BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LÊ VĂN BẮC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XỬ LÝ CHẤT THẢI BÙN ĐỎ TỪ QUÁ TRÌNH
SẢN XUẤT BAUXIT LÀM CHẤT HẤP PHỤ VÀ ỨNG DỤNG
XỬ LÝ ION Zn
2+
TRONG NƯỚC THẢIHà Nội – 11/2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LÊ VĂN BẮC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XỬ LÝ CHẤT THẢI BÙN ĐỎ TỪ QUÁ TRÌNH
SẢN XUẤT BAUXIT LÀM CHẤT HẤP PHỤ VÀ ỨNG DỤNG
XỬ LÝ ION Zn
2+
TRONG NƯỚC THẢI
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
TS. TỐNG THỊ THANH HƯƠNG
Hà Nội – 11/2014
v
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những Thầy
Cô giáo trường Đại học Hồng Đức, Đại học Mỏ-Địa chất nói chung, những Thầy
Cô giáo trong Khoa Dầu Khí và trong bộ môn Lọc Hóa - Dầu trường Đại học Mỏ-
Địa chất nói riêng. Cảm ơn Thầy, Cô đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo cũng như giúp đỡ
1.2.2. Thành phần của bùn đỏ 11
1.2.3. Phương pháp thải 15
1.2.4.Tác động về môi trường 18
1.2.5. Ứng dụng của bùn đỏ 19
1.2.6 Bùn đỏ từ nhà máy hóa chất Tân Bình 20
1.3 TỔNG QUAN KHÍ THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ XỬ LÝ CO2 TRONG KHÍ
THẢI CÔNG NGHIỆP 21
1.3.1. Khí thải công nghiệp 21
1.3.2. Xử lý CO2 trong khí thải công nghiệp 21
1.4. NƯỚC THẢI CÓ CHỨA KIM LOẠI NẶNG 25
1.4.1 Định nghĩa và nguồn phát sinh kim loại nặng 25
1.4.2 Tính chất của kim loại nặng 26
1.4.3 Tác hại của ô nhiễm kim loại nặng 27
1.4.4 Các phương pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng 27
1.4.5 Kẽm (Zn) 31
CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM 33
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 33
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 33
vii
2.3 HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ DỤNG CỤ 33
2.3.1 Hóa chất 33
2.3.2 Thiết bị 33
2.4. CHUẨN BỊ VẬT LIỆU HẤP PHỤ TỪ BÙN ĐỎ 34
2.4.1 Xử lý thô và hoạt hóa bùn đỏ 34
2.4.2 Chuẩn bị dung dịch Zn2+ 34
2.5 QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM CHUNG 35
2.5.1 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc đến khả năng hấp phụ bùn đỏ
đối với ion Zn2+ 36
2.5.2. Khảo sát ảnh hưởng pH ban đầu của dung dịch chứa ion Zn2+ tới quá
Hình 1.3 Sơ đồ hiệu suất của quá trình sản xuất nhôm 11
Hình 1.4 Độ tan của hematite và goethite theo pH 11
Hình 1.5 Các nhóm hydroxyl bề mặt trên các oxit sắt 12
Hình 1.6 Đường cong chuẩn độ của vữa bùn đỏ và dung dịch kiềm 14
Hình 1.7 Sơ đồ thải bùn đỏ khô nhiều lớp của Alcoa [3] 18
Hình 1.8 Các phương án xử lý và tái chế bùn đỏ[21] 19
Hình 1.9 Ô nhiễm kim loại nặng do tác động của con người đối với đất và
nước[10] 26
Hình 2. 1 Sơ đồ quy trình hoạt hóa bùn đỏ 34
Hình 2. 2 Sơ đồ quy trình thực nghiệm chung 35
Hình 2. 3 Đường hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir 38
Hình 2. 5 Đường hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich 39
Hình 2. 6 Sự phụ thuộc lgq vào lgCe 39
Hình 2. 7 Sơ đồ pha các tia X phản xạ trên tinh thể 40
Hình 3. 2 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu bùn đỏ hoạt hóa RM 25 44
Hình 3. 3 Ảnh SEM của mẫu bùn đỏ RM 25 a) trước hoạt hóa và b) sau hoạt
hóa 45
Hình 3. 4 Đường chuẩn thể hiện mối quan hệ giữa cường độ hấp thụ và nồng
độ ion Zn2+ 47
Hình 3. 5 Ảnh hưởng của thời gian đến dung lượng hấp phụ 48
ix
Hình 3. 7 Ảnh hưởng của lượng BĐHH khác nhau đến hiệu suất hấp phụ ion
Zn2+ 50
Hình 3. 8 Mô phỏng theo phương trình Langmuir 51
Hình 3. 9 Mô phỏng theo phương trình Freundlich 52
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân bố các trữ lượng bauxite ở các Châu lục [12] 4
tan và tách quặng bauxit. Đây là hợp chất độc hại, thậm chí bùn đỏ được ví như
“bùn bẩn”. Hiện nay, trên thế giới chưa có nước nào xử lý triệt để được vấn đề bùn
đỏ. Cách phổ biến mà người ta vẫn thường làm là chôn lấp bùn đỏ ở các vùng đất ít
người, ven biển để tránh độc hại [12].
