BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
ĐƠN GIẢN RẺ TIỀN CÓ HIỆU QUẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH TRONG BỘ MÔN VẬT LÝ THCS
• Họ và tên: Hồ Huế Phương.
• Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng, Dương Minh Châu, Tây Ninh.
1/ Lí do chọn đề tài:
Giúp học sinh:
Nắm vững kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sâu hơn thông qua việc tự chế tạo
những dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền.
Hình thành lòng tin vào kiến thức khoa học, sự say mê hứng thú môn học, đồng
thời hình thành và phát triển năng khiếu cá nhân.
Rèn luyện và phát triển cho học sinh kĩ năng tư duy độc lập, kĩ năng tìm tòi kiến
thức, thực hành thí nghiệm, hình thành tác phong nghiên cứu khoa học.
Bồi dưỡng kĩ năng tự tạo và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản phục vụ cho chính
bản thân.
2/ Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng : Giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả
trong dạy học Vật lý THCS nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
ở trường
THCS Bàu Năng.
Phương pháp: Nghiên cứu tài liệu, dự giờ, điều tra sư phạm, kiểm tra đối chiếu so
sánh, thực nghiệm.
3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Đưa ra một số giải pháp làm đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả.
Sử dụng đồ dùng dạy học rẻ tiền vào một số tiết học Vật lý thực nghiệm.
4/ Hiệu quả áp dụng:
Giáo viên:
- Sử dụng tốt đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả.
- Đáp ứng được một trong những mục tiêu giáo dục.
hiệu quả cao thì không thể thiếu một khâu rất quan trọng. Đó là việc giáo viên phải có kĩ
năng làm và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền phục vụ cho việc giảng dạy
của mình.
Các hiện tượng và quá trình Vật lý được đề cập trong sách giáo khoa Vật lý THCS
thường rất gần gũi với chúng ta và luôn xảy ra trong đời sống hàng ngày xung quanh
chúng ta. Vì thế để tái tạo lại hoặc kiểm chứng lại chúng, không đòi hỏi cần có những
dụng cụ phức tạp tinh vi. Trái lại, với những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm, những dụng cụ
được dùng trong đời sống hàng ngày, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những thí nghiệm
có sức thuyết phục cao đối với học sinh. Trên cơ sở đồ dùng dạy học mặc dù đã được
trang bị nhưng vẫn chưa đủ và do quá trình sử dụng bị hư hỏng, thất thoát nên việc tự
trang bị cho mình những đồ dùng dạy học là rất cần thiết mà mỗi giáo viên cần có kế
hoạch ngay từ đầu năm học.
Dựa trên những kiến thức đã học, các em hoàn toàn có thể tự chế tạo những dụng
cụ thí nghiệm hoàn toàn mang tính Vật lý, hoặc những đồ chơi mang tính giải trí cao mà
không cần phải tốn nhiều công sức, kĩ thuật cao giúp các em ghi nhớ bài học một cách dễ
dàng hơn. Mặt khác, rèn luyện và phát triển cho học sinh kĩ năng tư duy độc lập, kĩ năng
tìm tòi kiến thức, thực hành thí nghiệm, hình thành tác phong nghiên cứu khoa học ngay
từ những buổi đầu đến trường đồng thời hình thành ở các em lòng tin vào kiến thức khoa
học, sự say mê hứng thú môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng khiếu cá nhân.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP
LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐƠN GIẢN RẺ TIỀN CÓ HIỆU QUẢ
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG BỘ MÔN
VẬT LÝ THCS”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra một số giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu
quả trong các tiết thí nghiệm Vật lý giúp học sinh thật sự hứng thú với những dụng cụ đồ
dùng do giáo viên tự làm. Qua đó phát huy tính tích cực chủ động, năng lực tự học và khả
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, lòng đam mê học tập bộ môn, từ đó nâng cao được
chất lượng học tập của các em.
3. Đối tượng nghiên cứu:
luyện tốt kĩ năng vận dụng, thực hành thí nghiệm, không phát huy tính tích cực của học
sinh, hạn chế việc phát triển tư duy cho học sinh, không phát hiện kĩ năng, năng khiếu của
các em học sinh. Do đó, để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giáo viên cần chú ý
đổi mới phương pháp không chỉ dừng lại ở việc tổ chức thảo luận nhóm, tăng cường thực
hành thí nghiệm, đổi mới kiểm tra đánh giá, mà phải tiến sâu hơn nữa kĩ năng làm và sử
dụng các đồ dùng dạy học đơn giản giúp các em nắm được kiến thức mới tại lớp, gây
được sự hứng thú học tập ở học sinh, trang bị kiến thức cần thiết để các em có thể tự tạo
ra những dụng cụ đơn giản phục vụ cho chính bản thân các em và hơn cả là hình thành
niềm tin khoa học, tin vào những gì mình tự tay làm, mắt nhìn thấy.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
1.1. Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội
dung phương pháp dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Phát huy
trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học”.
