Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
L I CAM OANỜ Đ 3
L o Cai, tháng 04 n m 2003à ă 4
Sinh viên 4
BẢNG 1: DIỆN TÍCH CÁC KIỂU ĐỊA HÌNH, KHÍ HẬU HUYỆN SAPA 21
TT 21
BẢNG 2: NHÓM CÂY DƯỢC LIỆU CÓ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG PHỔ BIẾN
MỌC TỰ NHIÊN CÒN KHẢ NĂNG TIẾP TỤC KHAI THÁC
TỪ 10 ĐẾN 30 TẤN/ NĂM 30
Tên cây thuốc 30
BẢNG 3: NHỮNG CÂY DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN TẠI SA PA DO KHAI THÁC NHIỀU NĂM,
HIỆN NAY KHÔNG CÒN KHẢ NĂNG KHAI THÁC
HOẶC KHAI THÁC VỚI SỐ LƯỢNG ÍT CẦN BẢO VỆ 35
BẢNG 4: TỔNG HỢP NHỮNG CÂY DƯỢC LIỆU BỊ SUY GIẢM NGHIÊM TRỌNG VÀ THUỘC
DIỆN QUÝ HIẾM CÓ NGUY CƠ BỊ TUYỆT CHỦNG TẠI SA PA (ÁP DỤNG THEO KHUNG
PHÂN HẠNG IUCN) 41
BẢNG 5: SỐ LIỆU VỀ XUẤT KHẨU DƯỢC LIỆU
CỦA TỔNG CÔNG TY DƯỢC LIỆU VIỆT NAM 45
STT 45
Tên dược liệu 45
Giá trị 45
BẢNG 6: TỔNG HỢP CÁC LOÀI CÂY DƯỢC LIỆU PHỔ BIẾN TRỒNG TẠI HUYỆN SA PA 49
NGUỒN GỐC 49
Bán địa 49
BẢNG 7: NHÓM CÂY THUỐC TRỒNG PHỔ BIẾN
CÓ GIÁ TRỊ HÀNG HOÁ TẠI SA PA 50
TÊN CÂY THUỐC 50
NĂNG SUẤT 50
TRƯỚC 1995 (TẠ/HA) 50
1998 (TẠ/HA) 50
định. Với độ cao trung bình 1500 mét trên dãy Hoàng Liên Sơn, nơi đây là
một phần của Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn. Có khí hậu ôn đới mát mẻ
quanh năm, tính đa dạng sinh học rất cao nên huyện Sa Pa có lợi thế đặc biệt
trong việc phát triển du lịch. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa lợi thế đó phục
vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, huyện Sa Pa cần phải làm nhiều việc nữa.
Là sinh viên chuyên ngành Kinh tế Quản lý Môi trường và Đô thị - Đại
học Kinh tế Quốc dân, khi thực tập tại Sở Khoa học Công nghệ và Môi
trường Lào Cai, tôi đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền
vững ở huyện Sa Pa. Với đề tài tốt nghiệp “Bước đầu đánh giá hiệu quả
kinh tế xã hội của việc bảo vệ đa dạng sinh học cây dược liệu ở huyện Sa
Pa tỉnh Lào Cai ”, Tôi cố gắng thiết lập cho mình một cái nhìn tổng quan về
một lĩnh vực rộng lớn và khó khăn này. Đây cũng là lĩnh vực mà chính
quyền địa phương đang rất quan tâm.
Vì thời gian hạn hẹp, trình độ phân tích và kiến thức còn nhiều hạn chế,
đề tài này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Với tinh thần cầu thị, rất
mong nhận được góp ý, chỉ dạy của các thầy cô và các bạn để tôi có thể tiến
bộ hơn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các cây dược liệu tự nhiên đang
được khai thác, được trồng với mục đích thương mại, mục đích bảo tồn ở
huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai.
Để có được cái nhìn tổng quan về công tác dược liệu ở huyện Sa Pa, kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn, đề tài có bố cục như sau:
Chương I: Bảo tồn nguồn gen dược liệu là biện pháp bảo vệ tài
nguyên môi trường và phát triển kinh tế.
Chương II: Tình hình khai thác tài nguyên dược liệu ở huyện Sa Pa
trong thời gian qua.