Đặc biệt ở nước ta hiện nay đang xây dựng nhiều dự án khai thác Bauxit
như: Nhân Cơ (Tỉnh Đắc Nông) và Tân Rai (Tỉnh lâm Đồng), cả hai nhà máy đều
có công suất 650 000 tấn alumin/năm. Với quy hoạch phát triển bauxit ở Tây
Nguyên đến năm 2015 mỗi năm sản xuất khoảng 7 triệu tấn Alumin, tương đương
với việc thải ra môi trường 10 triệu tấn bùn đỏ. Đến năm 2025 là 15 triệu tấn alumin
tương đương với 23 triệu tấn bùn đỏ. Cứ như thế sau 10 năm sẽ có 230 triệu tấn và
sau 50 năm sẽ có 1,15 tỷ tấn bùn đỏ tồn đọng trên vùng Tây Nguyên. Hiện tại, ở
Việt Nam hầu như chưa có biện pháp hữu hiệu để xử lý cũng như tận dụng nguồn
chất thải này. Mặc dù, bên trong bùn đỏ có chứa một số thành phần hóa học rất hữu
ích cho các ngành công nghiệp khác như: công nghiệp thép, công nghiệp xi măng,
vật liệu xây dựng nhẹ…[12].
Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường nước hiện nay vẫn là một vấn đề được toàn
xã hội quan tâm. Cùng với sự gia tăng các hoạt động công nghiệp là việc sản sinh
các chất thải nguy hại, tác động tiêu cực trực tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh
2
thái. Các hoạt động khai thác mỏ, công nghiệp thuộc da, công nghiệp điện tử, mạ
điện, lọc hóa dầu hay công nghệ dệt nhuộm…, đã tạo ra các nguồn ô nhiễm chính
chứa các kim loại nặng độc hại Trong đó phải kể đến ion Zn
2+
. Zn là dinh dưỡng
thiết yếu nhưng nó sẽ gây ra các chứng bệnh nếu thiếu hụt cũng như dư thừa. Zn
còn có khả năng gây ung thư, gây ngộ độc hệ thần kinh, sự nhạy cảm, sự sinh sản,
gây độc đến hệ miễn nhiễm [5,13,14,].
Để xử lý các kim loại nặng và màu trong nước thải nói chung và ion Zn
2+
2+
.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bùn đỏ.
- Quá trình hấp phụ của bùn đỏ hoạt hóa đối với ion Zn
2+
.
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu hoạt hóa bùn đỏ
- Nghiên cứu quá trình hấp phụ của bùn đỏ hoạt hóa đối với ion Zn
2+
.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
3
- Tìm hiểu và thu thập các tài liệu về hoạt hóa bùn đỏ và cấu trúc, tính chất của
bùn đỏ.
- Tìm hiểu về nước thải chứa ion Zn
2+
và ô nhiễm khí thải CO
2
.
- Tìm hiểu về quá trình hấp phụ.
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp hoạt hóa bùn đỏ.
- Phương pháp đặc trưng hóa lý của xúc tác
+ Phương pháp nhiễu xạ Rơnghen (XRD)
+ Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)
Bauxit là một trong những khoáng sản phổ biến trên bề mặt Trái đất và là
một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản có trữ lượng rất lớn trên thế giới.
Đặc biệt nước ta cũng có trữ lượng tương đối lớn nguồn tài nguyên khoáng sản này.
Bauxit là một loại quặng nhôm trầm tích có màu hồng, nâu được hình thành từ quá
trình phong hóa các đá giàu nhôm hoặc tích tụ từ các quặng có trước bởi quá trình
xói mòn. Quặng bauxit phân bố chủ yếu trong vành đai xung quanh xích đạo đặc
biệt trong môi trường nhiệt đới. Từ bauxit có thể tách ra alumin (Al
2
O
3
), nguyên
liệu chính để luyện nhôm trong các lò điện phân, chiếm 95% lượng bauxit được
khai thác trên thế giới.
