BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
KHOA ĐẠI HỌC TẠI CHỨC
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ TỐT NGHIỆP
1. Đề tài :
Nghiên cứu và phân tích về máy vật lý trị liệu sóng ngắn Carupuls - 419.
2. Nội dung chính gồm có :
Lời mở đầu.
Chương I : NGHIấN CỨU CHUNG VỀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU
SểNG NGẮN .
Chương II : ĐẶC ĐIỂM CỦA MÁY VẬT LÝ TRỊ LIỆU SểNG
NGẮN CURAPULS - 419.
Chương III : PHÂN TÍCH NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY
VẬT LÝ TRỊ LIỆU SÓNG NGẮN CURAPULS - 419.
Chương IV : CÁC QUY TẮC AN TOÀN - SỬ DỤNG - HỎNG HểC
THÔNG THƯỜNG VÀ CÁCH SỬA CHỮA.
Phần phụ lục.
3. Hình vẽ bao gồm :
- Sơ đồ khối máy vật lý trị liệu sóng ngắn Curapuls - 419.
- Khối điều khiển.
- Khối nguồn và bảng rơle.
- Khối phát sóng cao tần và tầng ra.
- Khối đồng hồ thời gian và dải hiển thị.
- Sơ đồ nguyên lý bộ so pha.
- Sơ đồ nguyên lý mạch S/H.
- Khối điều khiển mô tơ và chỉ thị điều hưởng.
4. Cán bộ hướng dẫn :
1
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
1
1. Thầy giáo : PGS - TS NGUYỄN VĂN KHANG là giảng viên bộ
Ngày tháng năm
( Cán bộ hướng dẫn ký )
PGS - TS : NGUYỄN VĂN KHANG BẢN NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CỦA
3
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
3
GIÁO VIÊN DUYỆT
1. Nội dung thiết kế đồ án tốt nghiệp :
Đề tài : “ Nghiên cứu và phân tích về máy vật lý trị liệu sóng ngắn
Carupuls - 419 ”.
Nội dung : Như phần nhiệm vụ thiết kế tốt nghiệp.
2. Nhận xét của giáo viên hướng duyệt :
Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo : PGS - TS Nguyễn Văn Khang là
giảng viên khoa điện tử viên thông của trường đại học Bách Khoa Hà Nội, tụi đó
nghiên cứu và làm đồ án về thiết bị vật lý trị liệu sóng ngắn với nội dung : “
Nghiên cứu khai thác nguyên lý hoạt động và cách sửa chữa những hư hỏng
thường gặp ở máy trị liệu sóng ngắn Curapuls - 419 ”.
Hà nội, ngày 01 tháng 06 năm 2006 !
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN TOÀN THẮNG
CHƯƠNG I
5
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
5
NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU
SÓNG NGẮN
I.1. SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VẬT LÝ TRỊ LIỆU SÓNG NGẮN :
Cơ thể sống là một môi trường có thành phần về cấu trúc rất phức tạp,
trên cơ sở của những tác dụng cơ bản thỡ dòng điện có thể gây ra tác dụng
sinh lý.
Khi duy trì được sự cân bằng hoạt động sinh học và tâm sinh lý của các
cơ quan trên toàn bộ cơ thể thì sức khoẻ của con người được đảm bảo. Sự
mất cân bằng về hoạt động sinh học và tâm sinh lý đã gây ra các rối loạn về
chức năng của các cơ quan cũng như hiện tượng phát sinh bệnh tật. Các tác
nhân gây bệnh có thể là các yếu tố sinh vật học, cơ học, nhiệt học, hoá học,
gây tổn thương đến các tế bào sinh vật làm rối loạn chức năng, mất cân bằng
đối với các hoạt động sinh học và tâm sinh lý của các cơ quan trên toàn bộ cơ
thể sống. Các cơ chế bảo vệ như cơ chế miễn dịch, cơ chế thần kinh - thể
dịch, giỳp cho cơ thể người bệnh sống lõu hơn để chống lại bệnh tật và lấy
lại sự cân bằng và chức năng của cơ thể.