- Một trong số các giải pháp phát triển giáo dục được đưa ra trong chiến lược
phát triển giáo dục 2001- 2010 là: "Phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo
dục” ( điều 6, tr 30).
- Chỉ thị 40- CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lí giáo dục ghi rõ: “Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp
giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lí thuyết, ít khuyến khích tư
duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề phát triển
năng lực thực hành sáng tạo của người học. . .”(điều 1, tr12).
- Luật giáo dục sửa đổi 2010, điều 28.2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm
đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
1.2. Các quan niệm khác về giáo dục:
Các hiện tượng và quá trình Vật lý thường rất gần gũi với chúng ta và luôn
để khỏi phải tốn chi phí, tôi sử dụng bộ biến thế nguồn của Vật lý 9.
+ Sử dụng nam châm thẳng, nam châm điện của Vật lý 9 áp dụng cho Vật lý 7.
+ Bộ lắp nguồn điện là pin của Vật lý 9 sử dụng chung cho Vật lý 7. . .Tóm lại,
dụng cụ thí nghiệm ở chương điện học lớp 7 được thay thế hoặc sử dụng chung thí
nghiệm phần điện Vật lý lớp 9.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng dụng cụ thí nghiệm Vật lý giáo viên thường
gặp một số khó khăn như sau:
+ Dụng cụ bị hỏng nhiều nên một số thí nghiệm không đủ dụng cụ thí nghiệm
cho nhiều nhóm.
+ Dụng cụ tương đối đầy đủ nhưng chất lượng không được cao nên thí nghiệm
cho kết quả thường thiếu chính xác.
+ Một số đồ dùng dạy học được cấp về lại không khớp hình vẽ sách giáo khoa
làm cho việc lắp ráp thí nghiệm gặp khó khăn
+ Không có phòng chức năng nên việc trưng bày cũng như sử dụng không khoa
học.
+ Phong trào tự làm đồ dùng dạy học thì diễn ra thường xuyên, định kì nhưng
chất lượng đồ dùng thì lại không cao, thời gian sử dụng ngắn.
* Đối với học sinh:
+ Một số dụng cụ thí nghiệm phức tạp, học sinh không biết cách sử dụng, ngại
bị hư hỏng hoặc bị lúng túng trong quá trình sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thực hành.
+ Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động nên ý thức về việc sử dụng
dụng cụ thí nghiệm trong tiết học còn xem nhẹ.
+ Học sinh chưa tích cực, lười nghiên cứu trước nội dung của bài mới nên chưa
tự mình làm thí nghiệm được để rút ra kiến thức. Do đó kết quả chất lượng giờ học Vật lý
thật sự chưa mang lại hiệu quả cao.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Đồ dùng dạy học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất
lượng giờ dạy, việc sử dụng đồ dùng dạy học không chỉ nhằm minh hoạ cho bài giảng mà
còn thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng thực
hành cho học sinh. Nếu sử dụng dụng cụ thí nghiệm thực hành một cách tuỳ tiện, chưa có
2. Dễ thao tác và dễ thành công, vì những thí nghiệm này do chính giáo viên tự
thiết kế, chế tạo và khai thác để sử dụng trong giảng dạy.
3. Thí nghiệm cho kết quả rõ ràng, thuyết phục (thường là những thí nghiệm gắn
với những hiện tượng vật lý trong đời sống hàng ngày).
4. Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi ở người sử dụng những kỹ
năng thực hành đặc biệt, nên giáo viên nào cũng có thể tiến hành được. Trái lại, khi sử
dụng các thí nghiệm hiện đại, giáo viên phải biết cách sử dụng các dụng cụ, máy móc,
thiết bị, phải có những kỹ năng thực hành nhất định mới có thể tiến hành được những thí
nghiệm này. Nếu giáo viên không có kỹ năng sử dụng máy tính, không nắm được các
phần mềm sử dụng trong thí nghiệm thì không thể tiến hành được những thí nghiệm có sử
dụng máy tính, hay những thí nghiệm hiện đại khác.
5. Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi khắt khe các điều kiện cơ sở vật
chất như phòng bộ môn, mạng điện, thiết bị nên ở đâu cũng có thể tiến hành thí nghiệm
được.
