tiểu luận thực trạng và giải pháp phát triển bền vững du lịch ở cù lao chàm tỉnh quảng nam - Pdf 24

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong bài tiểu luận là trung thực, được các
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì công trình
nào khác.

Tam Kì, ngày 26 tháng 11 năm 2013
Hồ Văn Phúc

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến trường Đại Học Quảng
Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học lớp Đại học Việt Nam Học khóa
11, tôi gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô bộ môn chuyên nghành đã nhiệt tình
giảng dạy tôi trong thời gian qua, qua đó tôi đã có được những kiến thức bổ

hội hóa cao, với hiệu quả nhiều mặt; lại được xác định có vai trò ngành kinh
tế mũi nhọn, nên ngành du lịch phải đẩy mạnh tốc độ phát triển nhanh hơn
và bền vững. Để đạt được mục tiêu đề ra, một trong những nhiệm vụ trước
mắt mà ngành du lịch phải thực hiện đó là kích thích việc đa dạng hóa các
loại hình du lịch trong nước, đặc biệt là loại hình du lịch biển, đảo.
Trong đó, Cù Lao Chàm là cụm đảo hiện nay thuộc tỉnh Quảng Nam
một trong những khu dự trữ sinh quyển thế giới đang có rất nhiều tiềm năng
về khai thác du lịch. Nhận thức được tiềm năng và tầm quan trọng của việc
phát triển du lịch bền vững ở đây, nên tôi đã chọn đề tài này và bài viết của
tôi chủ yếu tập trung vào tìm hiểu: “Thực trạng và giải pháp phát triển bền
vững du lịch ở Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam”
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm ra những tiềm năng, thực trạng du lịch ở Cù Lao Chàm để
đưa ra nhưng giải pháp phát triển ngành du lịch ở đây mang màu sắc riêng,
phong phú, đa dạng và bền vững hơn.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Cụm đảo Cù Lao Chàm, ban quản lí về cụm đảo, người dân bản địa
và khách du lịch đến nơi đây.
2. Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu này chỉ thực hiện trong khu vực đảo Cù Lao Chàm và
các vùng phụ cận có ảnh hưởng đến nơi đây.
Nghiên cứu lượng khách du lịch đến với Cù Lao Chàm trong thời gian
từ năm 2009 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây:
4.1. Phương pháp quan sát
Quan sát về môi trường cũng như việc làm du lịch của ban quản lí và
người dân nơi đây.

góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Du lịch không chỉ là một ngành
kinh tế mà nó còn là một hiện tượng xã hội. Chính vì vậy toàn xã hội phải có
trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo
dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác.
1.2. Khái niệm về du lịch bền vững
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng
cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi
người quan tâm trong những năm gần đây. Hội đồng du lịch và lữ hành quốc

tế (WTTC) cho rằng: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu
cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”. Khái niệm này chỉ ra rằng mội hoạt
động du lịch ở hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương
lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và
lâu dài.
Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại
hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio
năm 1992: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm
đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong
khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc
phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch
quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội,
thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn
hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống
hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. Trong định nghĩa mới này thì du lịch
đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh
tế - xã hội - môi trường.
Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình
Dương tổ chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về du lịch bền vững đó là:
“ Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch

• Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương. Sự tham gia của cộng
đồng địa phương không chỉ đem lợi nhuận cho cộng đồng mà còn làm

tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và
bảo vệ môi trường.
• Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực. Như chúng ta đã biết
nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nguồn
nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bền
vững hơn.
Tóm lại, muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng
các nội dung cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi
trường kinh tế, và môi trường xã hội. Du lịch bền vững sẽ tác động tích cực
đến đời sống xã hội và kinh tế. Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và là
ngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững. Mặt khác cần
triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh tế xã hội
thì khi đó mới đem lại hiệu quả cao, hiệu quả tốt nhất.
1.4. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Để đánh giá thước đo về du lịch bền vững cần phải đánh giá trên ba
mặt đó là: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về
mặt môi trường.
Bền vững về mặt kinh tế là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong
một thời gian dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền
vững về mặt kinh tế. Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng
trưởng ổn định hợp lý và lâu dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào
tăng trưởng kinh tế nhanh.
Bền vững về mặt môi trường: Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm
toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học và xã hội bao quanh. Bền
vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa
trên nền tảng sinh thái bền vững.