Chương III: Bước đầu đánh giá hiệu quả khai thác, chế biến, sử dụng
tài nguyên dược liệu ở huyện Sa Pa.
Chương IV: Kết luận và một số kiến nghị.
tầng lớp nhân dân trong xã hội. Vì vậy, mỗi người cần phải hiểu rõ về các
vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học.
1. Khái niệm về đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất với
hàng triệu loài thực vật, động vât, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và
các hệ sinh thái mà chúng là thành viên. Từ đó, đa dạng sinh học được định
nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm
các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thuỷ vực khác và các phức hệ sinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thái mà chúng cấu thành, đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng của loài giữa
các loài và các hệ sinh thái.
Các nhà sinh học thường xem xét đa dạng sinh học ở 3 góc độ: Đa dạng
di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.
Đa dạng di truyền được hiểu là sự phong phú về số lượng và sự đa dạng
về các gen, bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các cá thể.
Đa dạng loài là sự giàu có về số lượng và sự phong phú của các loài
trong hệ sinh thái.
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và loại hình của các
hệ sinh thái khác nhau.
Từ 3 góc độ này, ta có thể tiếp cận đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác
nhau: Mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ hệ sinh thái. Như
vậy, đa dạng sinh học bao gồm sự phong phú của tất cả thế giới sinh vật ở
tất cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và sự tổ hợp của chúng. Đó
không chỉ là tổng số của các hệ sinh thái, các loài, các vật chất di truyền mà
còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với
nhau, với thế giới vô sinh và với xã hội loài người. Vì vậy, cũng có thể nói
rằng đa dạng sinh học là kết quả của sự tương tác giữa hai hệ thống tự nhiên
và xã hội.
2. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học có một giá trị không thể thay thế được, trước tiên là
2.2. Giá trị sinh thái và môi trường
Các hệ sinh thái có giá trị quan trọng trong quá trình điều hoà khí hậu,
làm trong sạch môi trường không khí, nước, đảm bảo chu trình chất dinh
dưỡng trong thiên nhiên, bảo vệ đất, cân bằng nguồn nước và ngăn chặn
dịch bệnh. Sự đa dạng loài càng cao trong các quần xã sinh vật càng làm cho
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quần xã đó có tính ổn định cao, ít bị xáo trộn. Mỗi khi sự đa dạng này bị
thay đổi thì các khả năng của hệ sinh thái cũng thay đổi theo, ví dụ khả năng
điều hoà quá trình trao đổi vật chất trong hệ sinh thái, khả năng hấp thụ các
chất ô nhiễm
2.3. Giá trị về đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, văn hoá, lịch sử, tín
ngưỡng và giải trí của con người
Các loài sinh vật cũng như các hệ sinh thái khác nhau cho con người
những hình ảnh độc đáo, những cảnh quan đẹp đẽ có giá trị về thẩm mỹ, văn
hoá, lịch sử, tín ngưỡng. Khám phá thiên nhiên hoang dã luôn là nguồn yêu
thích của hàng triệu người trên khắp thế giới. Ngày nay, du lịch sinh thái
luôn là một trong những tiềm năng kinh tế và giải trí đang được khai thác
mạnh mẽ.
3. Nguyên nhân làm suy thoái đa dạng sinh học
Trong lịch sử cận đại và hiện đại, suy thoái đa dạng sinh học đã xẩy ra
với một tốc độ khủng khiếp, trước đây ở các nước công nghiệp phát triển và
hiện nay ở các nước đang phát triển và kém phát triển. Sự suy thoái đa dạng
sinh học được thể hiện chủ yếu ở các mặt:
- Hệ sinh thái bị biến đổi dẫn đến mất nơi ở của loài.
- Mất loài.
- Mất đa dạng di truyền.
- Sự di nhập, xâm lấn của các loài sinh vật lạ.
