Cõu 1: Vai trũ quyt nh VC vi YT. S vn dng ca ng ta vi vn ny?
1. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức.
Lê- Nin đã đa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời
trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng ta chép lại phản ánh và đợc tồn tại không lệ thuộc
vào cảm giác. Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào
bộ não của con ngời thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy vật chất là nguồn gốc của ý thức
và quyết định nội dung của ý thức.
Thứ nhất, phải có bộ óc của con ngời phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra đời
của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con ngời mới tạo ra đ-
ợc ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tơng tác giữa bộ não con ngời và thế giới khách
quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một ngời nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động đợc hay
không có bộ não thì không thể có ý thức đợc. Cũng nh câu chuyện cậu bé sống trong rừng
cùng bầy sói không đợc tiếp xúc với xã hội loài ngời thì hành động của cậu ta sau khi trở về
xã hội cũng chỉ giống nh những con sói. Tức là hoàn toàn không có ý thức.
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức.
Nhờ có lao động mà các giác quan của con ngời phát triển phản ánh tinh tế hơn đối với hiện
thực ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay là phơng tiện thể hiện ý
thức. ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra
đời của ý thức. Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay
đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo.
VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thờng trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh
của bộ não ngời. Nhng khi bộ não ngời bị tổn thơng thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn.
VD2. ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là rất
yếu kém sở dĩ nh vậy là do về máy móc cũng nh đội ngũ giáo viên giảng dậy còn thiếu. Nhng
nếu vấn đề về cơ sở vật chất đợc đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin của các em cấp 1, 2,
3 sẽ tốt hơn rất nhiều.
VD2. Đã khẳng định điều kiện vật chất nh thế nào thì ý thức chỉ là nh thế đó.
2. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết định ý
thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó.
thành nh: thị trờng vốn, thị trờng chứng khoán, thị trờng sức lao động
Chúng ta cũng cần mở rộng giao lu kinh tế nớc ngoài, nhanh chóng hội nhập vào tổ
chức thơng mại thế giới WTO, AFTA và các hiệp định song phơng đồng thời phải xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ. Muốn vậy, ta phải đa phơng hoá và đa dạng hoá hình thức và đối
tác, phải quán triệt trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau và không phân biệt chế độ chính trị - xã hội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh
của đất nớc trong quanhệ kinh tế quốc dân nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên
thiên nhiên đất nớc, tăng xuất nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ hiện đại và kinh
nghiệm quản lý. Thu hút vốn đầu t nớc ngoài và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một trong
chủ trơng quan trọng của Đảng. Để làm điều này thì chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị,
hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính và tiền tệ, giá cả, phát triển
các thị trờng quan trọng nh thị trờng chứng khoán, thị trờng lao động Nhà nớc cũng cần
hạn chế việc can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà nên tập
trung tốt các chức năng tạo môi trờng, hớng dẫn, hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp nớc
ngoài. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ nhng thông thoáng lành mạnh để
tạo sự tin tởng cho các nhà đầu t của nớc ngoài. Tránh tình trạng giấy tờ phức tạp rắc rối, trên
bảo dới không nghe làm cho quá trình giải toả mặt bằng gặp nhiều khó khăn.
Với các chủ trơng trên ta nhận thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, đó
cũng là bài học quan trọng của Đảng là: "Mọi đờng lối chủ trơng của Đảng phải xuất phát từ
thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.
Cõu 2: Phõn tớch s tỏc ng tr li ca YT vi VC. S vn dng ca ng ta vi vn
ny?
1. í thức tác động trở lại vật chất.
Trớc hết ta đa ra định nghĩa của ý thức: ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách
quan vào trong bộ não con ngời thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là toàn bộ hoạt động
tinh thần của con ngời nh: Tình cảm yêu thơng, tâm trạng, cảm súc, ý trí, tập quán, truyền
thống, thói quen quan điểm, t tởng, lý luận, đờng lối, chính sách, mục đích, kế hoạch, biện
pháp, phơng hớng. Các yếu tố tinh thần trên đều tác động trở lại vật chất cách mạnh mẽ.
