BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ THUẬN
VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ
VÀO DẠY HỌC TÍCH PHÂN CHO HỌC SINH KHÁ, GIỎI
TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán.
Mã số: 60 14 01 11 SƠN LA- 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Sơn la, ngày 01 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thuận LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm luận văn không chỉ bản thân tác giả đã
phải nỗ lực cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo mà bên cạnh đó tác
giả đã được sự hướng dẫn tận tình của TS. Nguyễn Triệu Sơn và được
sự giúp đỡ của các thầy, cô trong khoa Toán trường Đại học Tây Bắc,
các thầy, cô ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội tham gia giảng dạy lớp
cao học về lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán KI –Trường
Đại học Tây Bắc và các bạn bè đồng nghiệp. Trong suốt thời gian
nghiên cứu để hoàn thành luận văn TS. Nguyễn Triệu Sơn đã hướng
dẫn, góp ý, định hướng, chỉnh sửa, bổ xung giúp cho em có hướng đi
sâu khai thác và tìm hiểu vấn đề mà em nghiên cứu. Các thầy, cô giảng
dạy đã cung cấp, truyền đạt cho em những kiến thức, lý luận cơ bản
làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài. Em xin chân thành cảm ơn TS.
Nguyễn Triệu Sơn và tất cả các thầy, cô. Bên cạnh đó tác giả cảm ơn
ban Giám hiệu, tổ Toán- Tin trường PTDT Nội trú tỉnh Sơn La, gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, ủng hộ
để tác giả hoàn thành xong luận văn này.
Trong quá trình làm, luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu
sót, tác giả rất mong được sự góp ý kiến từ phía thầy, cô, bạn bè, đồng
nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn./.
Phó giáo sƣ
PTS
Phó tiến sĩ
PPTQ
Phƣơng pháp trực quan
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THPT
Trung học phổ thông
TS
Tiến sĩ MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………….
1
2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………….
3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………
4
trường PTDT Nội trú tỉnh Sơn la 28
2.1. Định hƣớng về biện pháp sƣ phạm vận dụng phƣơng pháp dạy
học khám phá vào dạy học sinh giải các bài toán tích phân………
28
2.2. Một số biện pháp sƣ phạm vận dụng PPDH khám phá vào dạy
một số dạng toán tích phân cho học sinh khá, giỏi trƣờng PTDT Nội trú tỉnh Sơn la………………………………………………….
29
2.2.1. Biện pháp sƣ phạm 1: Vận dụng kiểu “Khám phá dẫn dắt” để
dạy học sinh giải các bài toán về tích phân……………………
29
2.2.2. Biện pháp sƣ phạm 2: Vận dụng kiểu “Khám phá hỗ trợ” để
dạy học sinh giải các bài toán về tích phân ………………………
41
2.2.3. Biện pháp sƣ phạm 3: Vận dụng kiểu “Khám phá tự do” để
dạy học sinh giải các bài toán về tích phân……………………….
63
2.2.4. Biện pháp sƣ phạm 4: Vận dụng phƣơng pháp dạy học khám
phá để giúp học sinh phát hiện những sai lầm khi tính tích phân
68
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay vấn đề phát triển khả năng tìm tòi, khám phá và tích cực hoá
hoạt động tƣ duy của học sinh đã trở thành một trong những nhiệm vụ chủ
yếu của việc dạy và học trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật. Nhờ
những đặc điểm của toán học và mối liên hệ chặt chẽ giữa toán học với những
tiến bộ trong khoa học kĩ thuật mà việc giảng dạy toán ở trƣờng THPT có thể
tạo ra nhiều khả năng để học sinh tìm tòi, khám phá và tích cực hoá tƣ duy
trong quá trình dạy học. Chính vì thế, để đáp ứng kịp với sự phát triển của xã
hội hiện nay có rất nhiều các phƣơng pháp dạy học tích cực. Đây là những
phƣơng pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, độc lập, sáng
tạo của học sinh nhƣ: Phƣơng pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề; phƣơng
pháp dạy học hợp tác; phƣơng pháp dạy học khám phá…. Trong đó, phƣơng
pháp dạy học khám phá là một trong những phƣơng pháp dạy học tích cực có
thể phát huy đƣợc tính chủ động, tích cực của học sinh và có thể vận dụng
đƣợc trong các trƣờng phổ thông. Với phƣơng pháp này, con đƣờng đi tới
kiến thức mới đƣợc xây dựng trên cơ sở kiến thức sẵn có của học sinh, thông
qua các hoạt động tích cực của họ, dƣới sự định hƣớng giúp đỡ của ngƣời
thầy sẽ đƣợc tìm ra. Điều đó sẽ làm cho học sinh cảm thấy hứng thú và sẽ
kích thích đƣợc sự tìm tòi kiến thức mới trong quá trình học tập.