Sự mất mát của các loài, sự sói mòn nguồn gen, sự di nhập xâm lấn của
các loài sinh vật lạ, sự suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên nhất là rừng nhiệt
đới diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có mà nguyên nhân chủ yếu là
năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai. Cơ sở của định nghĩa này là sự
công bằng trong các thế hệ, hiện tại và tương lai. Con người được sinh ra
đều có quyền như nhau. Điều kiện để phát triển bền vững là có sự chuyển
giao di sản tư bản. Điều này ngụ ý rằng thế hệ hiện tại phải đảm bảo để lại
cho thế hệ mai sau một trữ lượng tư bản không ít hơn những gì mà thế hệ
này đang có. Sự bền vững có hai dạng: sự bền vững thấp dựa trên giả thiết
cứng nhắc là có khả năng thay thế hoàn toàn các dạng tư bản; sự bền vững
cao thì không tin tưởng hoàn toàn vào khả năng đó vì có nhiều dạng tư bản,
ví dụ như tư bản tự nhiên là cái không dễ gì thay thế được.
Loài người từ xưa đến nay vẫn luôn bị phụ thuộc vào thiên nhiên dù ít
hay nhiều. Tài nguyên sinh vật cho chúng ta lương thực thực phẩm, quần áo,
nhà ở, thuốc men và các món ăn tinh thần. Nguồn tài nguyên ấy được tìm
thấy trong các hệ sinh thái tự nhiên của rừng, các vùng Savan, đồng cỏ và
đất rừng, sông, hồ, biển. Nguồn tài nguyên này cũng tìm thấy ở trên các
cánh đồng, trong các vườn nhà, trong các ngân hàng gen, trong các vườn
thực vật và bách thú.
Loài người đã có trong tay một khối lượng tư bản khổng lồ để để lại
cho thế hệ mai sau như các công trình xây dựng, các trí tuệ và tri thức nhân
loại, nhưng loài người cũng đã và đang là nguyên nhân của sự tuyệt chủng
và suy giảm của rất nhiều loài động vật, thực vật, các hệ sinh thái giàu có.
Để đảm bảo một sự phát triển bền vững, loài người cần có một sự đảm
bảo về sự an toàn cho giới sinh học - bảo vệ đa dạng sinh học.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG
NGUỒN GEN CÂY DƯỢC LIỆU
Cây dược liệu giữ một vị trí quan trọng trong việc xây dựng nền y học
Việt Nam. Từ lâu việc nghiên cứu, sử dụng và phát triển cây dược liệu đã
được khẳng định trong đường lối xây dựng nền y học dân tộc. Chỉ thị
210/TTg ngày 06/12/1966 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định vị trí và
giá trị của dược liệu: ” Dược liệu ở nước ta rất nhiều, gồm các loài cây
cung cấp từ nước ngoài.
Mặc dù vậy, trong bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường, nguồn
cây dược liệu ở nước ta vẫn không ngừng được khai thác. Nhiều loài cây
thuốc Nam không thể thay thế vẫn được trồng ở nhiều nơi. Trên thực tế,
nhu cầu sử dụng dược liệu để chữa bệnh và bồi bổ sức khoẻ trong nhân dân
vẫn có xu thế gia tăng.
Hiện nay, trên thế giới các bệnh ung thư, AIDS hoặc các triệu chứng
về cảm xúc vẫn còn tồn tại và các bệnh gây nguy hiểm cho cộng đồng vẫn là
nguy cơ tiềm ẩn, do đó việc duy trì các cây dược liệu là rất cần thiết và cần
tiếp tục được ưu tiên, đầu tư nghiên cứu. Việc tìm kiếm các loại thuốc mới
không những từ trong phòng thí nghiệm mà chính là từ cây cỏ trong tự nhiên
đang được nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn dược phẩm quan tâm.
Việt Nam ta, trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của ngành
y tế đã đề ra mục tiêu phấn đấu từng bước để tự túc được khoảng 40% thuốc
chữa bệnh vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 21. Để thực hiện mục tiêu
này, bên cạnh sự quan tâm phát triển công nghiệp dược và kháng sinh, một
vấn đề vô cùng quan trọng là phải dựa vào thế mạnh về sự đa dạng cây dược
liệu trong nước. Hơn nữa, dược liệu là nguồn thuốc gần như duy trì trong y
học cổ truyền, là nguyên liệu trong công nghiệp dược và xuất khẩu nhằm bù
đắp một phần cho nhập khẩu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
III. TÀI NGUYÊN CÂY DƯỢC LIỆU VÀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN TRI THỨC CỔ TRUYỀN
Cây dược liệu = Cây cỏ (đơn thuần như là một nguồn gen: một yếu tố
mang tính vật thể) + Cách dùng chúng để chữa bệnh (là tri thức: một yếu tố
phi vật thể).