VD. Nếu tâm trạng của ngời công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suất của một
dây chuyền sản xuất trong nhà máy. Nếu không có đờng lối cách mạng đúng đắn của đảng ta
nhất là phép biện chứng duy vật và phải nghiên cứu, nắm vững thực tiễn. Chúng ta phải tập
trung suy nghĩ về hai mặt:
Một là, về mục tiêu, lý tởng và đạo đức lối sống. Đây là yếu tố cơ bản nhất chi phối
mọi suy nghĩ, hành động của chúng ta quyết định phẩm chất của ngời cán bộ, đảng viên trong
điều kiện chuyển biến của thế giới và tình hình trong nớc. T tởng của Bác khẳng định mỗi ng-
ời chúng ta hãy nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức công dân và đạo đức của ngời cộng
sản. Cụ thể, chúng ta phải "cần kiệm liêm chính, chí công vô t", luôn vì sự nghiệp dân giàu n-
ớc mạnh vì lợi ích của cá nhân và cả lợi ích của cộng đồng. Kiên quyết và nghiêm khắc chống
chủ nghĩa thực dụng với các biểu hiện tính đa dạng trong nền kinh tế thị trờng mở cửa, thực sự
góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội, ngăn chặn sự thoái hoá biến chất trong
một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Hai là, về yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mỗi ngời trên cơng vị
trách nhiệm của mình, phải hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả, chất lợng cao. Vì vậy, chúng
ta phải đề cao ý chí phấn đấu, phấn đấu không mệt mỏi, không sợ hy sinh, gian khổ, đồng thời
phải ra sức trau dồi tri thức. Cần nâng cao tri thức khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là
nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, nâng cao tri thức
về khoa học tự nhiên, đặc biệt là mũi nhọn về khoa học công nghệ hiện đại. Phải nắm vững
phơng pháp nhận thức và hành động của Bác, bám sát thực tiễn, bám sát cơ sở, thâm nhập dân
chúng, đánh giá đúng khó khăn thuận lợi, thực trạng và triển vọng. Tự nội lực, vì dân và thực
sự dựa vào dân, thực hiện dân chủ lắng nghe và tâm trạng ý kiến của dân mà tìm ra phơng
sách, biện pháp, nguồn vốn sức mạnh vật chất và tinh thần, trí tuệ để vợt qua khó khăn và
thách thức.
Phấn đấu tốt hai mặt trên là chúng ta đã thực sự quán triệt t tởng Hồ Chí Minh và làm
theo di chúc của Ngời, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng mà Ngời đã chỉ đờng để xây dựng một
đất nớc Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Vai trò ý thức tác động
lại vật chất cũng phải đợc hiện rõ ở khía cạnh phát huy tính năng động và tích cực và vai trò
trung tâm của con ngời, một số giải pháp cho vấn đề này:
Một là, đổi mới hệ thống chính trị dân chủ hoá đời sống xã hội nhằm phát huy đầy đủ
tính tích cực và quyền làm chủ của nhân dân.
Hai là, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội phù hợp có ý
gii quan l thng nhng nguyờn tc, quan im, nim tin, khỏi nim, biu tng v ton b th
gii bao gm v nhng s vt hin tng, v quy lut chung ca th gii, v ch dn phng
hng hot ng ca ngi, mt nhúm ngi trong xó hi núi chung i vi thc ti (nhm phỏt
trin sao cho tt hn).
Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao
gồm cả thế giới bên ngòai, cả con người và cả mối quan hệ của người– thế giới (tức là mối quan
hệ của người đối với thế giới). Thế giới quan của mỗi cá nhân dựa trên cơ sở kiến thức khoa học
của nhân loại ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Kiến thức khoa học đó bao gồm cả các 3 quan
điểm triết học, xã hội học, chính trị,đạo đức, kinh tế học và khoa học nói chung.
Thế giới quan mang tính chủ quan bởi vì thế giới vận động khách quan mà cách nhìn thế
giới của mỗi người thì khác nhau.
1.2 Khái quát lịch sử thế giới quan duy vật
a,Thế giới quan duy vật cổ đại
Triết học Tây Âu ra đời trong rất sớm và được hình thành trên cơ sở chiếm hữu nô lệ với
hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ. Sản suất nông nghiệp, thủ công nghiệp có bước phát triển
so với các dân tộc đương thời và đạt thành tựu trên một số lĩnh vực tri thức.Khoa học hình thành
và phát triển và đời hỏi sự khái quát của triết học. Nhưng tư duy triết học thời kì này phát triển
chưa cao, tri thức triết học và tri thức khoa học cụ thể thường hòa vào nhau. Các nhà triết học lại
cũng là các nhà khoa học cụ thể. Vì vậy 6 đặc điểm triết học thời kì này gắn hữu cơ với khoa học
tự nhiên, hầu hết các nhà triết học duy vật đều là các nhà khoa học tự nhiên.Cho nên hình thành
thế giới quan đơn giản mộc mạc thô sơ, các nhà triết học quan điểm xem thế giới bắt nguồn từ
một thứ vật chất nào đó theo quan điểm chủ quan của chính bản thân họ. VD: Hêraclit là nhà biện
chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại. Khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không
phải là nước, apeirôn, không khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật.
