Quản trị thông tin về thị trường chứng khoán với tư cách là một nhà đầu tư cá nhân - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU

Thông tin là một vấn đề luôn được quan tâm đối với các chủ thể trong
nền kinh tế đặc biệt là trong thời đại hiện nay- thời đại thông tin- thời đại của
nền kinh tế tri thức. Đối với họ việc tìm kiếm thông tin và quản trị thông tin là
vô cùng quan trọng nó quyết định tính hiệu quả trong các quyết định của
mình.
Ngày 20/7/2007 với việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh đã đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng
khoán Việt Nam. Qua hơn 7 năm phát triển Việt Nam đã căn bản xây dựng
được cho mình một thị trường chứng khoán riêng. Tuy nhiên sự tăng giảm
diễn ra liên tục với biên độ lớn trong thời gian qua đã nói lên cảnh báo cho
các chủ thể của thị trường chứng khoán những rủi ro ngày càng dễ dàng xảy
ra . Tình trạng trên diễn ra xuất phát từ nhiều nguyên nhân song nguyên nhân
cơ bản là: tính minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán chưa được
đảm bảo. Điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà đàu tư. Chúng ta
đã biết thị trường chứng khoán là thị trường của thông tin, ai có thông tin
chính xác, kịp thời và khả năng phân tích tốt thì sẽ đầu tư có hiệu quả và
ngược lại ai không có thông tin chính xác sẽ bị tổn thất. Với việc ban hành
nghị định 36/2007/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với đối tượng công bố
thông không chính xác về chứng khoán đã phân nào giúp cho nhà đầu tư có
được thông tin tốt hơn phụcvụ cho qua trình quản tri thông tin của
mình.nhưng bên cạnh đó các nhà đầu tư cũng phải tìm cho mình phương pháp
quản trị thông tin có hiệu quả hơn.
Thực tế hiện nay cho thấy các nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam tiến
hành đầu tư chủ yếu là theo phong trào, họ không có nhiều kiến thức cũng
như kinh nghiệm cho việc quản tri thông tin để đưa ra những quyết định có cơ
sở khoa học.chính xác. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều trung tâm nhận
truyền đạt các kiến thức, kinh nghiệm cho các nhà đầu tư song số lượng vẫn ít
1

1) Thị trường chứng khoán.
1.1 Khái niệm và bản chất Thị trường chứng khoán.
 Thị trường chứng khoán.
Theo mô hình trên, ta dễ dàng hiểu Thị trường chứng khoán về cơ bản
cũng giống như các loại thị trường khác. Nghĩa là cũng là nơi diễn ra các giao
dịch mua bán, trao đổi các loại hàng hoá là chứng khoán.
Trong thực tế, đã có nhiều quan điểm về Thị trường chứng khoán nhưng
quan điểm chung nhất là:
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, là
nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi các chứng khoán, các hàng hoá và
dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được
thực hiện theo những quy tắc ấn định trước.
 Chứng khoán:Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá
hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập
và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu
này có sự khác nhau tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Các tính chất cơ
bản của chứng khoán bao gồm:
Thị Trường Chứng khoán
Thị trường
(Chợ)
Chứng khoán
(Hàng hoá)
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Tính thanh khoản (tính lỏng): Là khả năng chuyển đổi
nhanh chứng khoán sang tiền mặt.
 Tính sinh lợi: Là khả năng sinh lợi từ cổ tức và lãi vốn.
 Tính rủi ro: Là sai biệt giữa lợi tức thực tế với sinh lợi kỳ
vọng. Gồm có rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
Theo luật chứng khoán hiện hành (2006) thì “Chứng khoán là bằng

thành đối tượng đầu tư ngắn hạn. Như vậy nhà đầu tư có thể động đầu tư ngắn
hạn tránh các rủi ro do đầu tư dài hạn.
1.2. Phân loại thị trường chứng khoán.
Theo các mục đích nghiên cứu khác nhau, Thị trường chứng khoán
có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, xét một cách
cơ bản và khá đầy đủ, ta có thể phân loại thị trường chứng khoán theo các tiêu
thức sau:
 Theo cơ chế luân chuyển vốn ta có:
- Thị trường sơ cấp (hay thị trường cấp 1): Là thị trường phát hành
chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại thị trường
này, giá của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng khoán trên
thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho chủ thể phát hành.
- Thị trường thứ cấp (hay thị trường cấp 2): Là thị trường giao dịch mua
bán trao đổi, chuyển nhượng các chứng khoán sau phát hành, các giao dịch
này không làm gia tăng vốn cho chủ thể phát hành mà chỉ chuyển đổi quyền
sở hữu giữa các nhà đầu tư, nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư
hay di chuyển tài sản xã hội.
Hai thị trường này có mối quan hệ biện chứng, củng cố và thúc đẩy
nhau phát triển. Điều đó được thể hiện ở chỗ:
- Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có thị trường thứ cấp
-Thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng cho chứng khoán đã phát hành ở
thị trường sơ cấp, làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro
cho các nhà đầu tư.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã phát hành trên thị
trường sơ cấp và được coi là thị trường định giá công ty.
-Thị trường thứ cấp cung cấp cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành
cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp.
Hai thị trường tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau. Nhưng mục đích