Môn Toán là một môn học tƣơng đối khó đối với học sinh ở bậc THPT.
Nó đòi hỏi học sinh phải có tƣ duy lôgic và khả năng tính toán tốt. Trƣớc
những sự tiến bộ nhƣ vũ bão của khoa học kĩ thuật và nếu không có những
hiểu biết tối thiểu về toán học thì không thế áp dụng những kiến thức hiện đại
về khoa học, tự nhiên và cũng không thể áp dụng những kiến thức đó vào kĩ
thuật và đời sống. Để giúp học sinh nhận thức đƣợc điều đó thì trách nhiệm
thuộc về các giáo viên Toán ở bậc THPT. Đặc biệt khi nói đến Toán học là
2
hoá. Tình trạng phổ biến nhất hiện nay là các em không tiếp thu đƣợc đầy đủ
các kiến thức đã học. Đặc biệt, vấn đề về ngôn ngữ và tƣ duy là một trở ngại
lớn đối với các em là học sinh dân tộc khi học tập bộ môn Toán. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây đƣợc sự chỉ đạo đúng hƣớng của Tỉnh ủy, Sở Giáo
dục- Đào tạo Sơn La và đƣợc sự quan tâm của các cấp chính quyền trong tỉnh,
trƣờng PTDT Nội trú tỉnh Sơn La đã đƣợc tổ chức thi tuyển sinh đầu vào. Do
đó chất lƣợng học tập của học sinh đã đƣợc cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ thi đỗ tốt
nghiệp lớp 12 trong 3 năm trở lại đây đều đạt 100%, tỉ lệ thi đỗ Đại học, Cao
đẳng cũng tƣơng đối cao. Số học sinh khá, giỏi cũng tăng rõ rệt. Nên vấn đề
đặt ra đối với các giáo viên Toán trƣờng PTDT Nội trú Tỉnh là bồi dƣỡng
đƣợc đội tuyển học sinh giỏi Toán các cấp và nâng cao tỉ lệ học sinh thi đỗ
Đại học, Cao đẳng. Chính vì thế tôi lựa chọn đề tài:
“ Vận dụng phương pháp dạy học khám phá vào dạy học tích phân cho
học sinh khá giỏi trường PTDT Nội trú tỉnh Sơn La”.
Đề tài tập trung vào việc hƣớng dẫn học sinh biết cách tìm tòi “ khám
phá” và tự phân loại đƣợc một số dạng toán tích phân, nêu lên đƣợc một số
phƣơng pháp giải cho từng dạng bài tập, tránh khỏi những sai lầm trong quá
trình giải các bài toán tính tích phân. Từ đó giúp học sinh có thể dễ dàng hơn
trong việc giải các bài toán tính tích phân. Qua nội dung này học sinh phát
huy đƣợc khả năng phân tích, tổng hợp, khám phá tìm lời giải của bài toán.
Từ đó hình thành cho học sinh khả năng tƣ duy sáng tạo trong học tập, đặc
biệt đối với học sinh khá, giỏi các trƣờng PTDT Nội Trú.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí luận về dạy học khám phá để tổ chức cho học sinh khá, giỏi
trƣờng PTDT Nội trú tỉnh Sơn la nắm đƣợc phƣơng pháp giải một số dạng bài
toán tính tích phân – Giải tích 12 – THPT, nhằm phát huy tính tích cực chủ
4
động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập và nâng cao hiệu quả
giảng dạy nội dung này .
tính tích phân vừa học đƣợc phƣơng pháp tìm tòi, khám phá và cách gải quyết
vấn đề đối với các bài toán tính tích phân.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Tham khảo tài liệu, thu thập tài liệu, đúc rút, tổng kết
kinh nghiệm.
- Điều tra khảo sát: Dự giờ, kiểm tra chất lƣợng học sinh, nghiên cứu hồ sơ
giảng dạy, điều tra trực tiếp thông qua các giờ học. Lựa chọn các ví dụ, bài
tập cụ thể phân tích tỉ mỉ những sai lầm của học sinh vận dụng hoạt động
năng lực tƣ duy và kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh để từ đó đƣa ra
lời giải đúng của bài toán.