tồn ; là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động
sản suất của con người ; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải.
Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu về
giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại
học, các chỉ tiêu về hoạt động văn hoá khác.
1.5. Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững
Nguồn tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích
cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có
thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình
thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo lập ra sự hấp dẫn du khách.
Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch nhân văn
và tài nguyên du lịch thiên nhiên.
Tài nguyên du lịch thiên nhiên như: đất, nước, khí hậu, sinh vật,
khoáng sản, tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan
trọng trong quá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển.
Tài nguyên nhân văn gồm: hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn
hoá, phong tục tập quán, lễ hội là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu
được, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch và nó có ảnh hưởng lớn
đến việc thu hút khách du lịch đến với địa điểm du lịch nó bao gồm:
Mạng lưới giao thông vận tải: là nhân tố quyết định đến việc phát triển
du lịch cũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương. Mạng
lưới giao thông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du
lịch.

Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìm
kiếm dễ dàng các điểm du lịch mà mình thích từ đó lên kế hoạch cho chuyến
đi giúp chuyến đi được thuận lợi. Mặt khác nhờ có mạng lưới thông tin và

Tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho
du lịch phát triển bền vững hơn. Sự tham gia của cộng đồng dân cư không
những tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư mà còn tăng tính trách nhiệm
trong việc phát triển du lịch. Việc tham gia này là hết sức cần thiết và không
thể thiếu được.
Trên đây chỉ là một số yếu tố chủ yếu để phát triển du lịch ở mỗi địa
phương. Tuỳ thuộc vào mỗi địa phương mà có những yếu tố khác đặc trưng
riêng. Tuy nhiên các yếu tố này không tách rời nhau mà kết hợp lại với nhau
thành một khối thống nhất tạo nên sức mạnh cho việc phát triển du lịch
thành công.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở
CÙ LAO CHÀM
2.1. Giới thiệu tổng quan về Cù Lao Chàm
2.1.1. Tên gọi và vị trí địa lí
Tên gọi cù lao Chàm đã xuất hiện cách nay đã hàng mấy trăm năm, và
tên gọi xã Tân Hiệp (thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay) có
nguồn từ chữ Tân Hợp dưới triều Nguyễn. Trong dân gian, người dân vùng
ven biển ở Quảng Nam nói gọn là Lao.
Cù Lao Chàm nằm ở toạ độ 15
o
15'20'' đến 15
o
15'15'' vĩ độ bắc và
180
o
23'10'' kinh độ đông; là một cụm gồm 07 hòn đảo lớn, nhỏ (Hòn Lao,
Hòn Mồ, Hòn La, Hòn Dài, Hòn Tai, Hòn Khô và Hòn Ông) trải rộng trên
một diện tích không gian khoảng 15km

Với vị trí địa lí như vậy, đã tạo cho Cù Lao Chàm một vị trí quan
trọng cả về mặt kinh tế, chính trị và quốc tế.
2.1.2. Điều kiện tự nhiên
Cù Lao Chàm - cách Cửa Đại 19km về hướng đông - đông bắc,thuộc
vùng khí hậu có nền nhiệt độ đồng đều, nhiệt độ trung bình năm khoảng
26
o
C, không có gió tây nam khô nóng. Mưa tương đối ít và điều hoà, ít có
sương mù, độ ẩm trung bình 80 - 90%. Vào các tháng 8, 9, 10 hàng năm,
chịu ảnh hưởng nặng của áp thấp nhiệt đới và bão.
2.2. Tiềm năng của xã đảo Tân Hiệp – Cù Lao Chàm
2.2.1. Vẻ đẹp Cù Lao Chàm
Cù lao Chàm có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong
phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rạn san hô ở
khu vực biển cù lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và