b, Thế giới quan duy vật cận đại
Đây là thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. Thời kỳ này, sự phát triển
của khoa học đã dần dần đoạn tuyệt với thần học và tôn giáo thời kỳ trung cổ, bước lên con
đường phát triển độc lập. Sự phát triển của khoa học, về khách quan đã trở thành vũ khí mạnh mẽ
chống thế giới quan duy tâm tôn giáo. Sự phát triển khoa học tự nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát
triết học, rút ra những kết luận có tính chất duy vật từ các tri thức khoa học cụ thể.Đây là thời kì
được những thành tựu lớn lao của tư tưởng nhân loại như: triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội
không tưởng Pháp và kinh tế chính trị học cổ điển Anh. Đặc biệt trong triết học cổ điển Đức, những
nội dung cách mạng trong phép biện chứng của Hêghen, những tư tưởng duy vật của Phoiơbắc,
đã được C.Mác - Ph.Ănghen cải tạo, phát triển thành thế giới quan duy vật biện chứng triệt để, mở
rộng vào tất cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Thế giới quan duy vật biện chứng là sự
thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng do đó nó thực sự là một khoa
học triết học. Mác và Ăngghen đã cải tạo một cách biện chứng chủ nghĩa duy vật cũ, giải thoát chủ
nghĩa duy vật biện chứng cũ khỏi tính hạn chế siêu hình, tạo ra hình thức cao của PBC là PBCDV.
Mác và Ăngghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, giải thoát nó
khỏi chủ nghĩa duy tâm bằng cách đặt nó trên cơ sở hiện thực, tạo ra hình thức cao của chủ nghĩa
duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng.Ở các giai đoạn trước C.Mác, thế giới quan duy vật
thường bị tách rời vơi phép biện chứng. Chẳng hạn, thế giới quan duy vật cổ đại, mặc dù có chứa
đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định nhưng mới chỉ phỏng đoán, tự phát mà không thống
nhất với chủ nghĩa duy vật; hay thế giới quan duy vật cận đại là sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật
và phép siêu hình. Như vậy, thế giới quan duy vật biện chứng ra đời đã khắc phục được những
hạn chế của thế giới quan duy vật cổ đại, của thế giới quan duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII.
Đồng thời, nó còn cải tạo cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen, tạo nên sự thống nhất hữu cơ
giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng. Thế giới quan duy vật biện chứng khẳng
định: thế giới xung quanh chúng ta dù có phong phú đa dạng đến đâu, nhưng bản chất của nó là
vật chất. Các sự vật, hiện tượng cụ thể chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của vật chất, chúng
đều tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người.
Tính thống nhất vật chất của thế giới còn gắn liền với sự liên hệ tác động qua lại giữa các
yếu tố, các bộ phận tạo nên sự vật dẫn đến sự vận động biến đổi của sự vật. Tính thống nhất vật
chất của thế giới phải gắn liền với vận động và phát triển của nó. Sự khẳng định trên đây của thế
giới quan duy vật biện chứng đã được sự phát triển của khoa học hiện đại chứng minh.Ý thức là
sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo; ý
thức là hình ảnh tinh thần của thế giới khách quan hình thành trong quá trình con người tác động
cải tạo nó.Ý thức bắt nguồn từ thực tiến lịch sử - xã hội, ý thức là sản phẩm của các quan hệ xã
hội, chịu sự chi phối chủ yếu của các quy luật xã hội, các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con
người và phản ánh những quan hệ xã hội, những quy luật xã hội khách quan.
giờ. “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác”. Định nghĩa này đã khắc phục được hạn chế của thời kì trước là đã khẳng
định được vật chất với tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều
có giới hạn, có
sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác. Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật
thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất.Đồng thời cũng
đã khẳng định thuộc tính khách quan của vật chất không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con
người; và là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức. Vật chất có hai dạng vật chất cơ bản là
chất và trường.Chất là cái gián đoạn, được tạo ra từ các hạt, có khối lượng, có cấu trúc thứ bậc từ
nguyên tử cho đến các thiên thể cực kỳ lớn.Còn trường là môi trường vật chất liên tục, không có
khối lượng tĩnh. Trường làm cho các hạt của nguyên tử liên kết với nhau, tác động với nhau và
nhờ đó mà tồn tại được. Định nghĩa vật chất đã làm sáng tỏ vì sao thế giơi này luôn biên đổi bởi
thế giới này được cấu tạo từ vật chất mà vật chất thì luôn vận động trong không gian và theo thời
gian từ qua khứ đến tương lai.Chính vì thế mà vật chất mang thuộc tính phổ biến, vật chất tồn tại
ở nhiều dang khác nhau, có mặt ở mọi nơi trên thế giới.Đó là bởi vì bản chất của thế giới là vật
chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất.Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống
nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật
chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật
khách quan phổ biến của thế giới vật chất.Chính từ kết luận này mà các nhà khoa học nói chung
và các nhà triết học nói riêng đã có một cơ sở chính xác để học tập và nghiên cứu từ đó hình
thành những thế giới quan chính xác đúng đắn.
b,Ý thức
Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là sự tái tạo những đặc
điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của
chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động).
Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Trong quá
trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản
ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu. Hình thức phản ánh đơn giản nhất là phản ánh vật lý, hóa
b, Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã hội bao
gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn
bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Sản xuất một phần của hoạt động lao động, sản xuất chính là nguồn gốc
và cơ sở của đời sống con người; nếu không có lao động thì chúng ta chẳng khác gì loài vật. Sản
xuất là hoạt động tác động vào tự nhiên nhằm cải biến tự nhiên tạo ra của cải vật chất để thỏa
mãn đời sông của con người.Trong quá trình lao động sản xuất chính con người cũng được cải
biến, tiến bộ hơn thích nghi với cuộc sống đang biến đổi không ngừng. Sản xuất vật chất là quá
trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của
giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thỏa mãn với những cái đã có sẵn trong giới
tự nhiên, mà luôn luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu
cầu ngày càng phong phú, đa dạng của con người.Nhu cầu về cuộc sống con người ngày càng
lớn lên đòi hỏi con người cần phải lao động nhiều hơn tạo ra nhiều của cải để có thể làm thỏa mãn
nhu cầu của chính chúng ta. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát
triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã hội. Tất cả các
quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, v.v. đều hình thành, biến
đổi trên cơ sở sản xuất vật chất. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm
biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình. Sản xuất vật chất không
ngừng phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt
của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao.Chính vì vậy sản xuất vật chất là
cơ sở của đời sống xã hội.
c, Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
V.I.Lênin khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa là những quan hệ
vật chất giữa người và người đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh đẻ con
cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm, làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu
khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh
và ý thức này không bao giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó. Các yếu tố chính tạo thành tồn
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - một trong hai
nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng. Đây là một phạm trù của phép biện chứng duy vật
dùng để chỉ sự quy định, tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay
giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.
Triết học Mác khẳng định: Cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là thuộc tính
thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật, hiện tượng dù đa dạng và khác nhau đến mấy thì
chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là vật chất mà thôi. Ngay bản
thân ý thức vốn không phải là vật chát nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc
tính, của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của ý thức có mối
liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài.
Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là khách quan vốn có của bản
thân chúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến và tính phổ biến ấy được thể hiện ở
những vấn đề sau đây:
Xét về mặt không gian, mỗi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại
không phải trong trạng thái biệt lập tách rời tuyệt đối với các sự vật hiện tượng khác. Ngược lại,
trong sự tồn tại của mình thì chúng tác động lẫn nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiện
tượng khác. Chúng vừa phụ thuộc nhau, chế ước nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát triển.
Đó chính là hai mặt của quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Ănghen đã khẳng
định: "Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm các
vật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc các vật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã có
nghĩa là các vật thể này tác động qua lại lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động".
Trong đời sống xã hội ngày nay không có một quốc gia, dân tộc nào mà không có mối quan
hệ, liên hệ với quốc gia, dân tộc khác về mọi mặt của đời sống xã hội. Đây chính là sự tồn tại, phát
triển cho mỗi quốc gia, dân tộc. Trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu
vực hoá mọi mặt của đời sống xã hội. Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tác
động lẫn nhau trên con đường phát triển của mình.
Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của sự vật hiện tượng thì mỗi sự vật hiện tượng đều
được tạo thành bởi nhiều nhân tố, nhiều bộ phận khác nhau và các nhân tố, bộ phận đó không tồn
tại riêng lẻ mà chúng được tổ chức sắp xếp theo một lôgíc nhất định, trật tự nhất định để tạo thành
chỉnh thể. Mỗi biện pháp, yếu tố trong đó mà có vai trò vị trí riêng của mình, lại vừa tạo điều kiện
tượng chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần phải được hỏi chúng ta phải phát hiện ra không chỉ là
mối liên hệ của nó mà còn phải biết xác định phân loại tính chất, vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệ
đối với sự phát triển của sự vật. Cần chống cả lại khuynh hướng sai lầm phiến diện một chiều,
cũng như đánh giá ngang bằng vị trí của các loại quan hệ.
Về mặt thực tiễn, quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiện tượng cần làm thay đổi
mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng cũng như mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng đó với
sự vật, hiện tượng khác. Muốn vậy, cần phải xác định, sử dụng đồng bộ các phương pháp, các
biện pháp, phương tiện để giải quyết sự vật. Mặt khác, quan điểm toàn diện đòi hỏi trong hoạt
động thực tiễn cần phải kết hợp chính sách dàn đều và chính sách có trọng tâm, trọng điểm. Vừa
chú ý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựa chọn những vấn đề trọng tâm để tập trung giải quyết
dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết những vấn đề khác.
Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam hiện nay,
nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, tác động sẽ không đánh giá đúng tình hình
nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể và do vậy không đánh giá hết những
khó khăn, những thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhận thức và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của đất
nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống
xã hội, chú trọng tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội, giải quyết những vấn
đề xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đi tới bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, an ninh quốc phòng…
trong đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá
trình đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý
luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải
đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm.
Có thể khẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp
đổi mới và đem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam. Đất
nước ta trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa với nền
sản xuất nhỏ, điều kiện kinh tế còn rất nhiều khó khăn. Để lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới
chớnh sỏch, ng li phự hp thnh phn kinh t quc doanh vn gi c vai trũ ch o,
to cho s phỏt trin ca t nc, ng thi, bờn cnh ú vi vic u t ca cỏc tp on t
bn nc ngoi vo Vit Nam thỡ vic a ra nhng chớnh sỏch iu chnh nhm n nh, phỏt
trin kinh t t nc l nhim v quan trng t ra trc mt chỳng ta. Vic kt hp cht ch
"chớnh sỏch dn u" v "chớnh sỏch trng im" cú ý ngha rt quan trng trong lónh o s
nghip i mi ca ng ta thi gian ti.
T nhng im trỡnh by trờn õy cú th rỳt ra kt lun rng, quỏ trỡnh hỡnh thnh quan
im ton din ỳng n vi t cỏch l nguyờn tc phng phỏp lun nhn thc s vt v s
vn dng, quỏn trit nguyờn tc trờn ca ng trong s nghip i mi t nc ó em li rt
nhiu thnh cụng, a t nc phỏt trin i lờn vi mc tiờu "dõn giu, nc mnh, xó hi cụng
bng, dõn ch, vn minh".
Cõu 5: PT tm quan trng nguyờn tc lch s c th? S vn dng ca ng ta vi
vn ny?
I - Quan điểm lịch sử cụ thể
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật.
Nội dung nguyên lý: Mọi sự vật hiện tợng của thế giới tự nhiên, xã hội, t duy đều nằm
trong mối liên hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc nơng tựa, quy
định lẫn nhau làm tiền đề để điều kiện cho sự tin đạ và phát triển của nhau. Mối liên hệ này
chằng những diễn ra ở mọi sự vật hiện tợng trong tự nhiên, trong xã hội, trong t duy và còn
diễn ra giữa các yếu tố, các mặt khác, các quá trình của mỗi sự vật và hiện tợng. Mỗi liên hệ
trớc đây là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trng
các quá trình tự nhiên, xã hội và t duy.
Mối liên hệ của sự vật, hiện tợng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ có mỗi tiến bộ
bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu.
2. Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật.
Nội dung nguyên lý: Mọi sự vật hiện tợng của thế giới đều không ngừng biến đổi và
chuyển hoá lẫn nhau, cái mới kế tiếp cái cũ giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trớc tạo thành quá
trình phát triển tiền lên mãi mãi. Phát triển là khuynh hớng chung thống trị thế giới.
Nguồn gốc, nguyên nhân của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập. Cách thức hình thái của sự phát triển là sự thay đổi dần về lợng dẫn đến sự thay đổi về
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến điều
kiện cụ thể của nơi đợc vận dụng
II. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng định
hớng XHCN ở Việt Nam
Trớc tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hớng XHCN cũng là một dạng vật chất,
nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật chất xã hội theo sự phân loại của triết học Mác - Lênin,
mà cụ thể là trong những điều kiện không gian và thời gian theo quan điểm lịch sử cụ thể. Sự
ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hơn 10 năm qua đã góp phần thay đổi
bộ mặt đất nớc, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên đó cha phải là cái đích cuối cùng của
Đảng ta, bởi nền kinh tế nớc ta vẫn còn chậm phát triển. Khi chúng ta vừa chuyển từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp, từ một nền kinh tế yếu kém lạc hậu với hệ thống sản xuất, hệ
thống quản lý kinh tế với những cán bộ mang nặng t tởng ỷ lại sang nền KTTT năng động, do
đó khó có thể tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Thêm nữa, thời điểm chúng ta bắt đầu đổi
mới, chuyển sang nền KTTT quá muộn so với các nớc trên thế giới và khu vực khi mà các nớc
t bản nh Mỹ, Nhật, Tây Âu đã tiến hành cơ chế thị trờng và phát triển vợt xa ta mấy trăm
năm. Nhờ sử dụng triệt để KTTT, CNTB đã đạt đợc những thành tựu về kinh tế - xã hội, phát
triển lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, quản lý xã hội đã đạt đợc những thành
tựu về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con ngời nhạy cảm tinh tế với khả năng
sáng tạo và có cả những tiêu cực sự gay gắt dẫn đến tình trạng "cá lớn nuốt cá bé" sự phân
cách giàu nghèo ngày càng lớn, ô nhiễm môi trờng, tài nguyên cạn kệt, tệ nạn xã hội là nớc
đi sau và theo CNXH, chúng ta có cơ hội kế thừa và phát triển những thành tựu của nhân loại
trớc hết là sử dụng văn minh của KTTT, loại bỏ những khuyết tật của nó để xây dựng CNXH
có hiệu quả. Chính vì những lẽ đó, chúng ta cần phải vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào
việc nghiên cứu quá trình xây dựng nền KTTT định hớng XHCN ở Việt Nam.
