Vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ - Pdf 24

Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................2
KẾT LUẬN....................................................................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................80
1 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam hiện nay, công nghiệp hỗ trợ không còn là thuật ngữ quá xa
lạ với các nhà hoạch định chính sách cũng như những người làm kinh tế bởi tầm
quan trọng của CNHT đã được khẳng định mạnh mẽ. Việt Nam cũng đã có một
số bước tiến quan trọng trong việc tăng cường phát triển CNHT. Năm 2003,
Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo xúc tiến “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật
Bản” nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam, trong đó hạng mục đầu tiên được đề cập phát triển là
CNHT. Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn bị đánh giá là một ngành chậm phát
triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất lắp ráp. Là một nước đang phát
triển, Việt Nam hướng tới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, theo đó
nhiều ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Sự phát
triển của ngành sản xuất lắp ráp kéo theo nhu cầu lớn về các sản phẩm hỗ trợ,
đặc biệt trong các ngành ô tô - xe máy, điện - điện tử, … Điều này đặt ra cho
Việt Nam bài toán khó trong việc giải quyết nhu cầu sản phẩm CNHT mà phần
lớn hiện nay đang phải nhờ vào nhập khẩu. Với nguồn vốn hạn hẹp, trình độ
nhân công tương đối thấp, Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển nói
chung phải làm thế nào để có thể phát triển một ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ
thuật cao, vốn lớn như CNHT? Thực tế cho thấy,tại một số nước Đông Á rất
thành công trong việc phát triển CNHT như Trung Quốc,Nhật Bản ,Hàn Quốc …
Vậy họ đã làm thế nào và bài học kinh nghiệm gì có thể rút ra cho Việt Nam
trong việc phát triển CNHT chính là câu hỏi người viết muốn đi tìm câu trả lời
2 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Chương 2: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN CNHT
Chương 3: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CNHT TẠI VIỆT NAM
Do vấn đề còn khá mới mẻ, kiến thức và thời gian nghiên cứu còn nhiều
hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không tránh khỏi những sai
sót. Người viết rất mong sẽ nhận được sự đóng góp quý báu từ thầy cô và các
bạn để có thể hoàn thiện hơn đề tài này.
Người viết xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Bùi Thị Lý đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ để người viết có thể hoàn thành đề tài này.
4 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
I. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ của một số nước trên thế giới
Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (CNHT – supporting industry), hay còn gọi
là công nghiệp hỗ trợ đã được sử dụng rất rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là những nước công nghiệp phát triển nhưng khái niệm về CNHT vẫn
chưa có sự thống nhất.
Thuật ngữ CNHT được cho là có nguồn gốc từ Nhật Bản, sau này được du
nhập và sử dụng rộng rãi vào các nước châu Âu, châu Mỹ. Tài liệu chính thức sử
dụng thuật ngữ này là “Sách trắng về Hợp tác kinh tế” năm 1985 của Bộ Công
nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI)
1
đã chính thức đưa ra khái niệm
CNHT, theo đó, CNHT được dùng để chỉ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
có đóng góp trong việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á
trong trung và dài hạn hay các SMEs sản xuất linh phụ kiện

Hình 1: Ngành công nghiệp hỗ trợ (theo MITI)
Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp Hải ngoại Nhật Bản JOEA
(Japanese Oversea Enterprise Association)
Ngoài ra, trên thế giới còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CNHT,
mỗi khái niệm ở tùy từng nước lại có sự chênh lệch tương đối trong phạm vi
từng ngành CNHT. Mỗi khái niệm được đưa ra đều nhằm mục đích đảm bảo sự
tương thích giữa định nghĩa đó với mục tiêu của chính sách của mỗi quốc gia.
Các giáo sư trường Đại học Waseda, Nhật Bản cho rằng CNHT là khái
niệm để chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản
6 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
xuất các thành phẩm chính, cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản
phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, … và cũng có thể bao gồm cả những
sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
Khái niệm do giáo sư Michael E.Porter của Đại học Havard đưa ra vào
năm 1990 về “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ”, cho rằng CNHT thường được
đánh giá là một trong 4 yếu tố tạo nên lợi thế so sánh của một quốc gia. CNHT
tạo ra lợi thế cho các ngành công nghiệp về sau bởi chúng cung cấp nhiều loại
đầu vào rất quan trọng nhằm tạo ra sự đổi mới trong sản xuất và tạo ra những
thuận lợi cho việc quốc tế hóa sản phẩm.
Bộ năng lượng Mỹ thì cho rằng CNHT là những ngành công nghiệp cung
cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng
được đưa ra thị trường.
Thuật ngữ “công nghiệp phụ thuộc” được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ từ
đầu những năm 1950. Thuật ngữ này được định nghĩa trong Luật (Phát triển và
Điều chỉnh) Công nghiệp năm 1951 là “hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có
liên quan đến hoặc có dự định liên quan đến việc chế tạo hoặc sản xuất linh kiện,
phụ tùng, cụm linh kiện, công cụ hoặc hàng hóa trung gian, hoặc cung cấp dịch
vụ,…”
5