Đây là công thức cơ bản phân biệt cây gọi là cây dược liệu với các loại
cây khác. Một loại cây chỉ được coi là cây dược liệu nếu nó hội tụ cả hai yếu
tố trên. Vậy để bảo vệ cây thuốc trước nguy cơ tuyệt chủng thì chúng ta vừa
phải bảo tồn mặt vật thể, vừa phải gìn giữ yếu tố phi vật thể.
Đa số các loài cây nông nghiệp đã được thuần hoá và trồng trọt từ
nhiều năm trước đây và rất quen thuộc đối với nhân dân. Tuy nhiên, một số
cây chưa được thuần hoá để trồng trọt mà chỉ mọc tự nhiên, hoang dại.
Việc bảo tồn, sử dụng, phát triển và thương mại hoá các giống cây là
dựa vào hoạt động nghiên cứu và thống kê, cũng như thực tiễn sản xuất của
nông dân, trong khi mà kiến thức truyền thống thì được sử dụng một cách
thông thường và một phần nào đó được thương mại hoá.
Các Viện nghiên cứu và Trường Đại học chuyên ngành thường có vai
trò chủ đạo trong việc hợp tác với các địa phương để thu thập các giống cây
trồng nhằm làm thích nghi các giống mới.
Những thí dụ đó cho thấy rõ rằng, chúng ta cần phải tạo lập mối quan
hệ đối tác giữa các cơ quan KHKT và nông dân. Việc nghiên cứu và phát
triển các giống mới hoặc giống lai, việc nhập nội và làm thích nghi các
giống từ bên ngoài, thường được tiến hành bởi các cơ quan này, cùng với sự
cộng tác chặt trẽ của các cộng đồng địa phương, họ sẽ là những người khảo
nghiệm, đánh giá và sử dụng. Quan hệ đối tác đó cũng cần thiết cho việc cải
tiến và phát triển kiến thức cổ truyền trên cơ sở phân tích khoa học.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mặt khác, các cơ quan KHKT/Trường Đại học cũng thường được
hưởng thụ những kinh nghiệm và sự khéo léo của người dân bản địa trong
việc bảo tồn và sử dụng tài nguyên di truyền mà không cần phải trả lệ phí
hoặc đền bù gì rõ rệt cho các cộng đồng địa phương cả.
Cũng có vài quy định về việc chia sẻ lợi ích giữa những người có liên
quan, nhưng các quy định này thường có lợi cho người tạo giống, nhiều hơn
là cho các cộng đồng địa phương là người nắm giữ kiến thức cổ truyền.
Nói riêng về lĩnh vực tri thức cổ truyền, thì sử dụng và thương mại hoá
được thực hiện theo ba cách (kể cả trường hợp cây trồng, cây dược liệu và
các phương pháp thực tiễn):
a. Tri thức cổ truyền đã trở thành phổ biến và được sử dụng rộng rãi.
Thí dụ, đa số các phương pháp canh tác là phổ biến, vì các tri thức bản địa
nhưng được thừa nhận đó đã giúp cho người ta có thu nhập và không muốn
truyền thụ. Người nắm được bài thuốc cũng không muốn đăng ký xin bảo hộ
vì họ sợ điều bí mật sẽ bị lộ cho người khác.