Phòng bệnh là biện pháp điều trị dự phòng, là biện pháp ngăn chặn các
tác nhân sinh bệnh gừy tác động mạnh đối với cơ thể và tăng cường sức đề
từng cơ quan trong toàn bộ cơ thể sống.
Những tác nhân mang năng lượng lớn đó có thể làm thay đổi trực tiếp
đến cấu trúc cơ bản của cơ thể sống, protit bị biến dạng thông qua sự biến đổi
về tính chất, men không còn tác động xúc tác, nhiễm sắc thể bị đứt gúy dẫn
đến xuất hiện đột biến, cơ thể có thể bị chết.
Tuy nhiên ta có thể khai thác những tác dụng có lợi trong việc điều trị và
hạn chế những tác dụng có hại cho cơ thể sống.
7
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
7
Trong phương pháp điều trị đó thường vận dụng các tác dụng như tác
dụng về nhiệt, tác dụng về quang học ( dùng ánh sáng ), tác dụng cơ học, tia
sáng các loại như tia lửa điện lazer, điện trường siêu cao tần, và đặc biệt
hơn là dòng điện ở nhiều chế độ khác nhau, tác dụng siêu âm và bức xạ ion
hoá.
1. Dòng điện trong vật lý trị liệu sóng ngắn :
Dòng điện có thể gây ra nhiều tác dụng khác nhau. Tuỳ theo từng bản
chất cụ thể của môi trường với hoàn cảnh khi áp dụng cho từng người bệnh
có được dòng điện chạy qua và cơ cấu của từng thiết bị trong ngành y học
hiện đại.
a. Tác dụng nhiệt :
Với các tác nhân vật lý có cơ chế hoạt động khác nhau và tác dụng cùng
mục đích làm tăng nhiệt tổ chức mà nó tác động ( dũng thừu nhiệt, sóng ngắn,
tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia laser ) lên cơ thể của người bị bệnh.
Khi nhiệt tổ chức tăng kéo theo sự tăng cường chức năng sinh học có tính
chất bảo vệ cơ thể như là :
+ Tăng tốc độ các phản ứng sinh học trong đó điều kiện xảy ra phản ứng
sinh học là sự va chạm giữa các nguyên tử và phân tử của các chất tham gia
phản ứng cùng với sự va chạm của các hạt mang điện đó phải có sự dự trữ
năng lượng lớn hơn một năng lượng ngưỡng nào đó ( năng lượng hoạt hoá ).
âm gây ra tác động cơ học ở mức độ tế bào hay tổ chức đã kích thích quá
trình chuyển hoá chất, kích thích các thụ cảm thể thần kinh, gây ra các tác
dụng sinh học khác nhau làm giảm đau, giãn cơ, tăng tuần hoàn và dinh
dưỡng tại những chỗ bị đau giúp tăng cường sức kháng thể trong cơ thể sống.
9
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
9
d. Tác dụng quang học :
Ở đừy dựng tia hồng ngoại, tia tử ngoại và ánh sáng nhìn thấy. Các loại
ánh sáng trên khi tác động lên cơ thể sống gây ra các hiệu ứng sinh học khác
nhau và được ứng dụng vào điều trị và phòng bệnh. Bao gồm:
• Điều trị bằng tia hồng ngoại ( infrared therapy )
• Điều trị bằng tia tử ngoại ( ultraviolet therapy )
• Điều trị bằng tia laser ( laser therapy )
e. Tác dụng điện tử :
Tổ chức cơ thể là một môi trường dẫn điện. Dưới tác dụng của dòng điện,
trong tổ chức sẽ xảy ra các hiện tượng : chuyển dịch ion, thay đổi điện thế
màng, kích thích các thụ cảm thể thần kinh Do đó, dưới tác dụng của dòng
điện và điện từ trường sẽ làm tăng cường các quá trình sinh học trong tổ chức
như tăng tính thấm qua các màng sinh học, tăng hoạt tính của tế bào và thể
dịch, tăng quá trình chuyển hoá, tăng cường quá trình hưng phấn hoặc ức chế
dẫn truyền thần kinh
Cơ thể sống là một môi trường có thành phần và cấu trúc rất phức tạp,
trên cơ sở của những tác dụng cơ bản kể trên, dòng điện có thể gây nên tác
dụng sinh lý.