phiếu thực chất là đứng ra đi vay theo phương thức hoàn trả cả gốc và lãi theo
một tỷ lệ lợi tức nhất định. Người cho vay không chịu bất cứ trách nhiệm nào
về hoạt động sử dụng vốn. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là
trung hay dài hạn.
- Thị trường cổ phiếu (thị trường vốn cổ phần) là thị trường cơ bản trong
thị trường chứng khoán. Là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác
nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần
của tổ chức phát hành” (Luật chứng khoán 2006). Theo đó, cổ đông là chủ sở
hữu
của công ty và chịu trách nhiệm trên phần đóng góp của mình. Thu nhập
từ cổ phiếu là cổ tức (phần lợi nhuận sau thuế đem chia) và lãi vốn (phần
chênh lệch giá mua và giá bán cổ phiếu). Cổ phiếu có nhiều loại, nhưng đều là
công cụ tài chính không thời hạn.
- Thi trường các công cụ dẫn suất, hay công cụ phái sinh là thị trường
giao dịch trao đổi mua bán các công cụ phái sinh, tiêu biểu như quyền mua,
quyền bán, hợp đồng tương lai.. Đây là các công cụ phòng ngừa rủi ro hữu
hiệu và là công cụ đầu cơ lý tưởng cho nhà đầu tư.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán.
Lịch sử phát triển hàng trăm năm đã khằng định được vai trò của thị
trường chứng khoán trong việc phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia nói
riêng và toàn thế giới nói chung. Hiện nay, một nền kinh tế vững mạnh không
thể thiếu vắng sự tồn tại của thị trường chứng khoán. Vậy điều gì đã làm cho
thị trường chứng khoán có một vị trí quan trọng đến vậy. Chúng ta có thể hiểu
điều đó khi thấy được vai trò của thị trường chứng khoán, biểu hiện ở những
điểm sau:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán tạo ra các công cụ tài chính với
tính thanh khoản cao có thể tích tụ , tập trung và phân phối vốn trên thị trường

Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp sự dự báo cho hoạt động
kinh doanh trong tương lai.
Và tất nhiên, thị trường chứng khoán cũng không thể tránh khỏi những
hạn chế nhất định như đầu cơ, thâu tóm, xung đột. Nhưng những mặt trái đó
chủ yếu do sự thiếu minh bạch trong kinh doanh tạo nên, vì vậy vai trò của
Chính phủ, của các tổ chức và đặc biệt là dạo đức trong kinh doanh chứng
khoán là hết sức quan trọng. Thị trường chứng khoán là tích cực hay tiêu cực
đều dựa trên hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường.
1.4. Các chủ thể trên thị trường chứng khoán.
Về cơ bản, một thị trường chứng khoán muốn hoạt động cần sự góp mặt
của các chủ thể sau:
a. Chủ thể phát hành.
Là những người cung cấp chứng khoán ra thị trường nhằm thu hút vốn
đầu tư. Chủ thể phát hành bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, quỹ đầu tư và
các trung gian tài chính.
b. Nhà đầu tư.
Là những người có vốn thực hiện mua bán chứng khoán trên thị
trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư
có tổ chức. Nhà đầu tư cá nhân thường mua bán với số lượng chứng khoán
không lớn, họ tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở khả năng tài chính và khả năng
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chấp nhận rủi ro. Các nhà đầu tư có tổ chức là các nhà đầu tư chuyên nghiệp,
thường mua bán chứng khoán với số lượng lớn, đa dạng hoá danh mục đầu tư
để hạn chế rủi ro. Thường là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán,
quỹ hỗ tương, công ty bảo hiểm..Các quyết định đầu tư được thực hiện bởi
các chuyên gia có kinh nghiệm.
c. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
bao gồm:
- Công ty chứng khoán.

Bloomberg và hãng tư vấn đầu tư toàn cầu Standard and Poor’s thì tốc độ
tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam đứng thứ 24/83 thị trường
tăng trưởng hàng đầu thế giới. Theo đó, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng
năm của Việt Nam đạt 43%. Tại thị trường Châu Á, chúng ta chỉ đứng sau Ấn
Độ (50%) và Indonesia (46%). Có được kết quả đó trước hết là nhờ Việt Nam
có được một môi trường đầu tư lí tưởng, tốc độ tăng trưởng bình quân luôn
đạt trên 8 phần trăm, nền an ninh chính trị xã hội ổn định. Thêm vào đó là
những cố gắng không nhỏ của Chính phủ và các Doanh nghiệp với việc ban
hành các chính sách thu hút đầu tư, luật chứng khoán có hiệu lực, chính sách
cổ phần hoá doanh nghiệp, cộng với một môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Đó là những động lực không nhỏ cho thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
tại cũng như tương lai.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng thị trường chứng khoán Việt Nam
còn quá nhỏ bé so với các thị trường khác trên thế giới. Tháng 7/2000 khi đưa
vào hoạt động tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh mới chỉ
có 2 công ty niêm yết với số vốn khoảng 16.8 triệu USD. Tới 2004 con số này
là 3.1 tỷ USD, quá nhỏ bé so với hai thị trường hàng xóm là Thái Lan 132.3
tỷ USD và Trung Quốc với 650 tỷ USD. Theo số liệu thống kê của
Bloomberg thì trong 3 tháng, tổng giá trị trao đổi của Việt Nam là 6.6 triệu
USD, trong khi đó Thái Lan là 314 triệu USD và 3.1 tỷ USD tại Hồng Kông.
Những con số này đã phản ánh quy mô còn quá nhỏ bé của thị trường Việt
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status