Tên gọi của loại quặng nhôm này được đặt theo tên gọi làng Les Baux-de-
Provence ở miền nam nước Pháp, tại đây nó được nhà địa chất học là Pierre Berthier
phát hiện lần đầu tiên năm 1821. Thành phần hóa học chủ yếu là Al
2
O
3
, SiO
2
, Fe
2
O
3
,
CaO, TiO
2
, MgO… trong đó, Al
2
7 Ấn Độ 1,4
Ứng dụng chủ yếu của Bauxit là làm nguyên liệu cho công nghiệp luyện
nhôm. Ngành công nghiệp sản xuất nhôm kim loại tiêu thụ khoảng 85% quặng
Bauxit trên toàn thế giới. Phần Bauxit còn lại được sử dụng trong 2 lĩnh vực chính
là sản xuất Alumin chuyên dụng ( 10% ) bao gồm Alumin nung và Alumin hoạt
hóa, và sản xuất vật liệu chịu lửa ( 5%). Ví dụ như là gạch chịu lửa, xi măng chịu
lửa và các vật liệu mài [13].
Bảng 1.3 Lĩnh vực ứng dụng của bauxit [22]
Lĩnh vực sử dụng Thành phần hóa học
Al
2
O
3
SiO
2
Fe
2
O
3
Ti
2
O
Luyện kim 50-55 0-15 5-30 0-6
Xi măng 45-55 Max 6 20-30 3
Vật liệu mài Min 55 Max 5 Max 6 Min 2.5
Ngành hóa Min 55-58 Max 5-12 Max 2 0-6
Chịu lửa Min 54-61 Max 1,5-5,5 Max 2 Max 2,5
Tình hình sản xuất bauxit trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.3:
Bảng 1.4 Tình hình khai thác bauxit trên thế giới, ước tính cho năm 2008[22]
Tổng cả thế giới (làm tròn) 202,000 205,000 27.000.000 38.000.00
Theo đánh giá của AOA VAMI RUSAL (Nga), sản lượng alumin (nhôm
oxit) của thế giới năm 2007 đạt 74,7 triệu tấn, tăng 6,9% so với năm 2006 và tăng
40,1% so với năm 2000. Sự tăng trưởng mạnh mẽ sản lượng alumin đạt được là do
nhu cầu về nhôm tăng mạnh, đặc biệt là từ nhu cầu của Trung Quốc và các quốc gia
thuộc Mỹ La tinh. Cũng theo dự báo của RUSAL sản lượng alumin trên thế giới
giai đoạn 2008-2014 sẽ tăng khoảng 50 triệu tấn. Phần lớn alumin được giao dịch
trên thị trường Thế giới thông qua những hợp đồng dài hạn, chỉ có một phần nhỏ,
khoảng 10% tham gia vào thị trường trôi nổi. Giá alumin trên thị trường dao động
bằng khoảng từ 11-15% so với giá nhôm. Nhóm Broc Hunt nghiên cứu thị trường
alumin thế giới và cho ra một dự báo dài hạn về thị trường alumin đến năm 2020
theo bảng dưới đây:
Bảng 1.5 Dự báo về thị trường alumin đến năm 2020 [20]
Đơn vị: Triệu tấn
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2020
7
Sản
lượng
97,7 100,5 104,0 107,0 113,4 118,3 126,8 129,3 148,7
Nhu cầu 95,7 99,4 101,8 107,5 113,1 118,8 127,1 130,3 148,3
Thừa/T
hiếu
2,0 1,1 2,1 -0,5 0,3 -0,5 -0,3 -1,0 0,4
1.1.2.2 Tình hình khai thác và chế biến Bauxit ở Việt Nam.
Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn tài nguyên
bauxit vào loại lớn trên thế giới, tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ
tấn, trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu
vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn (chiếm 98% tổng trữ lượng cả nước), trong đó
gồm Đăk Nông khoảng 3,42 tỷ tấn (chiếm 60% tổng trữ lượng); Lâm Đồng khoảng
− Năm 2000 : khoảng 160 triệu USD
− Năm 2005 : khoảng 250 triệu USD
− Năm 2010 : khoảng 390 triệu USD
− Năm 2015 : khoảng 480 triệu USD
Hiện nay thì nước ta đã có 2 nhà máy khai thác và chế biến Bauxit: Nhân Cơ
(Tỉnh Đắc Nông) với công suất 650 000 tấn/năm và Tân Rai (Tỉnh Lâm Đồng) với công
suất 650 000 tấn/năm [21].