Cõu 6: Phõn tớch tm quan trng ca quan im phỏt trin? S vn dng ca ng ta
vi vn ny?
1. Khỏi nim phỏt trin
Xem xột v s phỏt trin cng cú nhng quan im khỏc nhau, i lp vi nhau: quan im
siờu hỡnh v quan im bin chng.
Quan im siờu hỡnh xem s phỏt trin ch l s tng lờn hay s gim i n thun v mt
điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá
trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờ đó
sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức của con người.
- Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra
ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách
quan. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận
động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái
niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển.
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú. Phát triển là khuynh hướng chung của mọi
sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống
nhau. Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau.
Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện
tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho
sự vật thụt lùi. Chẳng hạn, nói chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí
tuệ so với trẻ em ở các thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều
kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Trong thời đại hiện nay, thời gian công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các
quốc gia đã thực hiện chúng do đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi
trước. Song vấn đề còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại
phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước chậm phát triển và kém phát
triển.
Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật, hiện tượng có thể có những giai đoạn
vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác, nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn
tuân theo khuynh hướng chung.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con
người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải
nghiêm trọng.
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta luôn đấu tranh phê phán với quan
điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến. Văn kiện Đại hội Đảng lần IX có viết : “ Xóa bỏ mặc cảm, định
kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin tưởng lẫn
nhau hướng tới tương lai” .
Việc Đảng ta kiên trì đổi mới xây dựng đất nước phát triển theo con đường XHCN là căn cứ
vào quan điểm phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở tin tưởng vào sự tất thắng
của chủ nghĩa cộng sản mặc dù trong bối cảnh lịch sử hiện nay CNXH trên thế giới đang ở giai
đoạn thoái trào và công cuộc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta cũng như các nước
XHCN.
Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều? Sự vận dụng
của Đảng với vấn đề này?
1. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong thực tiễn cách mạng của đất
nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn, tuy nhiên trong quá trình đó chúng ta cũng
gặp không ít khó khăn thử thách, có những giai đọan phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có lúc thoái
trào, có bước tiến nhưng cũng có bước lùi. Nguyên nhân dẫn đến những lúc thoái trào, những
bước lùi trên có phần nào bắt nguồn từ các căn bệnh còn rơi rớt lại trong một số ít đảng viên của
ta. Đó là các căn bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ trì trệ, bệnh phiến diện, bệnh giáo điều và
bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa.
Bệnh giáo điều là căn bệnh mà khuynh hướng tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh nghiệm
thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung trừu
tượng, không chú ý đến những hoàn chỉnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận. Bệnh giáo điều
thuộc lòng lý luận, cho rằng áp dụng lý luận áp dụng vào đâu cũng được không xem xét điều kiện
cụ thể của mình. Ví dụ như theo Mác thì phải xóa bỏ tư hữu dẫn đến việc ta tiến hành cải tạo
XHCN xóa tất cả các thành phần kinh tế nhằm mục đích chỉ còn 2 thành phần kinh tế quốc doanh
và tập thể mà không thấy được rằng "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ
quá độ", sự có mặt của nhiều thành phần kinh tế với các mối quan hệ tác động qua lại của nó sẽ
tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này.
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là căn bệnh áp dụng nguyên si rập khuôn mô hình của nước
khác, của địa phương khác vào nước mình, địa phương mình mà không sáng tạo lại. Bệnh kinh
khuôn theo mô hình XHCN ở Liên Xô ( cũ ) : Liên Xô có bao nhiêu bộ ta cũng có bấy nhiêu bộ,
Liên Xô phát triển công nghiệp nặng thì ta cũng phát triển công nghiệp nặng mà không xem xét
đến điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời không chú ý đến phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ trong khi nước ta là một nước nông nghiệp với tất cả những điều kiện vật chất khách
quan đều thuận lợi để phát triển nông nghiệp.