6. Hiện tượng và kết quả thí nghiệm có sức hấp dẫn lôi cuốn, vì vậy nó có tác dụng
kích thích hứng thú học tập của học sinh.
7. Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ riền là những dụng cụ thí nghiệm ngắn gọn, mất ít
thời gian nên có thể sử dụng rất thuận tiện trong quá trình dạy học. Đặc biệt trong khâu
mở bài hay củng cố bài, sử dụng để tạo tình huống học tập rất có hiệu quả.
Hạn chế của đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền là:
Hầu hết các đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền là những dụng cụ thí nghiệm định
tính, ít có thí nghiệm định lượng, dụng cụ thí nghiệm không bền thường sử dụng một lần,
việc tái tạo lại dụng cụ sau không hiệu quả, tính thẩm mĩ không cao.
Yêu cầu của đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền là:
Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền được tiến hành với những dụng cụ đơn giản tự
tạo, tự kiếm (như lon bia, chai nước khoáng đã dùng ). Do vậy, ngoài những yêu cầu
chung, khi khai thác làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền cần đặc biệt chú ý
các yêu cầu sau:
• Phải đảm bảo tính khoa học: Kết quả rõ ràng, chính xác và thuyết phục.
• Phải đảm bảo tính sư phạm: Các thí nghiệm không được phản giáo dục.
cao và cách đều hai cạnh bên) và kẻ đường thẳng vuông góc từ các lỗ xuống cạnh đáy.
c. Tiến hành:
Đặt ba tấm bìa lên giá nằm ngang sao cho ba lỗ thẳng hàng. Đặt ngọn nến đang
cháy về một phía và đặt mắt để quan sát phía đối diện.
• Ví dụ 3: Vật lý 8 bài 12 “Sự nổi”
(thí nghiệm mở bài hoặc kiểm chứng, hoặc thay thí nghiệm SGK)
a. Dụng cụ:
+ 3 cốc thủy tinh chứa 2/3 nước.
+ 3 quả chanh.
+ một ít muối ăn.
b. Tiến hành:
+ Cho 3 quả chanh vào 3 cốc nước cho học sinh quan sát và nhận xét.
+ Cho một ít muối vào một trong 3 cốc, khuấy đều cho đến khi quả chanh
nổi lơ lửng.
+ Cho một ít muối vào một trong 2 cốc còn lại và khuấy đều, vừa khuấy vừa
thêm muối cho đến khi quả chanh nổi hẳn.
Giáo viên cho học sinh quan sát trạng thái của 3 quả chanh ở trong 3 cốc. Từ đó cho
học sinh phân tích lực tác dụng lên từng quả chanh để đi đến kết luận về điều kiện của vật
chìm , vật nổi và vật lơ lửng.
• Ví dụ 4: Vật lý 8 bài 9 “Áp suất khí quyển”
( thí nghiệm dùng mở bài tạo hứng thú học tâp)
* Phương án 1: Cho trứng chui vào chai.
a. Dụng cụ:
+ 1 quả trứng.
+ 1 chai thủy tinh (bình thí nghiệm hình tam giác)
+ 1 bật lửa
+ một ít bông.
+ một ít cồn.
b. Chuẩn bị dụng cụ: Gia công trứng:
* Phương án 2: Áp suất chất lỏng tác dụng lên cả phía trên.
a. Dụng cụ:
+ 1 cốc đựng nước lớn.
+ 1 cái thông phong đèn.
+ 1 sợi chỉ.
+ 1 tấm bìa có đường kính lớn hơn đường kính thông
phong đèn, có 1 lỗ nhỏ ở giữa.
b. Tiến hành.
- Sợi chỉ được buộc vào điểm giữa của tấm bìa và luồn vào thông đèn
để giữ cho tấm bìa không rơi.
- Khi chưa nhúng vào nước, nếu ta thả tay thì tấm bìa sẽ rơi xuống.
- Giữ chặt sợi chỉ và nhúng thông đèn vào cốc đựng nước.
Sau đó buông sợi chỉ ra, ta thấy tấm bìa không rơi khỏi thông đèn.
• Ví dụ 6:Vật lý 6 bài 19 “Sự nở vì nhiệt của chất lỏng”
a. Dụng cụ:
+ 1 vỏ chai đựng cồn hoặc oxi già
+ 1 ruột bút bi chữ A đã dùng, mực còn khoảng 5mm.
b. Chuẩn bị dụng cụ:
- Tháo viên bi ở đầu ruột bút.
- Cắm đầu ruột bút vào miệng chai đựng, ta được dụng cụ như hình vẽ.
c. Tiến hành:
- Xoa 2 tay vào nhau, sau đó áp nhẹ vào chai.