Mức độ tác dụng này phụ thuộc vào cường độ của dòng điện và tần số
của nó ( nếu là dòng xoay chiều ).
Tác dụng kích thích được xem là tác dụng có lợi trong điều trị .
Tác dụng có hại là những tác dụng cỡ >10mA, có thể gây co cơ, làm tim
ngừng đập … dẫn đến người bệnh có thể chết đột ngột.
điện này chuyển thành nhiệt năng. Tần số càng cao, lưỡng cực càng quay
nhiều thì nhiệt toả ra càng lớn. Tuy vậy, sự tỉ lệ này có giới hạn, khi tần số
này quá lớn, lưỡng cực không quay kịp và đứng bất động, do đó nhiệt toả ra
11
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
11
giảm xuống. Nghĩa là có một tần số mà tại đó hiệu ứng nhiệt đạt cực đại. Giá
trị này phụ thuộc từng loại mô cụ thể sau :
• Ở mô mỡ :
m
= 4m
• Ở mô cơ :
m
= 1,5 m
* Tác dụng không mang bản chất nhiệt như làm biến đổi vi cấu trúc, ảnh
hưởng tới hoạt động của các mạch bên của phần tử protein sẽ làm thay đổi
tính hưng phấn và dẫn truyền của tế bào thần kinh, thay đổi hoạt động chức
năng và trao đổi dinh dưỡng của mô.
I.2. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG NGẮN - VI SểNG :
1. Khái quát :
Điện trị liệu là một phần cơ bản của vật lý trị liệu, ra đời từ lâu và không
ngừng phát triển mạnh mẽ dựa trên cơ sở các thành tựu đã đạt được trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ điện tử.
Với sự phát triển đó chúng ta không thể không kể đến các kỹ thuật điện
trị liệu, bao gồm 2 yếu tố sau :
• Điều trị bằng dòng điện : dòng điện một chiều đều Galvanic và điện
phân, dòng điện xung thấp tần và trung tần.
• Điều trị bằng điện từ trường : điện trường cao tần ( sóng ngắn và vi
sóng ), cảm ứng D’ Arsonval, tĩnh điện từ trường, ion hoá không khí,
điện trường cao áp.
f - là tần số dao động
Như vậy, bước sóng tỷ lệ nghịch với tần số f. Khi biết một trong hai
thông số trên ta có thể tìm được thông số còn lại.
13
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
13
* Phân loại sóng điện từ trong thực hành :
Loại Tần số ( Hz )
λ ( m )
- Sóng dài
- Sóng trung
- Sóng ngắn
- Sóng cực ngắn
- Vi sóng
3.10
4
- 3.10
5
3.10
5
- 3.10
6
3.10
6
- 3.10
7
3.10
- Vi súng cú : dưới 1m ( sóng dm, cm )
Cách phân loại này có thể suy ra tần số theo công thức f = V/ . Phần
quan trọng của sóng điện từ phụ thuộc vào tần số dao động của nó.
Theo quy ước về sử dụng sóng điện từ để tránh hiện tượng giao thoa
hoặc nhiễu sóng điện từ sang nhau trong các thiết bị như radio, ti vi, thông tin
liên lạc, y tế …thỡ vật lý trị liệu thường dùng sóng điện từ có bước sóng ngắn
với bước sóng = 11 - 22 ( m ); súng cực ngắn cỳ bước sóng là = 7,6
( m ); vi sỳng cỳ bước sóng là = 12,2 ( cm ). Hiện nay chủ yếu chỉ sử dụng
sóng ngắn với bước sóng là = 11,06 ( m ) tương đương với tần số f =
27,12 ( MHz ) và vi sỳng cỳ bước sóng là = 12,24 ( cm ) tương đương với
tần số f = 2450 ( MHz ).