- Thử nghiệm sƣ phạm nhằm bƣớc đầu kiểm tra tính khả thi và tính hiệu
quả của biện pháp đƣợc đề xuất trong luận văn, kiểm tra kết quả, phân tích
đánh giá kết quả.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chƣơng.
Chương I- Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II- Một số biện pháp sƣ phạm vận dụng PPDH khám phá vào dạy
một số dạng toán tích phân cho học sinh khá, giỏi trƣờng PTDT Nội trú tỉnh
Sơn La
Chương III- Thực nghiệm sƣ phạm
6
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề cơ bản về phương pháp dạy học khám phá
Nội dung mục này dựa theo tài liệu
1
,
chống lại thói quen học tập thụ động. Chính vì thế, trong luật giáo dục Việt
Nam, Điều 24.2 qui định: “ Phương pháp giáo dục ở phổ thông phải phát huy
7
tính tích cực, chủ động sáng tạo, tự giác của học sinh; phù hợp với từng đặc
điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”. Tuy nhiên, đổi mới phƣơng pháp dạy học
phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển, có nghĩa là trong quá trình tìm kiếm
những phƣơng pháp dạy học mới vừa đồng thời cải tạo các phƣơng pháp dạy
học truyền thống cho phù hợp với nội dung hiện đại.
1.1.1.2. Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực
Trong các phƣơng hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học thì phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học là cốt lõi, là mục đích của đổi mới
phƣơng pháp dạy học, giữ vai trò chi phối các phƣơng hƣớng khác. Lý luận
dạy học hiện đại đã tổng kết các phƣơng pháp dạy học truyền thống và đƣa ra
nhiều phƣơng pháp dạy học mới hƣớng vào việc phát huy tính chủ động, tích
cực, sáng tạo của ngƣời học và tạo điều kiện cho ngƣời học tự tìm kiếm kiến
thức và qua đó huấn luyện phƣơng pháp tự học nhƣ các phƣơng pháp đàm
thoại phát hiện, phƣơng pháp dạy học khám phá; phƣơng pháp dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề; phƣơng pháp dạy học hợp tác…. Ngƣời ta dùng
thuật ngữ “ Phương pháp dạy học tích cực” để làm tên gọi chung cho các
phƣơng pháp đó. Chúng có chung đặc điểm cơ bản là đảm bảo việc học (chứ
không phải việc dạy) là trung tâm của hoạt động Dạy- Học.
1.1.1.3. Một số phương pháp dạy học tích cực
Nội dung của đổi mới phƣơng pháp dạy học thực chất là việc vận dụng
phối hợp các phƣơng pháp dạy học tích cực một cách hợp lý vào dạy học.
Không thể chỉ có một phƣơng pháp dạy học dạy học duy nhất hoặc một số ít
phƣơng pháp dạy học đƣợc áp dụng cho một môn học. Tuy vậy, do đặc điểm
nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu và điều kiện dạy học toán học nên có một
cách tổ chức các hoạt động học tập hoặc về mức độ, hiệu quả của sự tìm tòi
phát hiện.
1.1.2.2. Bản chất và đặc trưng của quá trình dạy học khám phá
a) Bản chất:
- Trong dạy học khám phá đòi hỏi ngƣời giáo viên gia công rất nhiều để
chỉ đạo các hoạt động nhận thức của học sinh. Hoạt động của ngƣời thầy bao
gồm :
+) Định hƣớng phát triển tƣ duy cho học sinh, lựa chọn nội dung của
vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với học sinh.
+) Tổ chức học sinh trao đổi theo nhóm trên lớp.
+) Hƣớng dẫn sử dụng phƣơng tiện trực quan hỗ trợ cần thiết và tạo ra
môi trƣờng học tập để học sinh giải quyết vấn đề. Kết qủa dạy học khám phá
đem lại ý nghĩa về tinh thần cho ngƣời học và ngƣời dạy.
- Trong dạy học khám phá, học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông
qua con đƣờng nhận thức: Từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp
tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học;
Giáo viên nhận xét ý kiến của học sinh và chốt lại ý chính để học sinh làm
cơ sở tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân .
- Hoạt động khám phá tri thức mới là một quá trình nhận thức độc đáo của
ngƣời học, họ có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cƣờng tính
mềm dẻo trong tƣ duy và năng lực tự học. Ðó chính là nhân tố quyết định sự
phát triển bản thân ngƣời học. Vậy bản chất của quá trình dạy học khám phá
là: Sự tìm kiếm, khám phá tri thức khoa học và chuẩn mực xã hội.
b) Đặc trưng cơ bản của dạy học khám phá.
- Ðặc trƣng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và
hoạt động tích cực hợp tác của lớp, nhóm, để giải quyết vấn đề.
10
- Dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài.
Khác với dạy học nêu vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một
1.1.2.5. Các kiểu dạy học khám phá
Trong dạy học, hoạt động khám phá gồm các kiểu:
Kiểu 1: Khám phá dẫn dắt (Guided Discovery). Giáo viên đƣa ra vấn đề
và dẫn dắt học sinh tìm cách giải quyết vấn đề đó.
Kiểu 2: Khám phá hỗ trợ (Modified Discovery). Giáo viên đƣa ra vấn đề
và gợi ý học sinh trả lời.
Kiểu 3: Khám phá tự do (Free Discovery). Vấn đề, đáp án và phƣơng
pháp giải quyết do học sinh tự lực tìm ra.
1.1.2.6. Các hình thức (mức độ) dạy học khám phá
Tùy thuộc vào việc giáo viên có can thiệp vào quá trình khám phá của học
sinh hay không mà có thể phân chia các hoạt động khám phá thành hai loại:
Khám phá có hƣớng dẫn (guided discovery) và khám phá tự do (free
discovery).
Trong khám phá có hƣớng dẫn, giáo viên nêu vấn đề, cung cấp ngữ cảnh,
các thiết bị cần thiết, còn học sinh có cơ hội khám phá, giải quyết vấn đề. Ở
đây giáo viên đóng vai trò là nguồn động viên, giúp đỡ khi cần thiết để đảm
bảo học sinh không gặp rắc rối, hoặc không làm đƣợc các khảo sát, thí
nghiệm. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của giáo viên cần ở dạng đặt câu hỏi để giúp
học sinh suy nghĩ về qui trình khám phá chứ không phải bảo các em cần phải
làm gì. Khám phá có hƣớng dẫn có 2 mức độ: Hƣớng dẫn toàn phần hay
hƣớng dẫn một phần.
Sau khi học sinh đã tham gia nhiều hoạt động khám phá có hƣớng dẫn họ
có thể đã sẵn sàng cho khám phá tự do. Trong khám phá tự do, họ phải tự xác
định điều họ muốn nghiên cứu, lựa chọn con đƣờng, giải pháp và tự lực
12
nghiên cứu cho đến khi tìm đƣợc kết quả. Cho dù là hƣớng dẫn toàn phần hay
hƣớng dẫn một phần thì giáo viên cũng phải làm thế nào để học sinh luôn có
cảm giác là mình thực sự tham gia vào quá trình khám phá. Các mức độ của
dạy học khám phá nhƣ sau:
học sinh
Xác định vấn đề trong
tình huống tìm lời giải
theo con đƣờng của
mình
Khám phá tự do
Bảng 1.1- Các mức độ của dạy học khám phá
1.1.2.7. Điều kiện thực hiện của Phương pháp dạy học khám phá
Những biểu hiện của học sinh có khả năng khám phá trong học tập:
- Có khả năng hiểu các thông tin mới.
- Biết cách lập kế hoạch trƣớc khi bắt tay vào giải quyết vấn đề mới, tình
huống mới.
- Có kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa và
di chuyển các chức năng, thái độ vào các tình huống khác nhau.
- Có khả năng huy động đúng đắn kiến thức và phƣơng pháp cũ để giải
quyết vấn đề, bƣớc đầu khám phá các tình huống mới. Có khả năng huy động
kiến thức và phƣơng pháp bằng nhiều cách khác nhau.
13
- Có năng lực biến đổi vấn đề, bài toán để dễ dàng huy động kiến thức,
phƣơng pháp và công cụ thích hợp để giải quyết vấn đề.
- Chủ động, tích cực trong việc tiếp cận và giải quyết các tình huống và vấn
đề mới, phức tạp.
- Có khả năng khám phá, phát triển phƣơng pháp giải từ một bài toán thành
phƣơng pháp giải của nhiều bài toán khác.