thiệu rộng rãi ở các nước châu Á tại các cuộc họp của Tổ chức Năng suất châu Á
(APO – Asian Productivity Organization) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –
Thái Bình Dương (APEC) thì Việt Nam lại đang loay hoay trong giai đoạn đầu
của quá trình Đổi mới, cho nên một lần nữa Việt Nam lại không dành sự quan
tâm thích đáng cho ngành công nghiệp này.
Đến giữa những năm 1990, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng
nhanh, đặc biệt là trong các ngành sản xuất lắp ráp, các nhà đầu tư nước ngoài đã
vấp phải vấn đề rất lớn về nguồn cung cấp các sản phẩm đầu vào cho họ. Chính
vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản đã nêu vấn
đề này tới Chính phủ Việt Nam và đề nghị Chính phủ có những biện pháp thích
hợp để phát triển CNHT, giải quyết vấn đề cho các nhà sản xuất lắp ráp. Chính vì
vậy, “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” đã được chính thức ký kết vào
8 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
tháng 4 năm 2003, theo Bản kế hoạch hành động triển khai sáng kiến chung đã
được thông qua sau đó gồm 44 hạng mục lớn, hạng mục đầu tiên chính là nhằm
phát triển CNHT ở Việt Nam.
Mặc dù hiện nay Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa cụ thể, chính thức nào
về CNHT trong các văn bản pháp lý, nhưng theo các chuyên gia của Viện nghiên
cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, Bộ Công nghiệp thì: “CNHT là hệ
thống các công nghệ và cơ sở sản xuất chuyên đảm nhận việc cung cấp, đảm bảo
thiết kế nguyên vật liệu, bán thành phẩm và linh kiện… phục vụ cho việc lắp ráp
đồng bộ các sản phẩm công nghệ cuối cùng.”
Theo chuyên gia của Cục xúc tiến thương mại Nhật Bản tại Hà Nội,
Kyoshiro Ichikawa, trong Báo cáo nghiên cứu về ngành CNHT tại Việt Nam đã
nhấn mạnh rằng: “Ngành CNHT cần được coi là một cơ sở công nghiệp hoạt
động với nhiều chức năng để phục vụ một số lượng lớn các ngành lắp ráp, chứ
không nên coi nó là ngành thu thập ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không
liên quan. Bên cạnh đó, ngành CNHT không chỉ sản xuất linh kiện mà quan
trọng hơn là thực hiện các quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận và

cụ, máy móc và nguyên vật liệu.
7
Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, theo nội dung Quyết định phê
duyệt “Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010 tầm nhìn 2020” của Bộ Công
7
Kenichi Ohno (Chủ biên). (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Tập 1), Diễn đàn phát triển
Việt Nam (VDF), Hà Nội. Có trên địa chỉ www.vdf.org.vn
11 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
nghiệp (7/2007) có thể xác định phạm vi của ngành CNHT Việt Nam tương ứng
với phạm vi mở rộng 2.
8
Từ việc xác định được phạm vi ngành CNHT ở trên, người viết cũng sẽ sử
dụng làm cơ sở cho việc phân tích những đặc điểm và vai trò của ngành CNHT
sẽ được trình bày sau.
III. Các giai đoạn phát triển của công nghiệp hỗ trợ
Thực tế các quốc gia trên thế giới cho thấy, CNHT có giai đoạn phát triển
khá rõ ràng. Tuy nhiên, quá trình hình thành và phát triển CNHT tại các nước
khác nhau lại không thống nhất. Ở các nước phát triển, CNHT hình thành trước
hoặc đồng thời với ngành công nghiệp sản xuất chính. Ở các nước NICs, CNHT
thường hình thành đồng thời với việc tổ chức, lắp ráp, sản xuất các sản phẩm
công nghiệp cuối cùng. Còn ở các nước đang phát triển, do thiếu vốn, công nghệ,
thị trường tiêu thụ, nên thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, ngành
CNHT hình thành sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn,
công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và sau
đó, tùy theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở
sản xuất hỗ trợ, có thể vươn ra xuất khẩu các sản phẩm hỗ trợ sang các thị trường
khác.
Trên thực tế việc tách bạch từng giai đoạn là khá khó khăn vì các giai đoạn
đều kế thừa lẫn nhau. Sự ngắn dài của mỗi giai đoạn tuỳ thuộc vào sự phát triển