1.1.2. Quy trình Bayer – Nguồn gốc sinh ra bùn đỏ.
Từ khi được phát minh đến nay, công nghệ Baye vẫn chiếm chủ đạo trong
công nghiệp sản xuất alumin của thế giới. Hiện nay và dự báo trong tương lai,
khoảng 90% sản lượng alumin của thế giới vẫn được sản xuất bằng công nghệ này.
Hiện nay, trên thế giới vẫn tồn tại 2 công nghệ Bayer sản xuất alumin từ
bauxit. Công nghệ Bayer Châu Âu và công nghệ Bayer Châu Mỹ. Bauxit dạng
gipxit (hydratgilit) dễ dàng tách thì chỉ cần áp dụng công nghệ Bayer của Châu Mỹ,
bauxit khó hòa tách như bơmit hay diaspor thường phải áp dụng công nghệ Bayer
của Châu Âu hoặc kết hợp công nghệ Bayer với thiêu kết hoặc thiêu kết đối với
bauxit diaspor chứa nhiều silic.
Bùn đỏ là chất thải sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm bằng quy trình Bayer.
Bản chất của phương pháp Bayer là việc sử dụng dung dịch kiềm đặc NaOH ở nhiệt
độ cao để hòa tan chọn lọc các khoáng vật nhôm hidroxit có trong quặng bauxit,
được tóm tắt trong các phương trình 1.1, 1.2, 1.3 dưới đây. Nhiệt độ của phản ứng
còn tùy thuộc vào thành phần của gibbsite (γ-Al(OH)
3
), boehmite (γ-Al(O)OH), và
9
diaspore (α-Al(O)OH) trong quặng bauxit. Bauxit có hàm lượng gibbsite cao thì đòi
hỏi nhiệt độ hòa tách thấp hơn (khoảng 145 – 175
o
C), trong khi với hàm lượng
Al(OH)
4(aq)
-
Al(OH)
3(s)
+ NaOH
(aq)
( 1.3)
Tạo alumin:
2Al(OH)
3(s)
Al
2
O
3
+ 3H
2
O (1.4)
Sản phẩm của quy trình tạo ra dung dịch natri aluminat và phần bã rắn không
tan (gồm 45% dịch lỏng và 55% cặn bùn), hay còn gọi là bùn đỏ, được tách ra bằng
phương pháp lắng gạn. Thông thường cứ mỗi tấn nhôm được sản xuất ra thì có
khoảng 1 – 1.5 tấn bùn đỏ, do đó lượng bùn đỏ thải ra hàng năm là rất lớn. Bùn đỏ
có độ kiềm rất lớn (pH khoảng 10 – 13) nên đòi hỏi phải trung hòa về pH < 9 (tốt
nhất là khoảng 8.5 – 8.9) trước khi được thải ra môi trường. Phần dung dịch lỏng
của bùn đỏ vẫn còn chứa một lượng tương đối cao aluminium và một số anion của
kim loại chuyển tiếp khác. Một số trong số chúng có thể gây hại cho môi trường, do
đó chúng phải được loại bỏ trước khi thải vào môi trường.
Sơ đồ nguyên lý dây chuyền công nghệ kiềm Bayer được giới thiệu trong
hình dưới đây:
Hình 1.4 Độ tan của hematite và goethite theo pH
Sự hòa tan của các oxit sắt được thể hiện trong các phương trình (1.4), (1.5)
cho goethite và phương trình (1.6) cho hematite. Độ tan của hematite được cho là
tăng khi nồng độ ion hidroxit tăng, và tăng trong các dung dịch kiềm theo thứ tự
NaOH > KOH > LiOH.