được đưa vào danh sách bảo vệ. Du khách đến với cù lao Chàm sẽ trải qua
những giờ phút thú vị, bồng bềnh trên sông nước. Từ phố cổ Hội An theo
thuyền du lịch qua những xóm làng dọc theo sông Thu Bồn rồi ra Cửa Đại
thơ mộng sẽ thấy cù lao Chàm ẩn hiện phía xa xa với một vẻ đẹp lung linh
huyền ảo.
Nhờ những điều kiện thuận lợi mà thiên nhiên ban tặng nên hệ động
thực vật trên đảo khá phong phú, đa dạng. Rừng Cù lao Chàm có nhiều loại
lâm sản quý như gõ, kiền kiền, dẻ, chua, mây, song, dâu, sim; các loại dược
liệu quý hiếm như mã tiền, sơn máu, ối tím, ngũ gia bì. Quý khách đến đây
sẽ được tận hưởng một không gian hoàn toàn mới lạ và những phút giây cực
kỳ thú vị. Núi ở đây như một dải đất mẹ cù lao. Sườn phía đông, đá tảng dốc
đứng hiểm trở, kéo dài tới sườn tây, dốc thoải bao bọc cù lao. Phía dưới là
âu tàu luôn có vài chục tàu neo đậu. Đặc biệt, trên Cù Lao Chàm còn có
nhiều bãi tắm tự nhiên rất đẹp như: Bãi Ông, Bãi Chồng, Bãi Xếp

dẫn mà còn có nhiều sản vật từ rừng đến biển như các loại rau rừng, cua đá,
các loài tôm cá và nhiều loại hải sản khác. Những ngày trời đẹp, đến với Cù
Lao Chàm, du khách sẽ được “thưởng thức” với món mực một nắng ngon
tuyệt vời. Cách chế biến mực một nắng rất đơn giản. Mực tươi rửa sạch rồi
trải trên vỉ đem phơi. Sau gần một ngày được nắng và gió biển hong ráo bớt
nước, mực vừa se se khô rồi đem nướng lửa than hồng. Nướng vừa chín tới
thì dùng tay vừa thổi vừa xé, chấm tương ớt bỏ vào miệng… để nghe hương
vị biển cả hòa quyện trong lát mực.
Ngoài ra, nơi đây còn có một đặc sản chế biến từ con ốc Vú Nàng vào
mùa trăng tròn. Bởi đơn giản vào mùa trăng tròn ốc Vú Nàng mới xuất hiện
nhiều.Vì số lượng có hạn, nên dân bắt ốc chuyên nghiệp phải ngâm mình

dưới nước hàng giờ, dùng đèn soi rọi vào tận kẽ đá, dùng mũi dao nhọn tách
từng con ốc đang bám chặt vào thành đá. Thưởng thức từng con ốc giòn
giòn, ngòn ngọt mới hiểu hết kỳ công của người đi bắt ốc. Người dân xứ
biển có thể chế biến ốc Vú Nàng thành nhiều món như: món luộc, món
nướng, món gỏi. Không quá béo như thịt, không quá dai như sò, nghêu,
không nhỏ như hàu và có hương vị đậm đà khó quên, ốc Vú Nàng được xem
là loài ốc quý trong danh mục ốc xứ Quảng.
2.2.4. Các điểm hấp dẫn ở Cù Lao Chàm
Trên đất Cù Lao Chàm hiện còn tồn tại khá nhiều các di tích tôn giáo -
tín ngưỡng được xây dựng qua các thời kỳ lịch sử. Đặc biệt, trong số đó có
những công trình mang nhiều giá trị lịch sử - văn hóa và đã được Bộ Văn
Hóa - Thông Tin chính thức ra quyết định công nhận là di tích cấp quốc gia.
Lăng Tiền Hiền: tọa lạc tại xóm giữa, thôn Bãi Làng. Được xây dựng
vào khoảng cuối thế kỷ thứ 18 - đầu thế kỷ 19. Đây là một di tích không
những có vai trò quan trọng trong hệ thống các di tích tín ngưỡng của các cư
dân trên đảo Cù Lao Chàm mà còn là một bằng chứng quan trọng trong việc
nghiên cứu về quá trình định cư, khai hoang khẩn hóa, ổn định cuộc sống và
làm sáng tỏ tập tục tôn giáo tín ngưỡng của cư dân trên đảo Cù Lao Chàm