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, bệnh giáo điều chúng ta cần phải nâng cao
trình độ lý luận; Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ
và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung phát
triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với khuynh hướng, tư tưởng sai ; đổi mới và nâng
cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, công tác giảng dạy và học tập lý luận; mở rộng dân
chủ và giữ vững định hướng chính trị trong họat động lý luận; đổi mới công tác lý luận của Đảng
viên trên nền tảng Chủ Nghĩa Marx – Lénin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác lý luận, Đảng định hướng cho công tác lý luận.
2.Sự vận dụng của Đảng
∙ Trước đổi mới:
Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, chưa gắn lý
luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội, bỏ qua những bước đi
cần thiết.
Một trong những sai lầm trong chính sách của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới là xuất phát
từ căn bệnh giáo điều, xuất phát từ sự lạc hậu, yếu kém về lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Sự yếu kém về lý luận làm cho chúng ta tiếp thu lý luận Chủ nghĩa Mác Lênin một cách giản đơn,
phiến diện, cắt xén sơ lược, không đến nơi đến chốn, CNXH được hiểu một cách giản đơn, ấu trĩ.
Trong thời kỳ này, đã có lúc ta bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc thành lập
các bộ ngành của bộ máy nhà nước. Sự nhận thức giản đơn, yếu kém trong việc vận dụng xơ
cứng lý luận vào trong còn thể hiện ở việc hiểu và vận dụng chưa đúng các quy luật khách quan
đang tác động trong thời kỳ quá độ ở nước ta (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các quy luật sản xuất hàng hoá, quy luật thị
trường ), quá nhấn mạnh một chiều vai trò của quan hệ sản xuất, của chế độ công hữu, chế độ
phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá
Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp; tìm
và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ,
khắc phục sự trì trệ, làm chuyển biến tình hình".
Hiện nay, công cuộc đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế giới
nhanh chóng, phức tạp, khó lường thì những vấn đề mới đặt ra ngày càng nhiều, trong đó có
những vấn đề liên quan đến nhận thức về CNXH và con đường xây dựng CNXH. Không ít vấn đề
về nhận thức lý luận còn chưa đủ rõ; không ít vấn đề về thực tiễn, nhất là những vấn đề bức xúc
nảy sinh từ cuộc sống, chưa được giải quyết kịp thời và tốt nhất.
Thực tiễn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: đất nước ta đã ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi toàn diện và cơ bản, đời sống nhân dân được cải
thiện rõ rệt, hệ thống chính trị và khối đại đòan kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường, giữ
vững an ninh, quốc phòng, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Những
thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam.
Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát
triển của SVHT? Sự vận dụng của Đảng với vấn đề này?
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
2.1. Khái niệm
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) vạch ra
nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển. V.I. Lênin xem lý luận về sự thống nhất của các
mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.
+ Khái niệm mặt đối lập.
Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới đều có cấu trúc bao gồm những mặt, những
yếu tố, thuộc tính khác nhau và đối lập nhau. Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt,
những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách
khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua
lại, quy định lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách
khách quan và phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong
tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư
duy trên con đường nhận thức chân lý khách quan. Những mâu thuẫn logíc hình thức chỉ tồn tại
mới”. V.I. Lênin nhấn mạnh: “ Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Nghiên
cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng
đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nhận thức sự vật, cũng có nghĩa là nhận thức mâu thuẫn của sự vật, nhận thức được các
mặt đối lập cấu thành mâu thuẫn, và do đó biết được nguồn gốc của sự vận động và phát triển của
sự vật. Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập; theo dõi quá trình phát
sinh, phát triển của các mặt đó; nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn; tìm hiểu
những điều kiện cần cho sự biến đổi, đánh giá đúng vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn,
xem mâu thuẫn đó có gì giống và khác các mâu thuẫn khác. Hoạt động thực tiễn là nhằm giải
quyết mâu thuẫn tạo ra sự biến đổi của sự vật. Dó đó, phải xác định đúng trạng thái chín muồi của
mâu thuẫn; tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn. Mâu
thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh của các mặt đối lập. Đối với mâu thuẫn khác
nhau có phương pháp giải quyết khác nhau.
3.Sự vận dụng của Đảng
Nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội
nhiều giai cấp. Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế có tính chất quá độ. Nó không còn là nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
3.1. Tính tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế (TPKT) ở Việt Nam
Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối.
Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước và phương thức sản xuất mầm
mống của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi
phương thức sản xuất thống trị.
Thành phần kinh tế là một loại hình của quan hệ sản xuất xác định tương ứng với trình độ
và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời nhưng chưa đạt tới độ thống trị trong nền
kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần.
Như vậy, phạm trù thành phần kinh tế và phương thức sản xuất đều phản ánh mối quan hệ
biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng không đồng nhất về nội dung.