FeOOH + H
2
O Fe
3+
+ 3OH
-
(1.4)
FeOOH + 3H
+
Fe
3+
+ 2H
2
O (1.5)
0.5 αFe
2
O
3
+ 2.5H
2
O Fe(OH)
4
-
+ H
+
tác giữa chất bị hấp phụ và các nhóm hydroxyl bề mặt trên các oxit sắt. Nguyên tử
oxy của nhóm hydroxyl bề mặt có thể tương tác với các proton, trong khi các iron
kim loại bên dưới đóng vai trò như một axit Lewis và trao đổi nhóm OH
-
cho ligand
khác để hình thành phức bề mặt. Sự hấp phụ các anion đơn giản, các anion oxi, các
ion hữu cơ trên các oxit sắt đã được nghiên cứu rộng rãi. Sự hấp phụ các anion trên
các oxit sắt có thể xảy ra trường hợp đặc trưng cũng như không đặc trưng . Sự hấp
phụ đặc trưng liên quan đến sự thay thế của các nhóm hydroxyl bề mặt bằng ligand
chất hấp phụ. Đó là hấp phụ hóa học, hấp phụ trao đổi ion. Các ion chất hấp phụ đặc
trưng làm thay đổi điện tích bề mặt trên oxide và do đó tạo nên sự thay đổi PZC. Và
chúng thường gắn chặt và không dễ bị thay thế. Các anion hấp phụ đặc trưng trên
các oxit sắt là phosphate, silicate, selenate, arsenate, chlorite, fluorite, citrate,
oxalate. Sự hấp phụ anion ở bất kỳ pH nào sẽ tăng khi tăng khi tăng nồng độ chất bị
hấp phụ. Sự hấp phụ đạt cực đại ở pH thấp và giảm khi tăng pH ngoại trừ silicate.
Sự hấp phụ cation trên oxit sắt cũng diễn ra đặc trưng lẫn không đặc trưng và
thường nhanh chóng ở thời điểm đầu, nhưng sự hấp phụ kim loại vết có thể tiếp tục
tăng nhiều ngày với nhiều lần để đạt cân bằng. Sự hấp phụ Ni, Zn, Cd trên goethite
13
tăng nhiều ngày với nhiều lần để đạt cân bằng. Sự hấp phụ Ni, Zn, Cd trên goethite
tăng khi thời gian phản ứng trên tăng từ 2 giờ - 42 ngày. Sự hấp phụ trên goethite
thường xảy ra ở pH trong khoảng 3 – 8,5.
1.2.2.2 Khoáng silica.
Phần tạp chất chính trong Bauxit là những hợp chất của silic, sắt và titan.
Silica hiện diện trong kaolinite (Al
2
O
3
.2SiO
3
2-
, SO
4
2-
, 2OH
-
, 2Cl
-
, hay hỗn hợp của tất cả phụ thuộc và độ tinh
khiết trong dung dịch hòa tách.
Bảng 1.6 Thành phần của bùn đỏ sinh ra từ các nhà máy sản xuất nhôm ở các
nước trên thế giới [20]
Quốc gia Nhà máy
Thành phần chính (% khối lượng)
Fe
2
O
3
Al
2
O
3
TiO
2
SiO
2
Na
2
O
24,81
38,75
27,7
16,2
12,15
11,13
19,6
27,0
23,0
15,58
14,73
7,29
15,2
14,2
19,0
20,0
3,5
10,11
4,5
28,0
5,12
17,2
22,5
3,3
2,45
4,6
6,87
12,15
5,5
19,9
Hóa học bề mặt của các hạt bùn đỏ vô cùng phức tạp do sự khác nhau của
vữa bùn. Sự khó khăn cũng tăng khi xác định thành phần hóa học của bề mặt bùn đỏ
do lớp bề mặt mỏng (khoảng 5nm - 1µm). Tuy nhiên, do những khoáng và oxide
chiếm thành phần chính trong bùn đỏ đã được biết đến là có tính axit/bazơ trong
dung dịch nước, nên bùn đỏ cũng có thể mang tính chất tương tự. Tính chất
axit/bazơ của bùn đỏ được cho là do các nhóm hydroxyl bề mặt quyết định. Diện
tích bề mặt đặc trưng và khả năng hấp phụ proton của bùn đỏ đã xử lý axit là 20,7
m
2
/g và 2,5 x 10
-2
mol/g. Santona và đồng sự đã tím thấy diện tích bề mặt của bùn
đỏ khác nhau khi không xử lý và có xử lý axit, 18,9 và 25,2 m
2
g
-1
. Việc tăng diện tích
bề mặt sau khi xử lý axit cho thấy bùn đỏ đã bị tan một phần và có thể là cancrinte
(một dạng sodium aluminosilicate) khi mà khối lượng giảm 9% sau khi trung hòa.