4
Giai đoạn tập trung các ngành CNHT. Trong giai đoạn này hầu
như toàn bộ các chi tiết, phụ tùng, linh kiện đã được tiến hành sản
xuất tại nước sở tại, kể cả một phần các sản phẩm nguyên liệu sản
xuất các linh kiện đó. Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hỗ trợ trở
nên gay gắt hơn. Xu thế chung của cạnh tranh lúc này là hạ giá
thành sản xuất trong khi vẫn duy trì và phát triển chất lượng sản
phẩm.
5
Giai đoạn nghiên cứu, phát triển và xuất khẩu. Đây là giai đoạn
cuối cùng của quá trình nội địa hóa. Các nhà đầu tư nước ngoài
bắt đầu dịch chuyển các thành tựu nghiên cứu, phát triển tới nước
sở tại. Năng lực nghiên cứu, phát triển nội địa cũng đã được củng
cố và phát triển. Bắt đầu giai đoạn sản xuất phục vụ xuất khẩu
triệt để.
Nguồn: Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (2007),
Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010,
tầm nhìn đến 2020, Hà Nội, trang 10-11
IV. Đặc điểm ngành công nghiệp hỗ trợ
13 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
1. Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ
tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là một đặc điểm xuất phát từ lịch sử hình thành của ngành CNHT
cũng như khái niệm về CNHT. Khái niệm CNHT được Nhật Bản đưa ra từ
những năm 1980 đã thể hiện đặc trưng của ngành, đó là: CNHT chỉ nhằm hỗ trợ
việc sản xuất ra thành phẩm chính và được tiến hành chủ yếu tại SMEs. Sự hình
thành và phát triển của rất nhiều SMEs sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho những công
ty sản xuất lắp ráp có thể được lý giải do Chính phủ Nhật Bản đã dành rất nhiều
những ưu đãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa này với các chính sách như “Luật

4. Công nghiệp hỗ trợ là ngành đòi hỏi đầu tư nhiều vốn và nguồn nhân lực
có trình độ cao
So với ngành công nghiệp lắp ráp (một trong những ngành đòi hỏi vốn cố
định cao) thì ngành CNHT cần nhiều vốn hơn. Trong khi ở ngành công nghiệp
lắp ráp, sản phẩm cần nhiều lao động thì việc sản xuất các sản phẩm của ngành
CNHT lại cần nhiều máy móc và ít lao động hơn. Hơn nữa, máy móc phục vụ
quá trình sản xuất lại không thể chia nhỏ, mua từng phần. Vì vậy dù các nhà máy
có quy mô nhỏ hay lớn thì việc đầu tư vốn vào hệ thống máy móc khá tốn kém.
Số lượng lao động trong ngành CNHT ít hơn trong các ngành khác nhưng lại đòi
hỏi phải có trình độ cao (các kỹ sư, kỹ thuật viên) để có thể vận hành tốt hệ
thống máy móc hiện đại. Do đặc điểm này mà các ngành CNHT tại các nước
đang phát triển như Việt Nam vẫn chưa phát triển. Họ không đủ khả năng tài
chính để đầu tư hệ thống máy móc hiện đại và mặc dù có lực lượng lao động dồi
dào thì chất lượng lao động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành.
5. Công nghiệp hỗ trợ có quan hệ mật thiết với đầu tư trực tiếp nước ngoài
15 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Đối với các nước đang phát triển, CNHT và đầu tư trực tiếp nước ngoài có
mối quan hệ mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, thể hiện trên nhiều khía cạnh.
Một mặt, FDI là tiền đề để thúc đẩy ngành CNHT trong nước hình thành
và phát triển. Thậm chí có thể nói, không có vốn FDI đầu tư vào các ngành công
nghiệp chế tác - chủ yếu là hoạt động gia công, lắp ráp - thì không có ngành
CNHT ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu quốc tế đã nói nhiều đến “tác
động lan tỏa” của các doanh nghiệp FDI đối với nền công nghiệp nói chung và
ngành CNHT nói riêng của nước sở tại.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của CNHT trong nước sẽ làm tăng sức
hấp dẫn trong thu hút FDI. Theo số liệu điều tra do tổ chức JETRO tiến hành tại
các cơ sở lắp ráp cơ khí của các nhà đầu tư Nhật Bản ở Đông Nam Á, chi phí
linh kiện, phụ tùng chiếm đến 70-90% giá thành sản phẩm, trong khi chi phí
nhân công chỉ chiếm khoảng 10%

