PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay,Tiếng
Anh là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với sự thành công của bất kỳ
một ai. Việc học Tiếng Anh đã trở nên ngày càng cần thiết và hữu dụng trong
mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh của cuộc sống. Có thể nói rằng Tiếng Anh là “chìa
khoá vàng” để mở ra những cơ hội thành công trong công việc.
Trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng, chúng ta
thấy rằng việc nắm vững ngữ pháp của một ngôn ngữ có tầm quan trọng lớn đối
với người học. Nắm vững được ngữ pháp của ngôn ngữ đó, hiểu được bản chất
và sử dụng nó một cách thành thạo sẽ giúp cho người học có một tầm nhìn khái
quát và có hệ thống về ngôn ngữ ấy. Đối với Tiếng Anh cũng vậy, nó không nằm
ngoài quy luật trên.
Người học phải hiểu được cách viết câu A thế này là đúng, thế kia là sai.
Hay câu B viết ở dạng bị động sẽ hay hơn ở dạng chủ động hoặc ngược lại,
mặc dù ý nghĩa của chúng vẫn giống nhau.
Ví dụ:
- Someone has stolen my bike.
(Ai đó đã lấy cắp xe đạp của tôi)
- My bike has been stolen.
(Xe đạp của tôi đã bị lấy cắp)
Như vậy vẫn với cùng một ý nghĩa song ở hai câu trên cách diễn đạt lại
hoàn toàn khác nhau nhằm để nhấn mạnh tới chủ thể trong câu. Chính vì vậy
người học phải nắm vững ngữ pháp để sử dụng trong từng trường hợp cụ thể,
đáp ứng được cách diễn đạt, phù hợp với mục đích và yêu cầu sử dụng của
ngôn ngữ và điều này đã thôi thúc tôi chọn đề tài Thể bị động trong Tiếng
Anh.(The passive voice)
Thể bị động trong Tiếng Anh là một phần ngữ pháp hay và khá quan trọng
trong các kỳ thi TNTHPT, CĐ và ĐH. Trong phạm vi của đề tài này tôi mạnh dạn
đưa ra một vài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi với hy vọng sẽ góp phần
vào việc phục vụ cho các em học sinh thi TNTHPT, CĐ và ĐH đạt kết quả cao
1. Khi không cần thiết phải đề cập tới người thực hiện hành động vì chúng ta đã
biết rất rõ đó là ai.
Ví dụ:
- The streets are swept everyday.
(Đường phố được quét dọn hàng ngày)
- The rubbish hasn’t been collected.
(Rác thải vẫn chưa được thu dọn)
- Your hand will be X- rayed.
(Tay của bạn sẽ được chụp X quang)
2. Khi chúng ta không biết, hoặc biết không chính xác, hoặc đã quên người thực
hiện hành động.
Ví dụ:
- You’ll be met at the station.
(Bạn sẽ được đón tại nhà ga)
- The President was assassinated.
(Vị tổng thống đã bị ám sát)
3. Khi chủ ngữ trong câu chủ động là các từ không xác định, còn mơ hồ.
(people, someone, somebody )
Ví dụ:
- They are supposed to be living in New York. (People suppose that they
are living )
(Người ta cho rằng họ đang sống ở New York)
- This sort of advertisement is seen everywhere. (One can see this
sort )
(Ta có thể thấy mẩu quảng cáo này ở mọi nơi)
4. Khi ta quan tâm tới hành động được thực hiện hơn là người thực hiện hành
động đó.
Ví dụ:
- The house next door has been bought (by a Mr Jones)
(Ngôi nhà bên cạnh đã được ông Jones nào đó mua rồi)
Lưu ý: + To be: được chia theo thì / thể tương ứng với thì / thể của động từ
chính trong câu chủ động.
+ Done: là dạng tổng quát của quá khứ phân từ. (past participle)
* Quá khứ phân từ gồm có hai loại:
- Đối với động từ có quy tắc: Thành lập bằng cách thêm “
_ed” vào sau động từ. Verb-ed
(Xem phần: Thêm _ed vào sau động từ ở thì quá khứ
thường)
- Đối với động từ bất quy tắc: Ta lấy động từ ở cột số 2 trong
bảng động từ bất quy tắc.
* Ví dụ: - cook - cooked - cooked
- open - opened - opened
- meet - met -met
- see - saw - seen
Ví dụ:
- We keep the butter here. → The butter is kept here.
(Chúng tôi giữ bơ ở đây)
- They broke the window. → The window was broken.
(Họ đã làm vỡ cửa sổ)
- They are repairing the bridge. → The bridge is being repaired.
(Họ đang sửa chữa chiếc cầu)
IV. Cách chuyển từ câu chủ động sang câu bị động:
- Xác định được ba thành phần cơ bản: S,V,O trong câu chủ động.
- Xác định thì, thể của động từ chính trong câu chủ động.
- Chuyển tân ngữ của câu chủ động xuống làm chủ ngữ cho câu bị động.
- Động từ To be được chia theo thì, thể tương ứng với thì, thể của động từ
chính trong câu chủ động.
- Động từ chính trong câu chủ động khi chuyển sang bị động phải ở dạng quá
khứ phân từ.
-Chuyển chủ ngữ của câu chủ động xuống làm tân ngữ cho câu bị động và phải
(Tất cả quần áo của tôi đã bị mang đi)
4.Thì quá khứ thường:
was / were + done
Ví dụ:
- He was taken to the zoo last Sunday.
(Chủ Nhật tuần trước anh ta được đưa đi chơi vườn thú)
- They were given flowers on their birthdays
(Họ được tặng hoa vào dịp sinh nhật)
5.Thì quá khứ tiếp diễn:
was / were + being + done
Ví dụ:
- The party was being prepared at 8 pm last night.