+ Quá trình ứng dụng điện cao tần trong y học là :
Bằng sự nghiên cứu của các nhà vật lý học đó là Dubois Reymond
( 1848 ), D’ Arsonval ( 1881 ), Lapicque ( 1903 ) đã chứng minh với dòng
14
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
14
điện thấp tần và trung tần tác động lên cơ thể gây ra hiện tượng điện giật
( kích thích thần kinh - cơ ) với cường độ rất nhỏ ( mA ) và độ rộng xung
( ms ) - là cơ sở cho nghiên cứu ứng dụng dòng thấp tần và trung tần trong y
học.
Hertz ( 1886 ) phát minh ra máy dao động điện với tần số dao động lên
tới hàng nghìn MHz. Với dòng điện có dao động trên 100 ( KHz ) hầu như
không cũn kích thích thần kinh bằng hiện tượng điện giật. Các nhà vật lý
Tesla, Thomson, Charrin, Oudin, Bergonie … đã xây dựng và tạo nền móng
cho ứng dụng điện cao tần trong y học bằng các hiệu ứng sinh học bước đầu.
Bordier và Lacomte ( 1900 ) phát hiện điện cao tần cũn gừy hiệu ứng nhiệt.
Nhờ những thành tựu trên mà Lebedev, Esau, Schliephake … đã nghiên cứu
và đề xuất vấn đề “ chữa bệnh khi điện được đặt cách xa ” có nghĩa là bằng
điện trường ( không phải dòng điện trực tiếp ). Từ đó, các kỹ thuật điện cao
Q ( calo ) = 0,24RI
2
t
Ttong đó : Q - nhiệt năng ( calo )
R - điện trở ( )
I - cường độ dòng điện cao tần ( A )
t - thời gian ( s )
Phương thức tụ điện tạo ra hai loại dòng điện trong tổ chức:
• Dòng dẫn I
r
: là dòng dịch chuyển của các ion và điện tử, sinh ra nhiệt
năng trong tổ chức theo công thức:
Q = R.I
r
2
.t
Trong đó: Q - năng lượng nhiệt ( J )
I
r
- cường độ dòng dẫn ( A )
R - điện trở ( )
t - thời gian ( s )
Từ các biểu thức trên ta thấy mức độ cung cấp nhiệt năng cho tổ chức
phụ thuộc vào các yếu tố sau đừy :
16
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
16
+ R - Trở kháng của tổ chức
+ i - Cường độ dòng điện
+ t - Thời gian dòng điện đi qua tổ chức
17
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
17
* Phương thức cảm ứng :
Dựa trên nguyên lý từ trường xoay chiều cao tần qua cuộn dây tạo ra
dòng cảm ứng trong tổ chức gọi chung là dòng xoay hay dòng Foucault.
Dòng xoay sinh ra nhiệt theo công thức: Q = I
2
. t
Trong đó : Q - nhiệt năng ( J )
I - cường độ dòng Foucault ( A )
t - thời gian ( s )
Như vậy, nhiệt sinh ra theo phương thức này phụ thuộc độ dẫn điện của
tổ chức, khi tổ chức nhiều nước và ion như cơ và nội tạng sẽ tăng nhiệt hơn
so với mỡ. Có thể coi hằng số từ thẩm và hằng số điện môi xấp xỉ nhau đối
với mọi tổ chức, hay nói cách khác năng lượng từ trường qua các tổ chức như
nhau.
Khi ứng dụng có sự khác biệt là lớp tổ chức chịu tác động nằm ngoài
hoặc trong phạm vi cuộn dây ta xét :
• Nằm ngoài cuộn dây: Mật độ năng lượng tập trung trong lớp tổ chức
sâu cao hơn ở bề mặt, có thể đo độ dẫn điện tổ chức mỡ và cơ khác
nhau.
Kebbel và cộng sự khi nghiên cứu trên tổ chức mô phỏng nêu lên một số
nhận xét sau :
+Tăng nhiệt ở tổ chức cơ và mỡ tỉ lệ 1:1
+ Một nửa giá trị độ dày ở lớp cơ khoảng 2 cm
+ Với lớp tổ chức mỡ dày 3cm, lớp tổ chức cơ ngay dưới cũng tăng nhiệt
đáng kể.