Chevedoz và đồng sự đã nghiên cứu tính chất bề mặt của bùn đỏ bằng cách
chuẩn độ điện thế, và thấy rằng có 3 vùng tồn tại, xem hình 1.6, do cơ chế tồn tại
khác biệt nhau. Hạt bùn đỏ có thể lấy H
+
mà không làm thay đổi pH trong vùng I do
sự hiện diện của ion hydroxit tự do phản ứng với proton, sau đó những nhóm
hydroxyl bề mặt sẽ bị ion hóa. Tuy nhiên, một lượng nhỏ nhóm hydroxyl bề mặt
được tìm thấy có dư một proton trong vùng này. Điểm uồn giữa vùng I và vùng II
đại diện cho hạt bùn đỏ trong dung dịch nước cơ bản đang mang nhóm hydroxyl bề
mặt bị ion hóa (S-O
-
cho thấy rằng nó không chỉ có những phức bề mặt trung tính và các tâm SOH ở
điểm PZC, mà còn có cả phức bề mặt dương (như FeOH
2
+
, AlOH
2
+
) và phức bề mặt
âm (như TiO
-
, SiO
-
). Sự giảm PZC thì đặc trưng cho thong tin về những vị trí tích
điện khác nhau trên bề mặt, và việc giải phóng các ion hidroxit tự do vào dung dịch
làm tăng điện tích dương trên bề mặt.
1.2.3. Phương pháp thải.
Các nhà máy alumin thường lưu giữ bùn đỏ ở những chỗ được gọi là bãi thải
bùn đỏ. Tuy nhiên, phương pháp lưu giữ của các nhà máy thường rất khác nhau. Đã
từng có hai phương pháp thải bùn đỏ: Thải trên đất liền và thải xuống nước[15].
1.2.3.1 Thải xuống nước.
Thải xuống nước (ra biển, sông suối hoặc các đầm phá ven biển) đã quá lỗi
thời. Hiện nay trên thế giới đã không sử dụng do nó phá hủy hoàn toàn môi trường
sống của các sinh vật biển.
1.2.3.2 Thải trên mặt đất.
Thải trên mặt đất (đất bằng hoặc các thung lũng có bờ bao). Phương pháp
này gây ít ô nhiễm hơn nên dươc ứng dụng nhiều.
Thải trên mặt đất lại có 2 cách:
a. Thải khô.
Là bơm bùn với hàm lượng rắn thấp hơn ra bải thải, đỡ tốn kém, thích hợp
với các vùng có thung lũng cả mỏ đã khac thác, những nơi mưa nhiều. Điều này khá
kinh tế vì khi hoà tách ở nhiệt độ 145
o
C trong quy mô phòng thí nghiệm, bùn đỏ rất
khó lọc. Nếu muốn áp dụng phương pháp thải khô thì phải xem xét các tiêu chí nêu
trên và cần phải thực nghiệm khâu lọc. Tuy nhiên, do sự phát triển hiện nay giá đất
sẽ ngày càng cao nên phương án này có thể là một phương án kinh tế cần được xem
xét kỹ để có thể áp dụng.
Thải khô bùn đỏ nhiều lớp [3].
17
Phương pháp này được phát triển đầu tiên ở nhà máy alumin Burntisland,
Scotland năm 1941. Giulini GmbH ở Đức cũng là công ty đi đầu áp dụng phương
pháp này. Bùn đỏ khô cứng nhanh, đây được xem là chi phí hiệu quả và không gây
ra ảnh hưởng đến môi trường. Phương pháp này được xem là phương pháp hiện đại
nhất hiện nay.
Các nhà máy luyện alumin của Alcoa tiếp nhận phương pháp này từ 1985.
Bùn đỏ đậm đặc trong dòng dung dịch đáy từ thiết bị rửa hoặc từ thiết bị cô đặc
hoặc thiết bị lọc ép chân không (để khử nước ra khỏi bùn đỏ) được bơm tới khu vực
thải và được trải thành những lớp trên diện tích bãi thải để khử nước bằng tháo khô
và bay hơi dưới ánh nắng mặt trời, phương pháp này làm cho bùn đỏ khô cứng tới
72% so với 52% của phương pháp thải bùn đỏ ra ao để khô.
Tại các địa điểm áp dụng công nghệ thải khô nhiều lớp, người ta áp dụng 2
lớp chống thấm. Ở đáy một lớp đá sét nén chặt dày 600 mm, lớp này có thể thay
bằng một lớp sét tổng hợp địa kỹ thuật. Lớp chống thấm trên là tấm màng plastic,
làm bằng polyethyene có tỷ trọng cao (HPDE), có chiều dày khoảng 1,5-1,75mm,
chất này có độ bền rất tốt trong môi trường soda nồng độ cao và trong môi trường
pH. Tất cả các biện pháp này đảm bảo tốc độ thấm nước < 10
-7
– 10
-12