(Bữa tiệc đang được chuẩn bị vào lúc 8 giờ tối hôm qua)
- That work was being done when I came.
(Khi tôi đến người ta đang làm công việc đó)
6. Thì quá khứ hoàn thành:
had been + done
Ví dụ:
- The door had been locked before he left.
(Cửa đã được khoá trước khi anh ta đi)
- The picture had been taken away when the police arrived.
(Khi cảnh sát tới thì bức tranh đã được mang đi)
7. Thì tương lai thường:
will / shall be + done
Ví dụ:
- The house will be cleaned this week.
(Ngôi nhà sẽ được quét dọn tuần này)
- The meeting will be held in Hanoi next week.
(Cuộc họp sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào tuần sau)
8. Động từ khuyết thiếu:
- I rememberd having been told to study hard for my exams.
(Tôi nhớ đã được thầy bảo phải học chăm chỉ để thi)
VI. Một số cấu trúc và chú ý đặc biệt khác đối với thể bị động:
1. Các động từ diễn tả ý thích, mong muốn
Love, like, want, wish, + object + infinitive.
→ Thành lập thể bị động với động từ nguyên mẫu.
Ví dụ:
- He wants someone to take photographs.
→ He wants photographs to be taken.
(Anh ta muốn được chụp ảnh)
2. Các động từ: advise, beg, recommend, order, urge + O
d
+ infinitive + O
→ Ta có thể thành lập thể bị động theo hai cách:
+ Chuyển động từ chính sang thể bị động.
+ Dùng mệnh đề “ that should + nguyên thể bị động.”
Ví dụ:
- He urged the council to reduce the rates.
→ The council was urged to reduce the rates.
→ He urged that the rates should be reduced.
3. Các động từ: agree, be axious, arrange, be determined, determine, decide,
demand + infinitive + O
→ Thành lập thể bị động với “ that should ”
Ví dụ:
- He decided to sell the house.
→ He decided that the house should be sold.
(Anh ta quyết định bán ngôi nhà)
4. Danh động từ:
a. Các động từ: advise, insist, propose, recommend, suggest + Verbing + O
→ Thành lập thể bị động với “ that should ”
Ví dụ:
- Dufy painted this picture.
→ This picture was painted by Dufy.
(Bức tranh này do Dufy vẽ)
• Nhưng khi chúng ta đề cập đến chất liệu thì ta lại phải dùng giới từ “ with”.
Ví dụ:
- Smoke filled the room.
→ The room was filled with smoke.
(Căn phòng dày đặc khói)
- Paint covered the lock.
→ The lock was covered with paint.
(Khoá dính đầy sơn)
- Snow covers the mountain.
→ The mountain is covered with snow.
(Tuyết bao phủ đầy núi)
c. Khi động từ có giới từ đi kèm thì giới từ vẫn giữ nguyên trong câu bị động.
Ví dụ:
- We must write to him.
→ He must be written to.
(Chúng ta cần phải viết thư cho anh ta)
- They threw away the old newspapers.
→ The old newspapers were thrown away.
(Họ ném bỏ những tờ báo cũ)
d. Những câu nói có dạng:
People say / think / believe / know that he is
→ Thành lập thể bị động theo hai cách:
+ It is said / thought / believed / known that he is
+ He is said / thought / believed / known to be
(Các động từ trên khi ở quá khứ cũng tương tự như vậy)
e. Các động từ nguyên thể theo sau các động từ bị động thường ở dạng
(Hôm qua Tom thăm Mary)
h. Câu ở thể mệnh lệnh → đổi sang thể bị động bằng cách dùng “ Let”.
Ví dụ:
- Do your work at once.
→ Let your work be done at once.
(Hãy làm công việc đó ngay đi)
i. Câu chủ động có cấu trúc:
It is + adj + to do something
→ Ta đổi động từ nguyên mẫu sang bị động và thêm chữ “for” vào trước chủ
ngữ thật.
Ví dụ:
- It is necessary to write this lesson.
→ It is necessary for this lesson to be written.
PHẦN III: ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN GIẢNG DẠY
Thể bị động trong Tiếng Anh có vai trò và tầm quan trọng trong cấu tạo
của một đề thi TNTHPT. Dường như đối với bất kỳ một đề thi TNTHPT nào
cũng đều có một hoặc vài bài tập có liên quan tơí thể bị động. Chính vì điều này
mà trong quá trình giảng dạy bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi và đúc rút ra những
điều tương đối bổ ích, có hệ thống về thể bị động, nhằm mục đích truyền thụ
cho các em học sinh những kiến thức cơ bản về nó. Mục đích cuối cùng trong
việc giảng dạy của tôi và việc học tập của các em học sinh đó là hiệu qủa sử
dụng ngôn ngữ nói chung và việc áp dụng vào làm các bài tập có liên quan tới
kiến thức của phần này nói riêng.
Sau một quá trình thực nghiệm và theo dõi, kết quả thu được tương đối
khả quan, hầu hết các em học sinh đã hiểu được thế nào là câu bị động, cấu
tạo, cách dùng của nó và cách biến đổi câu từ chủ động sang bị động và ngược
lại.
Ví dụ:
- People speak English every where in the world.
Ta có thể nói:
3. Giúp ôn luyện Tiếng Anh 12. - Phan Hữu Lễ.
- Nguyễn Mạnh Bùi Nghĩa.
4. Văn phạm Tiếng Anh thực hành. -Trần Văn Điền.
Phù ninh, ngày 10 tháng 01 năm 2009.
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Đức Lợi