1.1.2.8. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học khám phá
a. Ưu điểm
- Phát huy đƣợc nội lực của học sinh, tƣ duy tích cực, độc lập, sáng tạo
trong quá trình học tập
- Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp
+) Là phƣơng pháp dạy học cho phép ngƣời học có thời gian tiếp thu và
cập nhật thông tin. Trong khi dạy học, giáo viên thƣờng vội vàng trong việc
truyền thụ tri thức cho học sinh, trong khi đó học sinh cần thời gian để suy
nghĩ, suy luận để tìm hiểu sâu về các khái niệm, các qui luật. Để thông tin có
thể trở thành một phần trong não của ngƣời học với một ý nghĩa nhất định,
ngƣời học cần có thời gian để làm điều đó
b. Hạn chế
- Phƣơng pháp dạy học khám phá không phải lúc nào cũng vận dụng đƣợc,
bài nào cũng có thể khám phá đƣợc vì việc áp dụng dạy học khám phá đòi hỏi
học sinh ( đa số) phải có những kiến thức, kĩ năng cần thiết để thực hiện khám
phá do giáo viên tổ chức. Việc triển khai dạy học khám phá đòi hỏi ngƣời
giáo viên phải có kiến thức, nghiệp vụ vững vàng, có sự chuẩn bị bài giảng
công phu.
15
- Thời gian của quá trình khám phá ra kiến thức mới chiếm khá nhiều trong
toàn bộ tiến trình của bài học, nên tùy thuộc vào từng nội dung, mục tiêu dạy
học và sự phân phối thời gian dạy học mới có thể áp dụng đƣợc.
- Nếu trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều thì vấn đề đƣa ra
khám phá chỉ có thể phù hợp với nhóm đối tƣợng học sinh này mà không phù
hợp với nhóm đối tƣợng học sinh khác.
1.1.2.9. Cách thức tổ chức dạy học khám phá
a. Hoạt động của giáo viên
*) Xác định mục đích
- Về nội dung :
+) Xác định nội dung kiến thức mới là gì?
+) Tại sao lựa chọn vấn đề này mà không lựa chọn vấn đề khác có trong
bài giảng?
+) Vấn đề lựa chọn liệu khả năng học sinh có thể tự khám phá đƣợc
không?
nguồn kiến thức vẫn là lời nói, chúng ta đã chuyển kiểu dạy học thầy nói trò
nghe thành trò nói trò nghe, nếu thế thì thầy nói cho trò nghe dễ hiểu hơn.
Qua đó ta thấy PTTQ thật sự cần thiết trong dạy học khám phá, nó đóng vai
trò là nguồn kiến thức, là động cơ kích thích sự hợp tác tích cực trong nhóm.
- Các phƣơng tiện trực quan đó có thể là : hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, mô
hình… đã có sự gia công sƣ phạm của giáo viên và đƣợc thể hiện trong giấy,
tranh, đèn chiếu, bảng dính …. PTTQ sẽ kích thích sự quan sát tìm tòi, tranh
luận của học sinh. Ðó là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của
dạy học khám phá.
*) Sử dụng nhóm trong dạy học khám phá
17
Có những vấn đề đƣợc lựa chọn, một cá nhân không thể giải quyết
đƣợc, nên cần thiết phải có sự cộng tác của nhiều ngƣời, Vì thế hoạt động
nhóm rất cần thiết trong dạy học khám phá. Khi chia học sinh thành từng
nhóm, nên lƣu ý một số điều kiện sau đây:
- Lựa chọn nội dung cho phù hợp với phƣơng pháp học nhóm.
- Phiếu giao vừa sức.
- Quy định thời gian thảo luận cụ thể.
- Lệnh của giáo viên phải rõ.
- Giáo viên theo dõi và hỗ trợ nhóm khi cần thiết.
- Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các nhóm. Số lƣợng học sinh của
mỗi nhóm là bao nhiêu tùy theo nội dung của vấn đề.
- Sự phân nhóm đảm bảo cho các thành viên đối thoại và giáo viên di
chuyển thuận lợi để bao quát lớp, đối thoại với trò. Có thể: bố trí chỗ ngồi
theo hình chữ O, chữ U, hình vuông…
- Nếu vấn đề chỉ cần quan sát và trao đổi thông tin trong nhóm thì có thể
bố trí mỗi nhóm gồm từ 6 đến 12 học sinh.
- Nếu vấn đề yêu cầu ngoài sự trao đổi với nhau còn phải thực hiện một
việc làm nào đó nhƣ báo cáo, hoàn thiện sơ đồ… thì mỗi nhóm chỉ nên có từ