Điều này có ý nghĩa trong thực hành khi sử dụng các điện cực cảm ứng
đơn như circuplode, flexiplode… cho phép tập trung năng lượng ở vựng sừu
19
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
19
* Dòng D’Arsonval : Là dòng xung xoay chiều. Mỗi đợt xung là một đợt
dao động cao tần có tần số 150 – 200 KHz, có biên độ giảm dần. Thời gian
có xung ngắn ( vài % giây ), thời gian không có xung kéo dài gấp vài chục
lần. Điện thế cao 4 - 5 ( KV ), biên độ lên xuống của xung rất dốc. Cường độ
dòng điện nhỏ 20 – 40 ( mA ), người ta còn gọi là dao động điện tắt dần. Có
hai cách điều trị bằng dòng D’Arsonval là điều trị toàn thân và điều trị tại
chỗ.
- Điều trị toàn thân : cho bệnh nhân nằm trong cuộn dây cảm ứng có dòng
điện chạy qua. Cơ thể được tác động bởi một từ trường dao động rất mạnh
( dòng điện xoỏy – Foucault ) : tuần hoàn ngoại vi tăng, giảm huyết áp động
mạch, giảm kích thích thần kinh, tăng chuyển hoá, tăng sử dụng O
2
, tăng thải
trừ CO
2
. Những tác động trên có tác dụng điều hoà hệ thần kinh thực vật.
Dòng D’Arsonval toàn thân được dùng trong các bệnh lý : suy nhược thần
kinh thể cường, cao huyết áp, rối loạn thần kinh thực vật v.v
- Điều trị tại chỗ : điện cực của máy được đặt trong một ống thuỷ tinh, khi
điều trị, điện cực phóng ra các tia lửa điện. Tia lửa điện phát ra từ các cực
thuỷ tinh, gây tiếng nổ “ lép bép ” kích thích các thụ cảm thể thần kinh ngoại
vi trên da, tăng tuần hoàn tại chỗ. Máy “ tia lửa – Iskna ” chữa xệ da mặt tuổi
già, rụng tóc từng đám, rối loạn vận mạch đầu chi, tăng dinh dưỡng các vết
loột lừu liền, viêm da mãn tính. Các điện cực thuỷ tinh có dạng hình lược
chải, hình ống, hình nấm, Trong điều trị, phải cho điện cực sát da, không
nhấc điện cực khỏi da. Thời gian điều trị trung bình từ 8 – 10 phát cho một
lần/ngày. Liệu trình điều trị 10 - 15 ngày.
Một số tiến bộ về ứng dụng điện trường cao tần những năm gần đây là :
ngoài chế độ điều trị liên tục cũn dựng thờm chế độ xung để phát huy hiệu
quả bằng điều chỉnh hiệu ứng nhiệt và cực hoá, phù hợp với sinh lý hơn và
hạn chế tối đa các mặt tác hại của bức xạ cao tần. Có thể tóm tắt những tác
dụng chính của sóng ngắn và vi sóng qua các phần như sau :
a. Tác dụng của điện trường cao tần ở chế độ liên tục :
* Mạch máu và bạch huyết :
21
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
21
Điểm nổi bật mà nhiều tác giả nhấn mạnh là tác dụng tăng tuần hoàn cục
bộ của điện trường cao tần. Rentech chứng minh là do giãn nở các mao mạch
và tiểu động mạch. Thom qua thực nghiệm nêu cụ thể hơn là lúc đầu có co
mạch phản xạ và nhanh chóng chuyển sang giãn nở cả động mạch và tĩnh
mạch chủ yếu do giãn thành mạch, làm tăng lưu thông cả bạch huyết tại vùng
tổ chức chịu tác động từ trường. Barth và Kern nhận thấy vai trò quan trọng
của liều điện trường đối với thành mạch : với liều nhỏ khoảng 10 phút đạt
hiệu quả tốt, trái lại liều mạnh thời gian dài tác dụng ngược lại là co mạch
máu lưu thông chậm, thậm chí đe dọa tắc mạch mỏu gừy choỏng váng. Dựa
trên tác dụng này có tác giả đề xuất phương pháp diệt các khối ung thư nhỏ
bằng tăng nhiệt tại chỗ của trường cao tần.