nước phục vụ các doanh nghiệp FDI. Những cơ sở nào sớm hình thành mối liên
kết với các doanh nghiệp FDI sẽ được hỗ trợ về nhiều mặt như: đào tạo nguồn
nhân lực, cung cấp thiết bị kĩ thuật, chuyển giao công nghệ,… và sẽ có bước tiến
vượt bậc.
Giai đoạn 3: “Thời kì phát triển cao trào”. Sau một thời gian hoạt động,
quy mô sản xuất của các doanh nghiệp FDI được mở rộng, tạo ra thị trường ngày
càng lớn cho CNHT, theo đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể tìm đến
đầu tư vào lĩnh vực này.
10
6. Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ có thể được dùng trong nước hoặc xuất
khẩu
Sản phẩm của ngành CNHT không chỉ phục vụ cho các ngành công
nghiệp nội địa. Khi đạt tới mức độ phát triển cao, ngoài việc cung cấp cho các
ngành công nghiệp trong nước, các sản phẩm của ngành CNHT có thể xuất khẩu
10
TS. Nguyễn Công Liêm, Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, “Đi tìm
lời giải cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội,
số 19, tháng 7/2007.
17 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
ra nước ngoài. Trong khu vực ASEAN, Thái Lan được coi là một điển hình
thành công trong việc xuất khẩu các sản phẩm của CNHT. Xuất khẩu sản phẩm
hỗ trợ có thể coi là một trong những hướng đi phù hợp với Việt Nam, khi dung
lượng thị trường cho ngành CNHT còn nhỏ.
V. Vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ
1. Công nghiệp hỗ trợ phát triển giúp tăng cường thu hút vốn FDI
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, CNHT phát triển là một trong những
tiêu chí lựa chọn môi trường đầu tư tiềm năng. Gần đây, chi phí nhân công rẻ
không còn là lợi thế lớn của các nước tiếp nhận đầu tư, mà chính CNHT phát
triển mới là điều hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Theo điều tra của JETRO

hóa vào một khâu mà mình có khả năng làm tốt nhất và từ đó sẽ đầu tư tiền của,
công sức nâng cao hiệu quả, chất lượng của sản phẩm mình làm ra.
Hơn nữa, với sự phát triển của các doanh nghiệp chuyên sản xuất linh
kiện, phụ tùng, tư liệu sản xuất đầu vào,… các doanh nghiệp lắp ráp, chế tạo sản
phẩm cuối cùng sẽ không phải lo sản xuất hay nhập khẩu các sản phẩm đầu vào.
Các doanh nghiệp hỗ trợ sẽ tập trung nghiên cứu, thiết kế để sản xuất ra các sản
phẩm đầu vào ngày càng đạt các tiêu chuẩn chất lượng tốt hơn, năng suất hơn
đáp ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp. Quá trình tạo ra thành phẩm nhờ
đó nhanh hơn, sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn, hiệu quả kinh tế nhờ đó cũng
tăng lên. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất sẽ tạo nên lợi thế cạnh
tranh cho sản phẩm hỗ trợ cũng như sản phẩm cuối cùng tại một quốc gia.
3. Công nghiệp hỗ trợ phát triển tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ cấu lao
động theo hướng tích cực
Các quốc gia có nền CNHT kém phát triển thường là những nước có
nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng lao động thấp. Vì thế mà các doanh
nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT để tiến hành sản
xuất và xã hội thì vẫn tồn tại một số lượng lớn lao động không có công ăn việc
làm. CNHT phát triển có vai trò tạo thêm việc làm cho người lao động trong lĩnh
19 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
vực công nghiệp. CNHT phát triển khiến nhu cầu tuyển dụng của các doanh
nghiệp sản xuất trong nước cũng tăng cao, những người lao động ở các làng quê
muốn có công ăn việc làm phải tham gia các lớp học nghề, các trường trung cấp
hay cao đẳng, đại học để bắt kịp với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.
Với mức bao phủ rộng các ngành công nghiệp, số lượng việc làm mà CNHT tạo
ra sẽ là không nhỏ. Môi trường đầu tư sẽ trở nên hấp dẫn hơn nhờ CNHT phát
triển, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cũng muốn tuyển dụng thêm lao động
phổ thông trong nước để giảm chi phí nhân công. CNHT càng phát triển đòi hỏi
chất lượng lao động cũng phải ngày một nâng cao để đáp ứng yêu cầu tuyển
dụng của nhà sản xuất. Một bộ phận các doanh nghiệp sẽ thực hiện chủ trương