Nhân tiện cũng cần nêu nên rằng, những tri thức quý giá đó, cùng với
việc mất các giống cây địa phương và sự tàn phá những nơi cư trú, đang
biến dần với tốc độ đáng báo động. Sự suy giảm của các loài dược liệu nói
chung, và các loài quý nói riêng, là do phá rừng quy mô lớn và do thu hái
quá mức. Một bà lang người Mường ở Hoà Bình buồn rầu nhận xét rằng
“những cánh rừng mất đi thì cũng làm mất luôn nhiều loài cây thuốc không
thể tìm thấy tại những vùng trồng trọt lớn, nơi người ta trồng các loại cây
mọc nhanh”. Tri thức cổ truyền của bà cũng không thể truyền lại cho con
cháu được, vì chẳng còn cây thuốc mà dùng nữa . Sự việc này cũng cho
thấy, khiếm khuyết trong chính sách và luật pháp đã gây tổn thất cho tất cả
đa dạng sinh học và kiến thức cổ truyền.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DƯỢC LIỆU
Ở HUYỆN SA PA TRONG THỜI GIAN QUA
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HUYỆN SA PA
Sa Pa tên gọi này là từ tiếng Quan Thoại. Theo tiếng Quan Thoại, ”Sa”
là cát, ”Pả” là bãi. Địa danh của “bãi cát” này ở bên phải cầu Km32 từ thị xã
Lào Cai vào Sa Pa. Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân của vùng đất
này đều họp chợ ở “bãi cát“ đó, do vậy, dân địa phương ai cũng nói là ”đi
chợ Sa Pả”.
Từ hai chữ “Sa Pả”, người phương Tây phát âm không có dấu, nên
thành Sa Pa, họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó là “Cha Pa” và một thời
gian rất lâu người ta thường gọi là “Cha Pa” theo nghĩa của từ tiếng Việt.
Còn thị trấn Sa Pa ngày nay, trước kia có một mạch nước đùn lên đục
đỏ, nên dân địa phương gọi là “Hùng Hồ”, ”Hùng” là đỏ, ”Hồ” là hà, là suối
đỏ.
nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa,
rừng cây lấp lánh. Tại Tả Phìn này với 2 tộc người là Mông và Dao đã tạo
nên cơ sở sản xuất mặt hàng thổ cẩm khá nổi tiếng để bán cho du khách đến
Sa Pa.
II. ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN
1. Vị trí địa lý, kinh tế
Huyện Sa Pa là huyện vùng cao của tỉnh Lào cai có diện tích tự nhiên là
67.905 ha, chiếm 8,44% diện tích toàn tỉnh.
• Toạ độ địa lý:
Vĩ độ Bắc: 22
o
00
’
00
’’
đến 22
o
10
’
00
’’
Kinh độ Đông : 102
o
51
’
105
’’
đến 103
o
92
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chuyên canh với quy mô tập trung bị hạn chế đặc biệt là việc sử dụng các
biện pháp kỹ thuật làm đất, tưới tiêu
Do sự phân tầng theo độ cao của địa hình đa dạng, nên huyện Sa Pa có
nhiều khả năng bố trí hệ thống cây trồng đa dạng: từ tập đoàn cây nhiệt đới
đến ôn đới từ cây lương thực đến cây công nghiệp, cây ăn quả có các nguồn
gốc khác nhau, đặc biệt là các cây ưa lạnh cây dược liệu quý hiếm.
3. Tài nguyên đất
Bằng cách chọn: địa hình, khí hậu, độ dốc, độ dày tầng đất và loại đất
theo thành phần đá mẹ làm các yếu tố tham gia phân loại. Trên cơ sở hệ lưu
giữ thông tin địa lý, quá trình phân loại được tiến hàng bằng phương pháp
chồng sếp các bản đồ đơn tính để xây dựng bản đồ lập địa.
* Địa hình, khí hậu.
Đặc điểm nổi bật đất đai huyện SaPa là địa hình chia cắt phức tạp, chi
phối mạnh mẽ chế độ khí hậu, không chỉ theo quy luật đai cao mà còn đưa
đến sự phân hoá cục bộ chế độ nhiệt, ẩm do sườn có hướng phơi chắn hay
khuất gió.
BẢNG 1: DIỆN TÍCH CÁC KIỂU ĐỊA HÌNH, KHÍ HẬU HUYỆN SAPA
TT Kiểu địa hình - Khí hậu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng 67.905,00 100
1 Núi cao - Á nhiệt đới ẩm 16.009,00 23,60
2 Núi trung bình - Á nhiệt đới ẩm 28.192,00 41,50
3 Núi thấp - Á nhiệt đới ẩm 12.103,00 17,8
4 Đồi – Nhiệt đới ẩm 3.581,00 5,30
5 Phù sa suối - Đất dốc tụ nhiệt đới ẩm 1.381,00 2,00
6 Núi đá - Đất khác 6.639,00 9,80
* Núi cao - Á nhiệt đới ẩm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Kiểu địa hình, khí hậu này phân bố hầu hết các xã miền Tây của huyện.