- Quan sát hiện tượng và nhận xét.
- Sau đó bỏ tay ra, quan sát hiện tượng và nhận xét.
* Vấn đề 3: Lựa chọn những thí nghiệm đơn giản mang tính giải trí gây hứng
thú cao đối với học sinh, những thí nghiệm này cá nhân học sinh hoặc nhóm có
thể tự làm sau một nội dung kiến thức nào đó của chương trình.
• Ví dụ 1: Khi học bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” trong
chương trình Vật lý 7, phần Quang học giáo viên giới thiệu cho học sinh cách chế
tạo “CHIẾC ĐỒNG HỒ MẶT TRỜI"
a/ Dụng cụ :
- 01 quả chanh hoặc quả cà chua hoặc quả xoài.
- 01 mảnh đồng.
- 01 mảnh kẽm (hoặc tôn)
- 01 bóng đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng)
b/ Chuẩn bị dụng cụ:
- Cấm hai mảnh đồng và kẽm vào quả chanh hoặc quả cà chua hoặc quả xoài
như hình dưới.
- Một bóng đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng) đã nối sẵn hai đầu
dây dẫn.
c/ Tiến hành:
- Nối hai đầu dây dẫn có đèn LED (hoặc một đồng hồ đo điện đa năng) vào hai
mảnh đồng và kẽm. Yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng và nhận xét.
4. Kết quả đề tài
Kết quả việc áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy vật lý lớp 7A
2
được thể hiện
qua kết quả học tập của từng học sinh. Do thời gian hoàn thành đề tài có hạn, học sinh
chưa làm các bài kiểm tra ở học kì II nên tôi chỉ lấy bài kiểm tra ở học kì I để so sánh, đối
chiếu. Cụ thể như sau:
Lớp
TS
HS
Số
lần
KT
ĐIỂM CÁC BÀI KIỂM TRA
0 - 3,4 3,5 – 4,9 5,0 – 6,4 6,5 – 7,9 8,0 - 10
Từ 5 trở
lên
những dụng cụ có sẵn trong chương trình nên sau khi tôi hướng dẫn các em làm các thí
nghiệm ở nhà, kết quả các em làm được các thí nghiệm theo yêu cầu của giáo viên không
cao, do chưa có kĩ năng, không thực hành thường xuyên và chưa có sự hỗ trợ của nhóm
bạn.
III. KẾT LUẬN
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1.1. Những mặt làm được:
- Tóm lại, đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có ưu điểm là rất đơn giản, tiện lợi,
dễ tiến hành và cho kết quả thuyết phục, do đó có tác dụng tốt trong việc gây hứng thú
học tập cho học sinh. Nhờ những ưu điểm nổi trội trên, nên việc làm và sử dụng đồ dùng
dạy học đơn giản rẻ tiền thực sự phát huy tác dụng đối với những nơi, những vùng đang
khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm.
- Khi vận dụng giải pháp:
+ Đối với giáo viên: phát huy tính sáng tạo, rèn luyện kĩ năng nghiên cứu
khoa học, kĩ năng thực hành thí nghiệm, giải quyết một phần thiếu dụng cụ như hiện nay,
ngày càng tâm quyết với nghề.
+ Đối với học sinh: có sự chuyển biến đáng kể: yêu thích môn học hơn, phát
huy tính tò mò khám phá của học sinh, thấy được sự cần thiết tất yếu của bộ môn, chất
lượng bộ môn có chuyển biến rõ rệt, yêu thích khoa học, nắm vững kiến thức, càng tin
vào sự đúng đắn của kiến thức.
1.2. Những mặt hạn chế:
- Tuy phần lớn học sinh có nhận thức tích cực hơn về môn học nhưng số ít thật
sự chưa chuyển biến thể hiện qua thái độ và kết quả học tập đến hiện nay vẫn không thay
đổi so với đầu năm học.
- Đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hạn chế không mang tính chính xác cao,
những dụng cụ chế tạo mang tính” định tính”, những thí nghiệm phức tạp mang tính định
lượng không phù hợp, dụng cụ tự tạo tính thẩm mĩ không cao.
2. HƯỚNG PHỔ BIẾN ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
Đề tài này được áp dụng trong chương trình Vật lý 7 ở trường THCS Bàu Năng vì
b) HS: mỗi nhóm có 1 bộ dụng cụ như trên.
III - PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Vấn đáp đàm thoại, thuyết trình, trực quan, nêu vấn đề, thí nghiệm theo nhóm.
IV - TIẾN TRÌNH DẠY
1) Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số HS.