của họ trên những chặn hành trình tiếp theo, qua đó thể hiện mối giao lưu
mạnh mẽ của cư dân trên đảo với thương dân, ngư dân bên ngoài. Di tích đã
cung cấp nhiều thông tin cần thiết để hiểu rõ hơn sinh hoạt văn hóa của cư
dân địa phương, quá trình phát triển làng xã cũng như vai trò, vị trí Cù Lao
Chàm trên chặng đường giao thương hàng hải ven biển Đông trước đây. Kỹ
thuật xây dựng giếng là nguồn tư liệu quan trọng góp phần làm rõ thêm kỹ

thuật xây dựng giếng Chăm ở Hội An cũng như sự kế thừa kinh nghiệm xây
dựng giếng của cư dân Việt tại đảo.
Di chỉ Bãi Làng: Dựa vào vị trí địa lý và hiện vật phát hiện tại di tích
cho thấy địa điểm Bãi Làng là di chỉ cư trú của cư dân Champa vào thế kỷ VII
- X sau công nguyên và có đời sống khá phát triển. Nhiều ngành nghề được
hình thành và phát triển như khai thác lâm, hải sản, sản xuất gốm, thủy tinh.
Qua nhiều hiện vật gốm, sành Trung Hoa, Islam và thủy tinh Islam được phát
hiện trong di tích Bãi Làng cho thấy vị trí quan trọng của hải đảo Cù Lao
Chàm trên con đường hàng hải quốc tế. Nơi đây chắc chắn có sự dừng chân
trao đổi của các thương thuyền Trung Quốc, Trung Đông. Qua đó, cho thấy
cư dân cổ Bãi Làng đã sớm có những hoạt động giao lưu thương mại với các
thương nhân nước ngoài.
Di chỉ Bãi Ông: Địa điểm khai quật khảo cổ nằm trên một cồn cát sát
chân núi. Qua các hiện vật thu thập được từ hố khai quật cho thấy đây là di
tích có niên đại sớm nhất được phát hiện ở Hội An từ trước đến nay. Di tích
đã góp phần làm rõ thêm vai trò của Cù Lao Chàm trong thời kỳ Tiền - Sơ
sử ở Hội An. Đồng thời chứng minh cư dân Sa huỳnh cư trú liên tiếp ở Hội
An từ Sơ kỳ đến hậu kỳ Văn hóa Sa Huỳnh.
Hiện nay, các di tích này không những góp phần trong việc làm phong
phú, đa dạng hệ thống di tích trên vùng đảo mà còn là những trọng điểm thu
hút du khách đến tham quan, thưởng ngoạn.
2.3. Tình hình khách đến Cù Lao Chàm qua các năm
Lượng khách tham quan Cù Lao Chàm tăng đột biến nhiều năm nay.

nhiễm môi trường
Trong khi nhận thức, thái độ và trách nhiệm của chính quyền, người
dân khi ứng xử với môi trường biển vẫn còn nhiều hạn chế. Các mục tiêu,
giải pháp khi đi vào thực tế luôn vấp phải khó khăn do cơ chế chung chưa rõ
ràng, kinh phí chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ, trình độ cán bộ còn hạn chế,
kinh nghiệm tổ chức thực hiện chưa nhiều trước tính chất mới mẻ của công
việc.
2.5. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
2.5.1. Phương tiện đến Cù Lao Chàm
Hạn chế lớn nhất của Cù Lao Chàm trong việc thu hút du khách là
vấn đề giao thông. Hện nay vấn đề giao thông nối liền giữa đảo với đất liền
vẫn gặp khó khăn. Phương tiện duy nhất ra đảo là tàu cao tốc hay còn gọi là
ca nô và tàu gỗ của ngư dân. Tuy nhiên, cứ vào mùa mưa hoặc những ngày
biển động thì các loại tàu này không thể đi lại được. Những khó khăn này dù
khá “cũ” đối với Cù Lao Chàm nhưng không dễ giải quyết. Tiềm năng lớn
nhưng thách thức cũng không nhỏ, để phát triển bền vững Cù Lao Chàm
thành “thiên đường du lịch sinh thái – văn hóa” thì cần có những chính sách