Địa hình chia cắt phức tạp, thảm thực vật phát triển, còn nhiều rừng thực vật
tỷ lệ che phủ của rừng thấp. Chính vì vậy, một số đất đai bị sói mòn, rửa trôi
dẫn đến nghèo kiệt, bạc màu. Để bảo về và phát huy tiềm năng đất đai của
Sa Pa có hiệu quả, việc bảo vệ, phát triển rừng và phương thức canh tác bền
vững trên đất dốc với hệ thống cây trồng hợp lý là vấn đề cần quan tâm hàng
đầu hiện nay. Kết quả phân tích cho thấy ở huyện Sa Pa có 6 loại hình sử
dụng đất:
- Phát triển rừng và cây dược liệu có diện tích 23.394 ha.
- Phát triển rừng cộng Nông Lâm kết hợp có diện tích 22.619 ha.
- Nông Lâm kết hợp cộng dược liệu có diện tích 323 ha.
- Nông Lâm kết hợp và trồng cây ăn quả có diện tích 13.172 ha.
- Cây công nghiệp cộng cây ăn quả có diện tích 377 ha.
- Cây lương thực và rau màu có diện tích 1.381 ha.
Còn việc chọn cây cụ thể là tuỳ thuộc vào đặc điểm của đất đai, ở đây
tôi chưa có điều kiện để nghiên cứu chi tiết.
4. Tài nguyên rừng.
• Diện tích các loại rừng
Tổng diện tích tự nhiên huyện Sa Pa là 67.905 ha, trong đó;
- Diện tích có rừng là 22.618 ha chiếm 33,3%.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Rừng tự nhiên là 20.543 ha, chiếm 30,3% diện tích tự nhiên của
huyện và chiếm 90,8% diện tích có rừng, trong đó:
- Rừng gỗ: 19.679 ha chiếm 95,8% diện tích rừng tự nhiên.
+ Rừng giàu: 1.482 ha, trữ lượng bình quân 197 m
3
/ha.
+ Rừng trung bình: 3.607 ha, trữ lượng bình quân 147 m
3
/ha.
+ Rừng nghèo: 5.068 ha trữ lượng bình quân 77 m
3
Huyện Sa Pa có hệ động vật rừng phong phú, kết quả điều tra động vật
rừng của vườn quốc gia Hoàng Liên có 37 loài động vật quý hiếm được ghi
trong sách đỏ Việt Nam, bao gồm: 15 loài thú, 5 loài chim, 16 loài bò sát
lưỡng cư.
Trong đó có các loài như : Hổ, Báo, Vượn, Lợn rừng, Công, Trăn,…
Chính vì vậy, khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn đã được Nhà
nước ra Quyết định 194 - CT/1986 là một trong 87 khu bảo tồn quốc gia.
Ngày 11/1/1994, UBND tỉnh Lao Cai có Quyết định số 25 - QĐUB v/v phê
chuẩn dự án khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn rộng 29.831 ha, trong
đó huyện Sa Pa có 22.281 ha chiếm 74,7% diện tích khu bảo tồn. Và năm
1998 Chính phủ đã có Quyết định nâng khu bảo tồn lên thành vườn quốc
gia Hoàng Liên Sơn.
5. Tài nguyên nhân lực
Huyện Sa Pa có 7 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó: người
H’Mông chiếm 53%. Dao 26%. Kinh 12,8%, Dáy 2,5%, Sa phó, Tày, Thái
5,7%. Tỷ lệ trong đó các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mèo - Dao chiếm
97,9% Mường - Kinh chiếm 12,8%, các nhóm khác 8,2%.
Thực tế cho thấy mỗi dân tộc thường cư trú trên từng địa bàn nhất định
với phong tục tập quán riêng biệt thể hiện bản sắc văn hoá của dân tộc mình.