Trong thời kỳ quá độ, mỗi phương thức sản xuất khi chưa hoặc không đóng vai trò thống trị, cũng
của sự vật, có những thuộc tính không cơ bản mới nảy sinh vàcó những thuộc tính không cơ bản
mất đi nhưng chất của sự vật không thay đổi. Thuộc tính chỉ bộc lộ thông qua quan hệ với sự vật
khác.
Trong sự vật, hiện tượng, chất không tách rời với lượng
1.2-Lượng của sự vật
Là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, chỉ rõ về mặt quy mô, tốc độ, trình độ phát
triển của sự vật, hiện tượng. Nói đến lượng sự vật tức là sự vật đó lớn hay bé, tốc độ phát triển
nhanh hay chậm, trình độ cao hay thấp v v đo bằng các đại lượng cụ thể, bằng số tuyệt đối như
trong lượng, thể tích hoặc so sánh với vật thể khác, thời kỳ này với thời kỳ khác. Ví dụ tốc độ của
ánh sáng là 300.000km/giây, một cái bàn có chiều cao 80 phân, một nước có 50 triệu dân v v
1.3- Khái niệm về Độ
Độ là giới hạn mà trong đó lượng biến đổi chưa gây nên sự thay đổi căn bản về chất. Sự
vật vẫn là nó, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một độ thích hợp khi lượng biến đổi vượt
quá giới hạn độ thì sự vật không còn là nó.
Trong phạm vi một độ nhất định hai mặt chất và lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho sự
vật vận động. Mọi sự thay đổi về lượng đều có ảnh hưởng đến trạng thái chất của sự vật, nhưng
không phải những thay đổi về lượng nào cũng dẫn đến thay đổi về chất. Chỉ trong trường hợp khi
sự thay đổi về lượng đạt tới mức phá vỡ độ cũ thì chất của sự vật mới thay đổi, sự vật chuyển
thành sự vật khác.
1.4-Điểm nút
Là điểm mà tại đó lượng biến đổi đã gây nên sự thay đổi căn bản, tập hợp những điểm nút
gọi là đường nút.
1-5-Bước nhảy Sự thay đổi căn bản về chất, cái cũ mất đi cái mới ra đời phải thông qua
bước nhảy. Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự biến đổi căn bản từ chất sự vật
này sang chất của sự vật khác.
+ Bước nhảy đốt biến là bước nhảy xảy ra trong thời gian ngắn làm thay đổi bản chất của
sự vật. Bước nhảy này diễn ra bằng một sự bùng nổ mãnh liệt. VD cách mạng tháng Mười Nga là
một bước nhảy đột biến.
+ Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện bằng việc loại bỏ dần những yếu tố,
những bộ phận chất cũ xảy ra trong một thời gian dài mới loại bỏ hoàn toàn chất cũ thành chất
-Cần phải chống quan điểm tả khuynh, hữu khuynh. Tả khuynh là phủ nhận tích luỹ về
lượng muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là thì ngược lạikhi lượng biến đổi đã tới
vượt quá độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất
Vận dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt nam
1-Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường định hướng CNXH ở nước ta
Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
nhưng được diến đạt gọn hơn, nói rõ được mô hình hinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ
quá độ.
Nói nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không
phải là kinh tế hiện vật, tự cấp, tự túc, quản lý theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp. Nhưng đó
cũng không phải là nền kinh tế thị trường tự do theo cách nói của tư bản, tức là không phải nền
kinh tế thị trường TBCN, và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN, còn có sự đan xen
và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có lại vừa chưa có đầy đủ các yếu tố CNXH.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là một tất yếu khách quan. Bởi vì.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kết quả của sự nhận thức và vận dụng quy luật vè
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Cùng với
CNH, HĐH đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là con đường kinh tế cơ bản đưa
nước ta quá độ lên CNXH.
- Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, là thời kỳ đang thực hiện hoá dần dần CNXH,
thời kỳ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế quá độ, vừa có CNXH vừa còn CNTB. Chủ trương xây
dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với bản chất của thời kỳ lịch sử đặc biệt này.
- Chúng ta đã biết thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó kết cấu kinh tế - xã
hội vừa bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy thoái dần, vừa bao hàm những yếu tố của
xã hội mới ra đời đang lớn lên từng bước nhưng chưa dành toàn thắng.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà xã hội đang chuyển từ chế độ này sang chế độ khác, ở đó
chưa có phương thức sản xuất nào giữ vị trí thống trị tuyệt đối, trong đó mỗi phương thức chỉ là
một “mảnh” một “bộ phận” của kết cấu kinh tế xã hội, vừa độc lập tương đối, vừa hợp tác và đấu
tranh với nhau. Mỗi “mảnh”, mỗi “bộ phận” ấy là một thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế khác phương thức sản xuất ở chỗ khi nó chưa vươn lên đóng vai trò