dài hơi với sức đầu tư mạnh. Thậm chí, nhiều đoàn khách đã đặt vé nhưng
vào giờ chót, biển động, hãng tàu hủy chiến nên các hãng lữ hành cũng phải
hủy tuor.
Có ba cách chủ yếu để đi và về Cù Lao Chàm, cách 1: Nhanh nhất
nhưng hơi tốn kém, đến Cửa Đại, Hội An thuê ca nô ra đảo mất 15 phút.
Cách 2: Cũng tại Cửa Đại, có chuyến tàu chợ ra đảo vào lúc 9h hàng ngày,
hành trình khoảng 2h. Cách 3: Tại bến thuyền ngay trong phố cổ Hội An, có
chuyến tàu chợ ra đảo vào lúc 8h hàng ngày, hành trình khoảng 1h.
Khách ra đảo nếu không say sóng và muốn cảm nhận sâu sắc thì có
thể đi bằng tàu gỗ nhưng rất chậm, còn nếu muốn cảm giác mạnh và tiết
kiệm thời gian thì sẽ đi cano. Điều nghịch lý ở hai loại vận chuyển ở đây là
giá cả giữa hai loại hình vận chuyển này khá chênh lệch, thuyền gỗ thì giá

Chàm đang sử dụng là nguồn điện máy nổ chạy dầu diezel có công suất nhỏ,
gây ô nhiễm và chạy ngắt quãng trong ngày. Đây là trở ngại lớn nhất trong
chiến lược phát triển Cù Lao Chàm. Nhiều nhà đầu tư rất thích đầu tư vào xã
đảo này nhưng e dè khi đối diện với vấn đề năng lượng điện và phát triển
bền vững.
2.7. Môi trường ở Cù Lao Chàm
2.7.1. Vấn đề vê rác thải
Rác thải đã, đang và sẽ còn là vấn đề nan giải của Cù Lao Chàm.
Thực tế, du khách trong và ngoài nước đến với Cù Lao Chàm khá đông.
Trong tương lai, lượng du khách tới đây chắc chắn sẽ tăng lên nhiều lần.
Điều đó đồng nghĩa với việc lượng rác thải sẽ cũng tăng lên. Mùa nắng
nóng, đỉnh điểm là vào các tháng 6, 7, 8 hằng năm; nguồn nước sinh hoạt
trên đảo bị cạn kiệt. Việc xử lí chất thải ở đây chưa có sự đầu tư, rồi đến việc

nước thải của các hồ nuôi tôm ven bờ, dường như "tiện" nhất và phổ biến
nhất là xả thẳng xuống biển. Thực chất là ở đây đã có sự tiến bộ trong việc
thay vì sử dụng bao ni lông thì sẽ sử dụng những loại bao bằng giấy, đó cũng
là giải pháp hay nhưng chỉ trong một phạm vi nào đó thôi.
2.7.2. Ảnh hưởng đa dạng sinh học
Hiện nay, với tổng diện tích 6.719 ha, trong đó có khoảng 165 ha rạn
san hô và 500 ha thảm có biển, trong sự quản lí của khu bảo tồn.Tiềm năng
để phát triển du lịch sinh thái tại Cù Lao Chàm là rất lớn. Người dân ở đây
có thể hưởng lợi bằng những nguồn thu nhập từ du lịch. Tuy nhiên, việc đó
có thể kéo theo ảnh hưởng lớn tới sinh vật biển.Vấn đề là làm thế nào để
chọn được các nhà đầu tư thực sự có năng lực và có ý tưởng về đa dạng sinh
học.
Gần đây, khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm đã ra văn bản chấn
chỉnh hoạt động du lịch tại các đảo, việc đưa khách du lịch ồ ạt ra các đảo sẽ
gây ảnh hưởng không tốt tới môi trường của đảo. Bên cạnh đó, hệ sinh thái
biển tại đây đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ sau cơn bão Xangsane năm 2006,

lẻ và manh nha, vì vậy nên xây dựng các nhà hàng mang tính quy mô lớn
với những đặc sản từ biển nhằm phục vụ cho khách du lịch.

Trích đoạn Tham gia của cộng đồng địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status