SKKN Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành sinh học 7 - Pdf 24

SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
A. MỞ ĐẦU
*
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết.
Chúng ta đã biết theo chương trình giáo dục hiện nay áp dụng chương trình
giảm tải trong bộ môn sinh học 7 THCS thì số bài thực hành tăng lên, do đó đội
ngũ giáo viên trong trường đã có nhiều cố gắng trong việc trao đổi, học hỏi, tự bồi
dưỡng cũng như trong việc cải tiến các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy học.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên việc giảng dạy bộ môn sinh học 7
còn nhiều hạn chế nhất định làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học.
a. Đối với giáo viên: Khó khăn lớn nhất của giáo viên khi dạy các bài thực hành
trong môn sinh học 7 đó là việc vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học ở các bài thực hành. Đặt biệt là về mặt phương pháp:
+ Giáo viên chưa tìm thấy phương pháp dạy học hữu hiệu sao cho phù hợp với
mục đích, yêu cầu của từng bài học cũng như đặc trưng của môn học. Trong khi
cần chú trọng việc hình thành cho học sinh phương pháp học tập, rèn kỹ năng (kỹ
năng làm thí nghiệm, kỹ năng nói, kỹ năng viết…) và thói quen tự tìm tòi nghiên
cứu trước các sự vật, hiện tượng tự nhiên thì không ít giáo viên lại yêu cầu học
sinh đọc thuộc lòng, nhồi nhét kiến thức, bắt học sinh phải công nhận một cách
miễn cưỡng không phát huy được tính tò mò ham hiểu biết của học sinh
+ Khi dạy các bài thực hành nhiều giáo viên chưa linh hoạt trong khâu tổ chức đối
với lớp có số lượng học sinh đông.
+ Giáo viên còn vụn về kỹ năng, kỹ xảo mổ động vật…
b. Đối với học sinh: Qua dự giờ các tiết thực hành tại trường tôi thấy, các em biết
làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, trình bày các ý kiến cá nhân, biết làm một số thí
nghiệm thực hành đơn giản. Tuy nhiên:
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 1
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành

sinh học 7”
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.
Bản chất của việc giảng dạy các bài thực hành trong chương trình sinh học 7
hiện nay là giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức mới về đặc điểm cấu tạo cơ thể
và hoạt động sống của động vật… thông qua việc tiến hành thí nghiệm, quan sát
trực tiếp trên cơ thể động vật từ đó làm nền tản để học những bài tiếp theo, chứ
không phải các em đi chứng minh lại những kiến thức (nội dung lý thuyết) đã học.
Vì vậy theo tôi việc đổi mới phương pháp trong giảng dạy là rất quan trọng để
học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức tốt hơn và ghi chép đầy đủ… nên tôi đã mạnh
dạn sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành nhằm làm đổi mới
khâu tổ chức của một tiết thực hành, qua đó học sinh thực hiện các thao tác, kỹ
năng thực hành nhuần nhuyễn hơn đồng thời rèn cho học sinh kỹ năng học theo
phương pháp bàn tay nặn bột.
Khi sử dụng phương pháp này vào giảng dạy các bài thực hành, không những
hình thành kiến thức khoa học cho học sinh bằng chính hành động nghiên cứu của
các em thông qua việc hỏi đáp, tìm tòi, hình thành biểu tượng ban đầu, đề xuất giả
thuyết và phương án kiểm chứng, tiến hành thực nghiệm, xây dựng kiến thức, chứ
không phải phát biểu lại kiến thức có sẵn xuất phát từ ghi nhớ thuần túy. Đồng thời
rèn cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo thực hành (như mổ động vật, quan sát, xác định
các cơ quan, hệ cơ quan…) mà còn rèn kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói,
ngôn ngữ viết, phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, tạo điều kiện cho
người học tự tìm kiếm đến kiến thức :Với cách học này « Giáo viên đóng vai trò
là người trọng tài, học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là
người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức ».
Đề tài này sẽ đưa ra quy trình sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào bài
thực hành giúp giáo viên bộ môn sinh áp dụng một cách dễ dàng và có hiệu quả tại
đơn vị mình.
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 3
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”

