SKKN Sử dụng phương pháp đóng vai kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin trong bài giảng ở một số bài môn công nghệ 10 - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………1
II. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………… 2
III. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….2
IV. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………2
V. Những đóng góp của đề tài……………………………………………….3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận của đề tài………………………………………………… 4
II. Cơ sở thực tiễn của đề tài…………………………………………………5
Chương II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Cách thức tiến hành phương pháp đóng vai kết hợp với ứng dụng công
nghệ thông tin. ………………………………………… 7
II. Áp dụng phương pháp đóng vai kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin
vào dạy học bài 9……………………………………………………………………8
Chương III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
I. Kết quả định lượng……………………………………………………….18
II. Kết quả định tính……………………………………………………… 19
III. Kết luận chung về thực nghiệm……………………………………… 20
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
I. Kết luận…………………………………………………………………………22
II. Đề nghị…………………………………………………………………………23
1
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những
quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và
tinh thần của con người. Tiếp theo chương trình môn Công nghệ ở trung học cơ sở,
nội dung sách giáo khoa Công nghệ 10 là những kiến thức cơ bản về nông- lâm-

III. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 10 bậc trung học phổ thông.
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo hướng
tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Công nghệ 10 (phần Nông,
Lâm, Ngư nghiệp).
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp thiết kế và sử dụng
phương pháp đóng vai kết hớp với ứng dụng công nghệ thông tin trong nội dung
bài 9: “Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn mạnh trơ sỏi
đá” - Công nghệ 10” theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
2. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để tham khảo ý kiến làm
cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
3
3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả thu được sau
khi tiến hành nghiên cứu.
V. Những đóng góp của đề tài
- Xây dựng được một hình thức tổ chức dạy và học theo hướng phát huy
năng lực của học sinh.
- Giúp học sinh có cơ hội vừa được tiếp thu kiến thức mới vừa có điều kiện
để thể hiện năng lực của bản thân.
- Hướng nghiên cứu của đề tài này có thể áp dụng rộng rãi trong công tác
giảng dạy với các bộ môn khác nhau.
4
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận của đề tài

phương pháp vấn đáp tìm tòi, trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm… Tuy nhiên, việc
sử dụng các phương pháp trên không thường xuyên, đa phần giáo án chủ yếu là nội
dung bài học chứ chưa chú trọng đến phương pháp, rất ít câu hỏi tư duy. Chỉ sử
dụng hệ thống sơ đồ trong SGK để minh họa cho bài học, mà không có thêm liên
hệ thực tiễn. Chưa chú ý sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh.
b. Việc học của học sinh
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, học sinh chủ yếu là nghe giảng, ghi chép chứ
chưa có ý thức phát biểu xây dựng bài. Một số em còn làm việc riêng trong giờ
học, có khi sĩ số lớp 42- 44 học sinh nhưng trong suốt giờ học chỉ tập trung 4-5 em
phát biểu xây dựng bài. Các em hầu như không có hứng thú vào việc học tập bộ
môn Công nghệ 10.
Qua thực tế giảng dạy nếu sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực như: thảo
luận nhóm, phiếu học tập, sử dụng băng hình… cùng với những câu hỏi tìm tòi,
kích thích tư duy, gây tranh luận thì không khí học tập sôi nổi hẳn, các em tích cực
6
phát biểu xây dựng bài. Ngược lại, ở một số lớp giáo viên sử dụng phương pháp
thuyết trình, đàm thoại tái hiện, thông báo… lớp học trở nên trầm, ít học sinh phát
biểu xây dựng bài.
2. Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Công nghệ 10 ở trường
THPT hiện nay
- Giáo viên ngại áp dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học. Bởi để
dạy học theo các phương pháp mới phát huy được tính tích cực của HS đòi hỏi phải
đầu tư thời gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án.
- Giáo viên đòi hỏi phải có năng lực tổ chức, điều khiển quá trình dạy học.
Đây là khó khăn đối với giáo viên hiện nay vì một số trường chưa có giáo viên
chuyên ngành kỹ thuật nông nghiệp.
- Ở một số trường THPT chưa có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học
tập của bộ môn Công Nghệ.
- Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng dạy và học Công nghệ 10