2) Kiểm tra bài cũ: GV đặt câu hỏi, gọi HS trả lời
Câu hỏi Trả lời
1) Khi nào ta nhận biết ánh sáng?
2) Khi nào ta nhìn thấy một vật?
3) Nguồn sáng là gì? Vật sáng là gì?
4) Sửa BT 1.1; 1.2 SBT/3
- GV nhận xét và ghi điểm cho HS.
- Ta nhận biết được ánh sáng khi có ánh
sáng trùn vào mắt ta.
- Ta nhìn thấy mợt vật khi có ánh sáng
truyền từ vật đó vào mắt ta.
- Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng.
Vật sáng gồm nguồn sáng và những vật
hắt lại ánh sáng chiếu vào nó.
1.1: Câu C ; 1.2: Câu B
3) Giảng bài mới:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS NỘI DUNG BÀI HỌC
Hoạt động 1: Tổ chức tình huống học
tập
- GV cho HS đọc phần mở bài trong
SGK.
+ Em có suy nghĩ gì về thắc mắc của
Hải?
- GV ghi lại ý kiến của HS lên bảng.
Hoạt động 2: Nghiên cứu tìm hiểu quy
truyền theo đường thẳng.
- Gọi HS rút ra kết luận.
- GV thông báo qua thí nghiệm: Môi
trường không khí, nước, tấm kính trong,
gọi là môi trường trong suốt.
- Mọi vị trí trong môi trường đó có tính
chất như nhau gọi là đồng tính.
- Từ đó rút ra định luật truyền thẳng của
ánh sáng
-HS nghiên cứu định luật trong SGK và
phát biểu.
Hoạt động 3: Nghiên cứu thế nào là tia
sáng, chùm sáng
- GV hỏi: Qui ước biểu diễn tia sáng như
thế nào?
- HS : Biểu diễn bằng đường thẳng có
I - Đường truyền của ánh sáng:
Thí nghiệm
hình 2.1
C1:
Ánh sáng từ dây tóc bóng đèn truyền trực
tiếp đến mắt ta theo ống thẳng
C2: Ba lỗ A,B,C trên ba tấm bìa và bóng
đèn cùng nằm trên 1 đường thẳng.
Kết luận: Đường truyền của ánh sáng trong
không khí là đường thẳng.
Định luật truyền thẳng của ánh sáng:
C3:
a/ Chùm sáng song song: gồm các tia sáng
không giao nhau trên đường truyền của
chúng.
b/ Chùm sáng hội tụ: gồm các tia sáng
giao nhau trên đường truyền của chúng.
c/ Chùm sáng phân kỳ: gồm các tia
sáng loe rộng ra trên đường truyền của
chúng.
III - Vận dụng
C4: Ánh sáng từ đèn phát ra đã truyền đén
mắt theo đường thẳng.
C5: Đầu tiên cắm hai cái kim thẳng đứng
trên mặt một tờ giấy. Dùng mắt ngắm sao
cho kim thứ nhất che khuất kim thứ hai. Sau
đó di chuyển kim thứ ba đến vị trí bị kim
thứ nhất che khuất. Á nh sáng truyền đi theo
đường thẳng cho nên ánh sáng từ kim thứ
hai và thứ ba không đến được mắt, hai kim
này bị kim thứ nhất che khuất.
4) Củng cố và luyện tập:
- GV đặt câu hỏi củng cố, gọi HS trả lời:
Câu hỏi Trả lời
1) Phát biểu định luật truyền thẳng
ánh sáng?
2) Có mấy loại chùm sáng?
- Trong môi trường trong suốt và đồng tính ánh
sáng truyền đi theo đường th¼ng.
- Có 3 loại chùm sáng: chùm sáng song song,
chùm sáng hội tụ và chùm sáng phân kì.
1. Lí do chọn đề tài trang 1
2. Mục đích nghiên cứu trang 1
3. Đối tượng nghiên cứu trang 2
4. Phương pháp nghiên cứu trang 2
5. Giả thuyết khoa học trang 2
II. NỘI DUNG trang 3
1. Cơ sở lí luận trang 3
2. Cơ sở thực tiễn trang 4
3. Nội dung vấn đề trang 5
4. Kết quả đề tài trang 11
III. KẾT LUẬN trang 13
1. Bài học kinh nghiệm trang 13
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài trang 13
3. Hướng nghiên cứu đề tài trang 13
GIÁO ÁN MINH HỌA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỤC LỤC
Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
I - Cấp đơn vị (Trường):
* Nhận xét:
* Xếp loại:
Bàu Năng, ngày tháng năm 2011
TM.HĐKH
II - Cấp cơ sở ( Phòng GD):