thuyết, nhìn chung các bước đi vẫn còn lộn xộn không theo một quy trình chặt chẽ
nên hiệu quả chưa cao đã ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức bài học và kỹ
năng, thái độ của học sinh. Nên việc áp dụng phương pháp này vào dạy học sao
cho phù hợp với đặc thù của môn và điều kiện của trường là một vấn đề hết sức
cần thiết để góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo giải pháp
2.1/ Các biện pháp tiến hành
Để thực hiện và nghiên cứu đề tài “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay
nặn bột vào các bài thực hành sinh học 7” chúng ta nên có các phương pháp nhất
định và tốt nhất để cho học sinh có điều kiện trải nghiệm, tìm tòi, khám phá và rèn
tốt kỹ năng học theo phương pháp bàn tay nặn bột và kỹ năng thực hành… dưới
nhiều hình thức khác nhau đa dạng, đáp ứng mục tiêu dạy học. Chính vì lý do trên
nên tôi đã đưa ra một số phương pháp sau đây để nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập tài liệu, đọc, phân tích tài liệu (sách
,trên mạng…) để xây dựng cơ sở, định hướng cho đề tài.
- Phương pháp quan sát: Trong giờ học giáo viên quan sát và hướng dẫn trực tiếp
các bước học theo phương pháp bàn tay nặn bột, đặc biệt là khi hình thành biểu
tượng ban đầu và tiến hành thí nghiệm kiểm chứng để học sinh thực hiện được vấn
đề và tự tìm đến kiến thức của bài học theo suy nghĩ riêng của mỗi cá nhân trong
lớp từ đó giáo viên đưa ra nhận xét, kết luận.
- Phương pháp động viên, khuyến kích: Giáo viên cần tạo cho học sinh sự tự tin,
mạnh dạn thể hiện ý tưởng, suy nghĩ của mình trước nhóm và tập thể lớp bằng
cách đưa ra những lời khuyên, động viên và khuyến khích học sinh
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Tổng kết kinh nghiệm
2.2/ Thời gian tạo giải pháp : Thời gian tôi nghiên cứu để tìm ra các giải pháp từ
tháng 02 năm 2012, hoàn thành tháng 12 năm 2013
B. NỘI DUNG
*
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 5

sinh học 7”
Phương pháp Bàn tay nặn bột giúp học sinh tự phát hiện được vấn đề, điều đó
có nghĩa là nhu cầu học sẽ có thể xuất phát từ mục đích của chính các em. Những
hiện tượng xung quanh mà học sinh đã nhìn thấy, giáo viên đặt vấn đề nghi vấn
để các em hình thành biểu tượng ban đầu bằng cách mô phỏng theo trí nhớ được
thể hiện qua lời nói, chữ viết, hình vẽ, rồi từ những phương án đề xuất các giải
pháp kiểm chứng giả thuyết để chứng minh biểu tượng ban đầu của mình đúng
hay sai, thì tự bản thân các em thực hiện thí nghiệm đối chiếu các nhận định (giả
thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm
khác; nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các
thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để
kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu từ đó tìm ra
câu trả lời ( kiến thức mới) cho vấn đề mà giáo viên đã nêu. Con đường tìm ra
kiến thức của học sinh cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới
của các nhà khoa học.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương
pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới
mẻ là để học sinh tiếp xúc với vấn đề cần tìm hiểu, sau đó giúp các em giải thích
vấn đề bằng cách tự mình tiến hành thí nghiệm quan sát qua thực nghiệm dưới giúp
đỡ bởi giáo viên và hoạt động trong vấn đề giáo viên nêu ra. Phương pháp này giúp
các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được. Qua đó, học
sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình
thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành
Trong quá trình học tập theo phương pháp này, học sinh phải sử dụng tất cả các
giác quan để tìm ra tri thức mới. Các em cần có vở ghi chép (Vở thực hành) để ghi
lại những ý tưởng của mình, những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại
những kết quả thí nghiệm ở các bài khác nhau để đánh dấu được tiến trình nghiên
cứu.
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 7
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành

với trình độ, gây mâu
thuẫn nhận thức và kích
thích tính tò mò, thích
tìm tòi, nghiên cứu học
sinh nhằm chuẩn bị tâm
thế cho học sinh trước
khi khám phá và lĩnh
hội kiến thức
-Tùy vào từng kiến thức
không nhất thiết phải có
tình huống xuất phát
mới đề xuất câu hỏi nêu
vấn đề
Bước 2:
Bộc lộ
quan
niệm ban
- Cá nhân nêu
những suy nghĩ về
biểu tượng ban đầu
bằng cách viết, vẽ
-GV khuyến
khích từng cá
nhân viết hoặc
vẽ về biểu tượng
GV nên lưu ý cho học
sinh không xem sách
giáo khoa
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 8
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành

(nhóm) nào đó nêu ý
kiến đúng, giáo viên
không nên vội vàng
khen ngợi hoặc có
những biểu hiện chứng
tỏ ý kiến đó là đúng vì
nếu làm như vậy giáo
viên đã vô tình làm ức
chế các học sinh (nhóm)
khác tiếp tục muốn trình
bày biểu tượng ban đầu.
- Biểu tượng ban đầu
của học sinh càng đa
dạng, phong phú, càng
sai lệnh với kiến thức
đúng thì tiết học càng
sôi nổi, thú vị, gây hứng
thú cho học sinh và ý đồ
dạy học của giáo viên
càng dễ thực hiện hơn.
Bước 3: a. Đề xuất giả Gợi ý học sinh -GV chọn vị trí thích
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 9
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
Đề xuất
câu hỏi
hay giả
thuyết và
thiết kế
phương

án thực nghiệm
-Đề xuất phương
án thí nghiệm để
kiểm chứng giả
thuyết (HS có thể
hình dung những
phương pháp kiểm
chứng như: Quan
sát mẫu vật, mô
hình, nghiên cứu
tài liệu…)
-Ghi phương án
kiểm chứng giả
- GV đặt câu hỏi
nghi vấn, đề
nghị HS đề xuất
phương án thực
nghiệm để chứng
minh từng giả
thuyết của các
nhóm
- GV ghi lại các
cách đề xuất của
học sinh (nhóm)
trên bảng
(không lặp lại)
- GV nhận xét
-Các phương án thực
nghiệm mà học sinh đề
xuất không thực hiện

nghiên
cứu
- HS kiểm chứng
các giả thuyết của
mình bằng một
hoặc các phương
pháp (thí nghiệm,
quan sát, điều tra,
nghiên cứu tài
liệu).
- HS sinh ghi chép
lại vật liệu thí
nghiệm, cách bố trí
và thực hiện thí
nghiệm
-Thu nhận các kết
quả và ghi chép lại
để trình bày
- GV nêu rõ yêu
cầu, mục đích thí
nghiệm
-GV yêu cầu HS
tiến hành thí
nghiệm
- GV bao quát và
nhắc nhở các
nhóm chưa thực
hiện, hoặc thực
hiện sai
- Đối với phương pháp

và hợp
thức hoá
kiến thức
-HS đưa ra kết luận
sau khi tiến hành
thí nghiệm
-HS đối chiếu lại
với biểu tượng ban
đầu và từ đó phát
hiện ra những sai
lệch và tự sửa chữa
- GV yêu cầu HS
đưa ra kết luận
sau khi thực hiện
thí nghiệm
-GV cho HS
nhìn lại, đối
chiếu lại với các
ý kiến ban đầu
(biểu tượng ban
đầu) trước khi
học kiến thức
- GV tổng kết
kiến thức
GV hướng dẫn HS so
sánh với biểu tượng ban
đầu của mình, để tìm ra
chổ sai chứ không áp
đặt học sinh
1.4/ Quy trình sử dụng phương pháp “ bàn tay nặn bột” vào bài thực hành môn

Yêu cầu HS từ kết thí nghiệm
đối chiếu với BTBĐ
Hệ thống lại kiến thức
II.
Tổ chức dạy học theo phương
pháp bàn tay nặn bột
II.
Tổ chức dạy học theo phương
pháp bàn tay nặn bột
III.
Nhận xét
đánh giá
III.
Nhận xét
đánh giá
IV.
Viết bài
thu hoạch
IV.
Viết bài
thu hoạch
Nhận xét chung
Đưa ra hệ thống câu hỏi gợi
mở
Từng nhóm báo cáo kết
quả
Từ kết quả đối chiểu lại
BTBĐ
Từng nhóm ghi GT trên
giấy A3 dựa vào BTBĐ