+ Nhóm 2, 4: Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 30 phút
cả nhóm cùng nghiên cứu, xây dựng “kịch bản”, cử đại diện lên bảng “đóng vai”
chính là loại đất đó. Giới thiệu “về mình” cho cả lớp trong thời gian 5 phút.
- Bước 4: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
- Bước 5: Thứ tự các nhóm lên đóng vai.
- Bước 6: Các học sinh khác theo dõi, nhận xét, bổ sung.
- Bước 7: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá.
Sau đây tôi xin giới thiệu “kịch bản” của học sinh Nguyễn Thị Thanh Hiền -
lớp 10A10 lên đóng vai (Từ in đậm là nội dung được HS ghi trên giấy A
0
):
Này! Này! Anh chị em ơi! Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ? (phía
dưới: không xưng danh thì ai biết là ai!). Vậy thì để tôi biểu diễn 1 đoạn văn nghệ
xem các bác có đoán ra không nhé. “Đất vắng cây đất ngừng ngừng hơi thở. Cây
thiếu đất cây sống sống với ai? Chuyện chăm năm ân tình cây và đất. Cây bám rễ
sâu đất ôm chặt tận đáy lòng” Nào các bác đoán đi!
(Phía dưới lớp: Tưởng tên gì hóa ra là đất).
Ấy! Ấy! Đất cũng có nhiều loại đất còn em đây có tên riêng là “Đất xám bạc
màu” đấy các bác ạ!
Họ đất xám bạc màu nhà em không phải tự nhiên mà có đâu. Chúng em chỉ
được hình thành ở những vùng có độ dốc thoải, nơi mà người nông dân vẫn giữ lối
canh tác lạc hậu như thâm canh, du canh, và gần đây em còn có cơ hội xuất
hiện nhiều thêm nữa khi con người tăng cường chặt phá rừng bừa bãi. Đấy, các
bác nhìn thì thấy ngay.
9
10
Đố các bác biết chúng em tập trung đông đảo ở đâu nào?
(Phía dưới lớp: Ở đâu?)
Chúng em phân bố chủ yếu ở vùng Trung du Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây

2. Kỹ năng
Rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, trình bày trước lớp
3. Thái độ
Giáo dục ý thức bảo vệ rừng đầu nguồn từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng của
rừng với việc bảo vệ đất.
II. Phương pháp dạy học
- Thảo luận nhóm – phương pháp đóng vai
- Làm việc với sách giáo khoa
III. Tiến trình bài dạy
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: - Nêu khái niệm và cấu tạo của hạt keo đất
- Phản ứng của dung dịch đất là gì? Nêu ý nghĩa của nó.
3. Nội dung bài mới
* Đặt vấn đề: Yêu cầu 1 học sinh đọc SGK giới thiệu về hiện trạng của đất nông
nghiệp ở nước ta.
HOẠT ĐỘNG NỘI DUNG
(?) Hiện nay ở nước ta đang tồn tại
những loại đất xấu nào?
- Gv bổ sung: Trong 4 loại đất xấu hình
thành ở nước ta thì tại Bắc Giang tồn tại
2 loại chủ yếu là đất xám bạc màu và
đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá.
14
- Giáo viên đưa một số hình ảnh về đất
xám bạc màu và đất xói mòn mạnh trơ
sỏi đá cho học sinh quan sát.
- Yêu cầu học sinh đóng vai mình chính
là loại đất xấu cần được cải tạo.
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm (10-

