức doanh nghiệp có thể vay vốn dễ dàng và biến cải các
nguồn tiền riêng thành tài sản có tỷ lệ hoàn vốn cao thu được khoản lợi tức
(do áp dụng khấu hao nhanh) trách được lạc hậu về công nghệ (thuê tài sản
thiết bị hiện đại). Chi phí thuê mua thường cao hơn chi phí vay vốn để đầu tư,
18
Chuyên đề tốt nghiệp
mua sắm tài sản cố định, doanh nghiệp cũng phải chịu tất cả rủi ro liên quan
đến tài sản thuê và tất cả các điều khoản thoả thuận trong hợp đồng.
Cần chú ý rằng doanh nghiệp có thể bán tài sản của mình cho một định
chế tài chính nào đó để lấy tiền mặt rồi sau đó thuê mua lại các định chế tài
chính chính tài sản đó. Hình thức tăng vốn này được gọi là hình thức bán và
tái thuê, nó rất thông dụng khi huy động vốn trung hạn.
e. Phát hành trái phiếu và kỳ phiếu:
Một doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu và kỳ phiếu đây là những
giấy hẹn nợ được cấp để chứng minh khoản nợ của doanh nghiệp đối với
người giữ chúng.
- Kỳ phiếu là khoản vay có bảo đảm bằng quyền lưu giữ đối với tài sản
của doanh nghiệp, còn trái phiếu là những khoản vay không có bảo đảm.
- Trái phiếu có lãi suất cố định và đến kỳ hạn tổng số tiền ghi trên trái
phiếu sẽ hoàn trả lại cho trái chủ. Để khuyến khích công chúng mua trái phiếu
doanh nghiệp có thể phát hành loại trái phiếu khả hoán (chuyển đổi được)
nghĩa là người mua được quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần thường
của doanh nghiệp vào thời điểm nào đó trong tương lai với tỷ lệ chuyển đổi
đã được ấn định.
f. Cổ phần ưu đãi:
Đây là hình thức huy động vốn dài hạn thường được doanh nghiệp giành
cho một số quyền ưu đãi nào đó so với cổ phần thường và là hình thức trung
gian giữa trái phiếu và cổ phần thường. Cổ phần ưu đãi có quyền ưu tiên hơn

cứ cổ phần mới theo tỷ lệ tương ứng với quyền sở hữu của họ.
C. Các biện pháp để doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả các hình thức huy
động vốn.
* Hoàn thiện phương án sản xuất kinh doanh:
Đây là điều cốt tử với các doanh nghiệp vì bất cứ doanh nghiệp nào tham
gia sản xuất kinh doanh đều mong thu được lãi. Điều này không chỉ đúng với
các doanh nghiệp sản xuất mà còn đúng với các tổ chức cá nhân cung cấp vồn
cho doanh nghiệp. Nhất là trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp huy động
vốn thông qua thị trường tài chính, doanh nghiệp phải giải trình quá trình sử
dụng vốn vay đó sao cho có lợi nhất do vậy để tạo niềm tin thì doanh nghiệp
luôn luôn vươn tới sự hoàn thiện phương án sử dụng vốn có hiệu quả.
* Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng cơ hội cho doanh nghiệp
hoàn trả vốn vay:
- Phải xác định cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp.
20
Chuyên đề tốt nghiệp
- Xác định quy mô vốn hợp lý.
-Lựa chọn phương thức huy động vốn với chi phí là nhỏ nhất.
- Có phương án sản xuất khả thi.
* Phát triển và hoàn thiện các trung gian tài chính:
Cần đa dạng hoá hình thức tổ chức của các trung gian tài chính để tạo sự
cạnh tranh giữa chúng vơí nhau đồng thời đơn giản hoá các thủ tục vay vốn
để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn thuận lợi hơn. Quan hệ trung gian
tài chính bao gồm các quan hệ:
- Quan hệ với hệ thống ngân sách Nhà nước.
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các tổ chức tài chính.
- Quan hệ tài chính với hộ dân cư.
- Quan hệ với doanh nghiệp khác.
- Quan hệ doanh nghiệp với người lao động.
- Quan hệ với các tổ chức nước ngoài.

nhập, theo dõi thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê và phải trích khấu hao theo
quy định.
+ Thế chấp: Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử
dụng của mình để cầm cố thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tài
chính, tín dụng theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật.
+ Nhượng bán: Doanh nghiệp được nhượng bán tài sản không cần dùng,
lạc hậu về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh.
+ Thanh lý: Doanh nghiệp được thanh lý những tài sản đã lạc hậu mà
không thể nhượng bán được hoặc bị hư hỏng không có khả năng phục hồi.
- Sử lý tổn thất tài sản: Việc xử lý tổn thất tài sản tuân theo nguyên tắc
sau
+ Nếu do nguyên nhân chủ quan thì người gây ra phải bồi thường
+ Nếu do nguyên nhân khách quan đối với tài sản đã mua bán bảo hiểm
thì được tổ chức bảo hiểm bồi thường.
+ Tổn thất còn lại sau khi trừ đi khoản bồi thường được dùng quỹ dự
phòng tài chính nếu có để bù đắp, nếu thiếu được hạch toán vào chi phí kinh
doanh.
+ Các trường hợp tổn thất tài sản vì lý do bất khả kháng như thiên tai, hoả
hoạn thì hội đồng quản trị, giám đốc lập phương án báo cáo các cơ quan tài
22
Chuyên đề tốt nghiệp
chính. Cơ quan tài chính trao đổi với cơ quan quyết định thành lập doanh
nghiệp để quyết định xử lý hoặc trình Thủ tướng chính phủ quyết định.
- Đánh giá lại tài sản: Việc đánh giá lại tài sản được thực hiện trong các
trường hợp sau
+ Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của Nhà nước.
+ Thực hiện cổ phần hoá, đa dạng hoá hình thức sở hữu.
+ Dùng tài sản để liên doanh góp vốn cổ phần.
+ Điều chỉnh giá để đảm bảo giá trị thực tế tài sản theo chủ trương của
Nhà nứơc.

trong kỳ
Hệ số hao mòn TSCĐ = Số tiền luỹ kế KH/NG TSCĐ ở thời điểm đánh
giá.
- Hệ số trang bị tài sản cố định = NG TSCĐ trong kỳ / Số công nhân trực
tiếp sản xuất.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị tài sản cố định cho một người công
nhân trong doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Phản ánh một đồng tài sản cố
định trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = DT trong kỳ / NG TSCĐ trong kỳ.
- Kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp: Phản ánh quan hệ của từng
nhóm, loại chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp.
B. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho ta thấy số vòng quay
của vốn lưu động trong một kỳ.
Vòng quay VLĐ = DT trong kỳ / VLĐ trong kỳ.
- Chỉ tiêu thời gian quay một vòng luân chuyển VLĐ:
Số ngày một vòng quay VLĐ = 360 ngày/Số vòng quay VLĐ trong năm.
- Chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết một đồng
vốn lưu động tham gia vào sản xuất trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh lợi VLĐ = LN trong kỳ/VLĐ trong kỳ.
- Hàm lượng vốn lưu động hay mức đảm nhiệm vốn lưu động: Chỉ tiêu
này phản ánh muốn có một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu
24
Chuyên đề tốt nghiệp
động.
Mức đảm nhiệm của VLĐ = VLĐ trong kỳ/ DT trong kỳ.
C. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn.
- Chỉ tiêu tỷ suất doanh thu trên vốn: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn
tham gia sản xuất tạo ra bao đồng doanh thu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status