thức
Chỉnh sửa lỗi sai vào vở
TN, rút ra kiến thức
Đại diện nhóm đề xuất
phương án KTGT
Phát dụng cụ, mẫu vật
Lựa chọn phương án theo ý
đồ dạy học
Tiếp nhận vấn đề
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
Trong quá trình sử dụng phương pháp“ Bàn tay nặn bột” để thực sự có hiệu
quả đòi hỏi người giáo viên và học sinh cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
* Đối với giáo viên : Trên thực tế, phương pháp “Bàn tay nặn bột” không hoàn toàn
là mới đối với các giáo viên. Về cơ bản, đây là phương pháp tổng hợp của các
phương pháp dạy học trước đây mà giáo viên đã từng tiếp cận. Trong phương pháp
này, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là:
- Tạo tình huống để học sinh phát hiện ra vấn đề trong bài học, từ đó để các em tự
đưa ra các tình huống giải quyết vấn đề để đi đến kết quả, giúp tạo lập cho học sinh
thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo phát hiện, giải
quyết vấn đề.
- Giáo viên nêu vấn đề hay câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tương thích với
trình độ nhận thức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức cho học sinh, kích thích
nhu cầu tìm tòi - nghiên cứu của học sinh.
- Chọn nội dung từng phần bài thực hành thích hợp khi áp dụng phương pháp bàn
nặn bột, sáng tạo, linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động lên lớp
- Giáo viên cần bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng, gắn kết chặt chẽ nội dung bài
dạy với những vấn đề thiết thực. Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, lô-gic, trọng
tâm, có kiến thức thực tế, sâu rộng và các giải pháp liên hệ thực tế
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin để

thức.
- Tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra, với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của
giáo viên.
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm, có tinh thần hợp tác với thầy cô, bạn bè. Tập
trung suy nghĩ, chủ động thoát li sách giáo khoa để trả lời câu hỏi giáo viên.
- Cần phải có nhiều kĩ năng như: Kĩ năng đặt câu hỏi, đề xuất các dự đoán, giả
thiết, phương án thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của
mình thông qua trình bày nói hoặc viết
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 15
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
- Có tinh thần tự giác say mê đối với môn học, yêu thích môn học, chủ động tìm
hiểu kiến thức, dưới sự dìu dắt của thầy, cô giáo. Phải rèn cho bản thân năng lực tự
học, tự đánh giá. Không ngừng vươn lên trong học tập
1.6/ Ví dụ minh họa
* Ví dụ 1
TI Ế T 15: THỰC HÀNH QUAN SÁT CẤU TẠO NGOÀI VÀ di
chuyỂN CỦA GIUN ĐẤT
I.Mục tiêu
1.Kiến thức
-Trình bày được khái niệm về ngành giun đốt, các đặc điểm chính của ngành,
phân biệt được các đặc điểm hình thái, sinh lí của giun đốt với giun tròn
- Mô tả được đặc điểm hình thái, sinh lí của đại diện giun đốt: Giun đất
2.Kỹ năng
- Phát triển năng lực GQVĐ thông qua nội dung “cấu tạo ngoài và di chuyển của
giun đất”
- Rèn cho HS kỹ năng quan sát hình, vẽ hình, làm thí nghiệm.
- Rèn luyện ngôn ngữ, từ vựng tiếng việt cho HS qua việc HS viết vào vở thực
hành, tự sữa lỗi…
- Rèn kỹ năng học tập theo phương pháp bàn tay nặn bột

ĐIỂM LƯU Ý
Bước 1: Tình huống xuất phát
GV có thể đặt
vấn đề tạo tình
huống xuất
phát :Giun đất có
đặc điểm cấu tạo
ngoài và di
chuyển như thế
nào?
Tiếp nhận vấn đề.
HS tư duy tìm
câu trả lời.
HS ghi câu hỏi
vào vở thí
nghiệm
Nên chọn con
giun đất có
kích thước
lớn
Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu
-Làm bộc lộ các
quan niệm ban
đầu của học sinh
về nội dung khoa
học của bài học.
-Yêu cầu HS vẽ
-HS tự liên tưởng
đến hình dạng về
con giun và hình

A
3
-Quan sát tìm các
hình vẽ đúng sai
trong khi học sinh
vẽ
-Khuyến khích
học sinh nêu
những suy nghĩ,
nhận thức ban
đầu của mình về
hình dạng cấu tạo
ngoài và hoạt
động di chuyển
của giun đất dưới
dạng câu
suy nghĩ của
mình
-Nhóm trưởng tập
hợp ý kiến cá
nhân của nhóm,
sau đó cả nhóm
phát họa hình
dạng về con giun
và hình thức di
chuyển cho
chung cả nhóm
trên giấy A3
-Từng nhóm phát
biểu câu hỏi:

sinh học 7”
hỏi
- GV có thể sữa
chữa, phát biểu
lại các câu hỏi
của HS.
Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thí nghiệm
- GV yêu cầu các
nhóm đề xuất các
giả thuyết dựa
trên biểu tượng
ban đầu để trả lời
các câu hỏi đã
nêu
- GV theo dõi,
hướng dẫn HS đề
xuất giả thuyết
về đặc điểm cấu
tạo ngoài và hình
thức di chuyển
của giun đất trên
cơ sở các biểu
tượng ban đầu
của các nhóm
- HS thảo luận
nhóm, ghi các giả
thuyết trên giấy
A3 dựa trên biểu
tượng ban đầu
của nhóm đã hình

nhóm mình vào
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 19
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
- GV hướng HS
tới phương án mà
theo ý đồ dạy học
của GV đã chuẩn
bị sẵn
+ Phương án 1:
Xem hình vẽ về
cấu tạo và các
bước di chuyển
của giun đất
+ Phương án 2:
Quan sát trực tiếp
con giun đất
+ Phương án 3:
Đọc thông tin
trong SGK
vở thí nghiệm
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- GV hướng dẫn
cách xử lí mẫu và
các bước tiến
hành quan sát các
bộ phận cấu tạo
ngoài cơ thể và di
chuyển của giun
đất

đóng vai như
"trọng tài"
cho cuộc thảo
luận và chuẩn
hóa việc phân
loại, gọi tên
các cơ quan
của giun đất
của từng
nhóm.
Hoạt động
sau cùng là
rất khó đối
với HS nên
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 20
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
vẽ lại hình mới
quan sát được và
chú thích rõ ràng
-Tiến hành quan
sát: Di chuyến
của giun đất
+ Hoạt động 1:
Lấy con giun đất
đặt trên tờ giấy
quan sát bằng mắt
thường về hoạt
động di chuyển
của giun đất

của giun đất.
Đối chiếu với
kiến thức đã
được thiết lập
/ trong sách
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 21
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
đất
- GV giúp HS so
sánh và liên hệ
các kết quả thu
được trong các
nhóm khác nhau.
Quan trọng nhất
là chỉ ra được
thành phần cấu
tạo cơ thể và các
động tác di
chuyển của giun
đất
- Phát phiếu học
tập, yêu cầu HS
hoàn thành
- Treo bảng tổng
kết kiến
- Các thành phần
cấu tạo cơ thể
giun đất:
+ Phần đầu: Có

sinh với sự
giúp đỡ của
giáo viên.
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 22
SKKN: “Áp dụng hiệu quả phương pháp bàn tay nặn bột vào các bài thực hành
sinh học 7”
thức→Phụ lục - HS hệ thống
kiến thức
TL Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội Dung
5
phút
HĐ2: Hướng dẫn làm bài
thu hoạch
-Yêu cầu HS vẽ hình cấu
tạo ngoài của giun đất vào
vở thực hành.Trả lời các câu
hỏi sau
+ Vai trò của vòng tơ ở mỗi
đốt?
+ Vì sao giun đất chui lên
khỏi mặt đất vào ban đêm
để kiếm ăn hoặc sau trận
mưa lớn kéo dài?
-Hướng dẫn nội dung bài
thu hoạch cho HS
HĐ 2: Hướng dẫn làm
bài thu hoạch
- HS vẽ hình cấu tạo
ngoài của giun đất vào vở
thực hành

sinh
+Nhận xét các hoạt động
của các nhóm
4. Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp theo (1 phút):
- Tìm hiểu cấu tạo trong: cơ quan tiêu hóa, cơ quan thần kinh của giun đất.
- Đọc mục “ em có biết”/ 55/SGK
- Chuẩn bị mỗi nhóm một vài con giun đất lớn để tiết sau tiếp tục thực hành mổ
giun.
Phụ lục
Đặc điểm
Đặc điểm cấu tạo ngoài thích nghi
với đời sống trong đất
Di chuyển
Giun đất - Cơ thể dài, hình ống, phân đốt, có
đối xứng hai bên.
- Ở phần đầu cơ thể có thành cơ phát
triển, chi bên tiêu giảm nhưng vẫn
giữ các vòng tơ ở xung quanh mỗi đốt
để làm chổ dựa khi chui rúc trong đất.
- Cơ thể phình duỗi xen
kẽ
- Vòng tơ làm chổ dựa
→ Kéo cơ thể về 1 phía
IV. Rút kinh nghiệm, bổ sung:
* Ví dụ 2
Tiết 32 THỰC HÀNH : MỔ CÁ
I/ MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
-Học sinh xác định được vai trò vị trí của một thế hệ cơ quan của cá trên mẫu mổ
Giáo viên: Phan Thị Xuân Dàn – Trường THCS Hoài Hương Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status