dưỡng, nghèo mùn
- Số lượng vi sinh vật ít, hoạt động yếu
3. Biện pháp cải tạo và hướng sử dụng
a. Biện pháp
15
(?) Cho biết tác dụng của các biện pháp
cải tạo đất xám bạc màu.
- Gv bổ sung: Luân canh cây trồng có
tác dụng điều hòa dinh dưỡng vì mỗi
loại cây trồng thích hợp với một chất
dinh dưỡng nhất định nên luân canh sẽ
không làm mất quá nhiều 1 loại chất
dinh dưỡng nào.
(?) Dựa vào đâu để tiến hành các biện
pháp cải tạo loại đất này?
(Đáp án: Dựa vào nguyên nhân hình
thành và tính chất của đất)
(?) Kể tên một số loại cây được trồng
trên đất xám bạc màu.
- Đại diện nhóm đất xói mòn mạnh trơ
sỏi đá lên bảng “đóng vai”.
HS khác bổ sung → GV tổng kết
(?) Đất xói mòn hình thành chủ yếu ở
khu vực nào?
(?) So sánh tính chất của đất xói mòn và
đất xám bạc màu?
(?) Cho biết tác dụng của các biện pháp
cải tạo đất xói mòn.
Biện pháp Tác dụng
1. BP thủy lợi

- Số lượng VSV ít, hoạt động yếu
3. Biện pháp cải tạo
Biện pháp Tác dụng
1. BP công trình
-Ruộng bậc thang
- Thềm cây ăn
- Giảm độ dốc
- Tăng độ che phủ
16
GV: Giới thiệu thêm một số nội dung
- Ruộng bậc thang: Có nhiều ở vùng núi
phía Bắc nước ta. Là hình thức canh tác
của đồng bào dân tộc sống ở vùng núi
có độ cao từ 700m - 1500m so với mực
nước biển.
- Đường đồng mức: Là đường được nối
từ các điểm có cùng độ cao so với mực
nước biển.
(?) Phân tích vai trò của việc trồng cây
gây rừng. Theo em cần làm gì để bảo vệ
rừng?
quả
2. BP nông học
- Canh tác theo
đường đồng mức
- Bón phân hợp lí
- Bón vôi
- Trồng cây thành
băng dải
- Canh tác nông

- Bài 12: Đặc điểm, tính chất, kĩ thuật sử dụng một số loại phân bón. Trong
bài này có thể sử dụng các cách sau:
+ Cách 1: Đóng vai là bà con nông dân đã sử dụng loại phân bón đó.
+ Cách 2: Đóng vai là người bán hàng về phân bón.
+ Cách 3: Đóng vai là loại phân bón.
- Bài 13: Ứng dụng công nghệ vi sinh trong sản xuất phân bón. Có thể sử
dụng các cách đóng vai tương tự bài 12.
- Bài 17: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng. Đóng vai là biện pháp của
phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng.
- Bài 19: Ảnh hưởng của thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến quần thể sinh vật
và môi trường. Với bài này có thể đóng vai theo cách sau:
+ Cách 1: Đóng vai là loài sinh vật hoặc môi trường chịu tác động của thuốc
hóa học bảo vệ thực vật.
+ Cách 2: Đóng vai là cán bộ khuyến nông tuyên truyền về ảnh hưởng của
thuốc hóa học bảo vệ thực vật.
Khi sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy bài 9, tôi đã tiến hành dạy song
song cùng thời gian và chéo nhau với 2 loại giáo án:
- Giáo án thực nghiệm có sử dụng phương pháp đóng vai kết hợp với hình ảnh.
- Giáo án đối chứng không sử dụng phương pháp đóng vai.
18
Sau khi dạy xong bài, tôi tiến hành kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của
học sinh bằng hệ thống câu hỏi (đề kiểm tra 15 phút).
Bước đầu thu được kết quả cụ thể như sau:
I. Kết quả định lượng
- Lớp đối chứng (ĐC): 10A5, 10A6, 10A7
- Lớp thực nghiệm (TN): 10A9, 10A10, 10A12
Lớp Số
HS
Số học sinh đạt điểm x
i