Scoot nhận thấy tác dụng giãn mạch không có nếu động mạch có tổn
thương hoặc không bình thường, đối với trường hợp đó, Scoot khuyờn nờn
điều trị trường cao tần tại vùng bụng để gây phản xạ vận mạch.
Có thể rút ra kết luận là : điều trị điện trường cơ thể với liều hợp lý có tác
dụng tăng tuần hoàn máu và bạch huyết cục bộ rõ ràng do giãn thành mạch,
cân đối với vùng mạch máu tổn thương có thể gây tăng tuần hoàn cục bộ
bằng điều trị theo vùng phản xạ đốt đoạn. Liều mạnh và kéo dài gây tác dụng
ngược lại.
+ Máu :
dưỡng cho tổ chức tế bào cơ thể sống mà còn thúc đẩy sự vận chuyển các
thành phần sinh ra trong quá trình chuyển hoỏ cỏc chất. Edel và Scoot dựa
vào định luật Van’t Hoff giải thích sự tăng nhiệt tổ chức dẫn đến tăng chuyển
hoá ( nhiệt độ tổ chức tăng 1
0
C thì chuyển hoá tăng 13% ), điều trị tại cỏc
vựng tuyến nội tiết làm tăng hoạt tính cao.
+ Hệ thống thần kinh:
- Với thần kinh trung ương chủ yếu tác dụng tại chỗ tuyến yên.
- Với thần kinh ngoại vi : Thom nhận thấy sóng ngắn, vi súng kớch
thích thần kinh vận động và ức chế sợi dẫn truyền cảm giác đau đớn.
23
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
23
Scoot giải thích giảm đau nhức còn do tăng tuần hoàn cục bộ, tăng thải
trừ các tế bào bị thoỏi hoỏ, tỏi hấp thu các dịch vị sau khi tiết ra bị tích tụ lại,
cho nên có thể loại trừ đau tức khi viêm nhiễm do chấn thương gây ra và sau
phẫu thuật. Mặt khác, tăng nhiệt còn làm giãn và giảm đau trường lực cơ vận
động.
Rentch và Edel còn giải thích tác dụng giảm đau ở nội tạng bằng điều trị
sóng ngắn, vi sóng gián tiếp là do tác dụng phản xạ tạo nên.
+ Tác dụng phụ :
Theo Scoot với liều mạnh hoặc vùng rộng làm tăng thần nhiệt và giảm
huyết áp do nhiệt theo máu ảnh hưởng toàn thân, gây trạng thái mệt mỏi,
buồn ngủ…
Thom đã theo dõi các tác hại do sự tích luỹ nhiều liều nhỏ kéo dài, đặc
biệt ở kỹ thuật viên vận hành máy có thể xuất hiện một số triệu chứng như lo
âu, mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ… cho nên cần có các biện pháp hạn chế tác
hại đó.
Có tác giả còn băn khoăn về tác hại của vi sóng đối với tế bào sinh sản
đáng kể mà chính là do tác dụng sinh học điện từ. Vấn đề đặt ra là với sóng
ngắn chế độ xung cho phép sử dụng liều cao hơn để tăng tác dụng sinh học
mà không gây tăng nhiệt tổ chức quá mức quy định.
Năm 1940 lần đầu tiên điện trường cao tần xung được ứng dụng và nhiều
công trình nghiên cứu về tác dụng loại kỹ thuật này dần được chứng minh.
Các hiệu quả của điện trường cao tần chế độ xung được xác minh là :
chống viêm mạch, nhanh chóng làm lành vết thương, giảm đau, tiờu mỏu tụ
và nề, tăng tuần hoàn ngoại vi, kích thích quá trình liền xương, nhưng hạn
chế mặt tác hại do tăng nhiệt độ quá cao tại chỗ. Nhiều nghiên cứu điều trị
kết hợp sóng ngắn hoặc vi sóng chế độ xung tại vùng gan, vỏ thượng thận,
25
SINH VIÊN THỰC HIỆN NGUYỄN TOÀN THẮNG
25