nghiệp của một quốc gia sẽ mãi chỉ là gia công, lắp ráp đơn thuần, phải phụ
thuộc nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước ngoài, khi đó giá trị gia tăng cho
sản phẩm cuối cùng không cao, thu nhập thực tế của người lao động thấp, không
tương xứng với công sức lao động bỏ ra. CNHT cũng giúp cho các ngành công
nghiệp chủ đạo sẽ chủ động trong quá trình sản xuất, nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các sản phẩm của mình, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Đây chính là cơ sở cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
21 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CHƯƠNG II
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
I. Thực trạng phát triển CNHT tại một số nước Đông Á
Các nước Đông Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan và
Trung Quốc là một khu vực kinh tế phát triển nhất châu Á hiện nay. Nhật Bản là
nền kinh tế phát triển thứ hai thế giới, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Đài Loan đều
là những quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Việc phát triển công nghiệp của
các nước này có nước thì lâu đời có nước mới phát triển nhưng đều thể hiện rõ
mục tiêu phát triển CNHT rất sớm. Nói chung, CNHT tại các nước Đông Á là
những nền CNHT khá phát triển, quá trình phát triển CNHT của họ có nhiều
điểm Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm.
1. Tại Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp phát triển nhất châu Á với hàng
loạt các tập đoàn lớn đang khẳng định vị trí dẫn đầu trên thế giới. Để có được
thành quả như hiện nay, trước tiên phải kể đến việc Chính phủ Nhật Bản đã đưa
ra chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp, đặc biệt là việc quan tâm phát triển
các ngành CNHT giúp Nhật Bản từ chỗ phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài
trở thành quốc gia tự chủ và dẫn đầu về công nghệ như hiện nay. Để phục vụ nhà
máy lắp ráp, Nhật Bản có hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các
linh phụ kiện hỗ trợ.

cứu phát triển sản phẩm mới với các tính năng ngày càng cao; đặc biệt, các
doanh nghiệp độc quyền đã chuyển hướng chiến lược xuất khẩu.
12
/>23 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật Bản chuyển sang liên kết với các doanh
nghiệp nước ngoài, sử dụng có hiệu quả các phụ tùng giá rẻ của nước ngoài. Tuy
nhiên, doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì và tăng cường ưu thế về công nghệ và
khâu khai thác phát triển sản phẩm mới, không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm, cải tiến mẫu mã và phát triển thương hiệu. Bên cạnh đó, do nhu cầu tiêu
thụ trong nước rất ít nên Chính phủ Nhật Bản đã chuyển hướng quản lý, hỗ trợ
các doanh nghiệp Nhật Bản để mở rộng sản xuất và thâm nhập thị trường ngoài
nước. Đến nay doanh nghiệp Nhật Bản đã rất thành công trong việc “xuất khẩu
sản xuất” tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu, khai thác hiệu quả
thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao.
13
Trong ngành CNHT điện tử Nhật Bản, sự phát triển của các doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm linh phụ kiện cho ngành công nghiệp điện tử đã trở thành một
mạng lưới rộng khắp. (Xem Bảng 2, trang 21).
Nhìn vào bảng ta có thể thấy mạng lưới sản xuất linh kiện điện tử của
Nhật Bản rải khắp đất nước và chiếm vị trí quan trọng trên thế giới. Việc xây
dựng một mạng lưới CNHT ổn định chính là thành công của công nghiệp điện tử
Nhật Bản.
Bảng 2: Tình hình phân bổ sản xuất các linh kiện điện tử ở Nhật Bản
Thành phố Thứ hạng
trên thế
Kim ngạch
(Triệu
Tỷ trọng
trong nước

Trung Quốc là quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất một số loại sản phẩm dệt
may, đồng thời cũng là quốc gia xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Quá
trình phát triển công nghiệp dệt may của Trung Quốc được chia làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa ngành dệt và
may, Trung Quốc đã coi ngành dệt là ngành hỗ trợ chủ đạo cho ngành may, và sự
25 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp

Trích đoạn Một số vấn đề đặt ra cho ngành CNHT tại Việt Nam 1 Sự cần thiết phải phát triển CNHT tại Việt Nam Hình thành một chiến lược trợ cụ thể để phát triển CNHT Xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp hỗ trợ và sản phẩm hỗ trợ và phổ biến thông tin doanh nghiệp Phát triển các DNNVV trong ngành CNHT Hoàn thiện và bổ sung các chính sách ưu đãi đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status