thực nghiệm tiếp thu kiến thức nhiều hơn và tốt hơn. Một trong những nguyên nhân
đó là: Ở lớp thực nghiệm, lớp học diễn ra nghiêm túc, học sinh hứng thú học tập,
tích cực, chủ động “đóng vai”, số lượng học sinh tham gia xây dựng bài nhiều làm
cho không khí lớp học sôi nổi kích thích sự sáng tạo, chủ động nên khả năng hiểu
và nhớ bài tốt hơn.
Còn ở lớp đối chứng, lớp học vẫn diễn ra nghiêm túc, học sinh vẫn chăm chú
nghe giảng, nhưng các em tiếp thu kiến thức chủ yếu thông qua cô giáo. Giáo viên
sử dụng phương pháp như thông báo, giải thích nên quá trình làm việc thường
nghiêng về giáo viên.
II. Kết quả định tính
Qua quá trình phân tích bài kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
và theo dõi trong suốt quá trình giảng dạy, tôi có những nhận xét sau:
- Ở các lớp đối chứng:
+ Phần lớn học sinh chỉ dừng lại ở mức độ nhớ và tái hiện kiến thức. Tính độc
lập nhận thức không thể hiện rõ, cách trình bày rập khuôn trong SGK hoặc vở ghi
của giáo viên.
+ Nhiều khái niệm các em chưa hiểu sâu nên trình bày chưa chính xác, thiếu
chặt chẽ.
+ Việc vận dụng kiến thức đối với đa số các em còn khó khăn, khả năng khái
quát hóa và hệ thống hóa bài học chưa cao.
+ Giờ học trầm lắng, kém hứng thú, các em vẫn trả lời câu hỏi nhưng chưa
nhiệt tình.
Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh hiểu bài khá tốt, trình bày khá lôgic, chặt chẽ.
- Ở các lớp thực nghiệm:
20
+ Phần lớn học sinh hiểu bài tương đối chính xác và đầy đủ
+ Lập luận rõ ràng, chặt chẽ
+ Độc lập nhận thức, có khả năng “đóng vai”, trình bày vấn đề một cách chủ
động theo quan điểm riêng, không theo nguyên mẫu SGK hoặc của giáo viên. Ví dụ
như học sinh Nguyễn Thị Thanh Hiền ở lớp 10A10 “đóng vai” lưu loát, sáng tạo…

10 là điều rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, phát huy năng lực
của học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp trong dạy
học hiện nay.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
I. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu tôi rút ra những kết luận chính sau:
22
- Bước đầu hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
phương pháp đóng vai kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Bài 9. “Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn mạnh trơ sỏi
đá - Công nghệ 10” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
- Xây dựng được quy trình thiết kế và sử dụng phương pháp đóng vai kết hợp
với ứng dụng công nghệ thông tin gồm 7 bước trong dạy học một số bài môn Công
nghệ 10.
- Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp, những kết quả bước đầu đã đánh giá
được hiệu quả của phương pháp đóng vai kết hợp với hình ảnh minh họa trong dạy
học. Từ đó kết luận được phương pháp đóng vai đã mang lại hiệu quả cao trong dạy
học môn Công nghệ 10.
- Trong công tác giảng dạy hiện nay việc sử dụng phương pháp đóng vai trong
dạy học Công nghệ 10 theo hướng nghiên cứu của đề tài này có thể áp dụng rộng
rãi với các bộ môn khác nhau.
II. Đề nghị
Qua nghiên cứu đề tài này, tôi rút ra một số kiến nghị sau:
- Cần phát huy tối đa vai trò của phương pháp đóng vai.
- Giáo viên cần có biện pháp cụ thể để rèn luyện kỹ năng “đóng vai” cho HS
lĩnh hội tri thức trong dạy Bài 9. “Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu,
đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá - Công nghệ 10”.
- Cần nghiên cứu sử dụng phương pháp đóng vai cụ thể phù hợp đối với từng
đối tượng học sinh (trình độ trung bình hay khá, giỏi).
- Do số lượng HS ở lớp nghiên cứu đông nên hiệu quả chưa cao, do đó cần

5(40)-2010.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status