TRƯỜNG TH&THCS BẾ VĂN ĐÀN Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghóa Việt Nam
Tổ khối 4-5 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
CHUYÊN ĐỀ
VẬN DỤNG CÓ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN
BỘT” VÀO MÔN KHOA HỌC LỚP 4
A/ LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi
mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Nghò quyết Trung ương Đảng
lần thứ IV đã chỉ rõ “… giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ
bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
nước…”
Để thực hiện quan điểm trên, Hội nghò lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương
Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “
Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. kết hợp tốt học với
hành học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiờn cứu khoa học, gắn nhà
trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh
năng lực sáng tạo, năng lực giải quết vấn đề, do đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo
dục phải đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo con người có đủ khả năng sống và
làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn của thời đại: Cách mạng truyền
thông, công nghệ thông tin, cách mạng công nghệ. Một trong những sự đổi mới giáo
dục là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, trong
việc tổ chức quá trình lónh hội tri thức thì lấy học sinh làm trung tâm. Theo hướng
này giáo viên đóng vai trò tổ chức và điều khiển học sinh chiếm lónh tri thức, tự lực
hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới.
Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương pháp truyền thống mà
cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng phương pháp để thừa kế và
phát triển những phương pháp đó cần sử dụng sáng tạo các phương pháp dạy học
phù hợp, trong đó vận dụng một số kó thuật dạy học cũng là phương hướng đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học. Chính vì vậy tập thể tổ đã
thống nhất chọn chuyên đề: Vận dụng có hiệu quả phương pháp “Bàn tay nặn bột”
còn hạn chế chưa nhận biết được những điều các em đang học là như thế nào ? đúng
hay sai?
+ Việc tìm hiểu kiến thức khoa học đối với các em còn hạn chế do chưa tiếp
xúc nhiều với các thành tựu khoa học nên chưa nhạy bén trong khi tìm hiểu các kiến
thức khoa học đơn giản.
C/ NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP:
2
I. Mục tiêu chung:
1.1.Kiến thức
Nâng cao nhận thức về dạy học tích cực
Hiểu rõ khái niệm, mục đích, ý nghĩa, tác dụng, cách thức tiến hành của một số kĩ
thuật dạy học tích cực.
1.2. Kĩ năng
Lựa chọn và áp dụng KTDHTC (khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, KWL, sơ đồ
tư duy ), PP “Bàn tay nặn bột” phù hợp với nội dung bài học.
Có khả năng tập huấn lại cho đồng nghiệp tại địa phương
1.3. Thái độ
Tích cực tham gia các hoạt động tập huấn
Nhiệt tình, sáng tạo trong việc áp dụng và đổi mới PPDH
Có ý thức hướng dẫn, hỗ trợ đồng nghiệp áp dụng KTDHTC tại địa phương .
Tích hợp các nội dung giáo dục kĩ năng sống , giáo dục môi trường.
II. Nội dung phương - pháp dạy học .
1. Một số kĩ thuật dạy học môn khoa học lớp 4.
Để cụ thể hóa các nhóm phương pháp dạy học, chúng ta có thể sử dụng một số kĩ
thuật dạy học sau :
1.1 Kĩ thuật chia nhóm .
1.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ.
1.3Kĩ thuật đặt câu hỏi .
1.4 Kĩ thuật “khăn trải bàn”
1.5 Kĩ thuật “Phòng tranh”
Quan hệ phụ thuộc tích cực: Kết quả của cả nhóm chỉ có được khi có sự hợp tác
làm việc, chia sẻ của tất cả các thành viên trong nhóm.
Trách nhiệm cá nhân: Mỗi cá nhân đều được phân cơng trách nhiệm thực hiện
một phần của cơng việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung.
Tránh tình trạng chỉ nhóm trưởng và thư kí làm việc.
Khuyến khích sự tương tác: Trong q trình hợp tác cần có sự trao đổi, chia sẻ
giữa các thành viên trong nhóm để tạo thành ý kiến chung của nhóm.
Rèn luyện các kỹ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội để rèn kĩ năng
như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thơng tin phản hồi tích cực, thuyết phục,
ra quyết định…
4
Kĩ năng đánh giá: Cả nhóm HS thường xun rà sốt cơng việc đang làm và kết
quả ra sao. HS có thể đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để
góp phần hồn thiện các hoạt động và kết quả của nhóm.
3.1.3. Quy trình thực hiện
+ Bước 1 . Chọn nội dung và nhiệm vụ phù hợp .
+ Bước 2 . Thiết kế kế hoạch bài học để dạy học hợp tác .
+ Bước 3 . Tổ chức dạy học hợp tác .
3.1.4. Một số lưu ý .
- Nội dung phức hợp, nhiệm vụ học tập đủ khó để HS thực hiện học tập hợp tác.
- Lựa chọn phương pháp dạy học cụ thể và kỹ thuật dạy học phù hợp :
Học hợp tác được coi là một quan điểm/chiến lược dạy học (nói cách khác là
“phương pháp dạy học” ở tầng vĩ mơ).Vì vậy, tuỳ theo nội dung GV cần lựa chọn và phối
hợp các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học để tổ chức các hoạt động của GV/HS
đáp ứng việc học hợp tác.
. Tổ chức và quản lí :
+. Quy mơ nhóm học sinh để học tập hợp tác có thể là:
◦ Nhóm 2 người (cặp)
◦ Nhóm 3 người (bộ ba)
◦ Nhóm 4- 6 người (nhóm nhỏ)
GV phải hiểu rõ bản chất của PP
Hình thành cho HS thói quen học hợp tác
3.2 Phương pháp “bàn tay nặn bột .
3.2.1. Khái niệm:
“Bàn tay nặn bột” là mơ hình giáo dục mới có nguồn gốc từ nước ngồi (Hands
on - được hiểu là “bắt tay vào hành động”). "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp
dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các mơn
khoa học tự nhiên nhằm phát triển khả năng nhận thức của học sinh một cách
khoa học nhất, giúp học sinh nắm bắt kiến thức bằng cách tự đặt mình vào tình
huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.
3. 2.2. Các ngun tắc cơ bản của PPBTNB:
* Nghiên cứu các đồ vật của thế giới thực tế, gần gũi với các em, và các em cảm nhận
được.
* Khoa học cũng như các hoạt động khám phá.
* Chính học sinh là người thực hiện các thí nghiệm thực hành, chứ các thí nghiệm đó
khơng được làm sẵn cho các em.
* Giáo viên giúp học sinh xây dựng nên kiến thức của riêng các em.
* Thực hiện trong khoảng thời gian dài, liên tục.
6
* Học sinh có một cuốn vở thực hành của riêng mình với các từ ngữ của riêng các em
* Cần chú trọng đến:
- Đặt câu hỏi
- Tự chủ
- Kinh nghiệm
- Cùng nhau xây dựng kiến thức
* Không phải là những nội dung để học thuộc lòng !
3.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của PPBTNB:
-Là một tiến trình sư phạm dựa trên hoạt động tìm tòi khám phá của học sinh
-Là một sự kết hợp của cộng đồng các nhà khoa học.
-Hình thành một mạng lưới và tương tác giữa các giáo viên
các nhà khoa học.GV là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động
của lớp mình phụ trách.
Thuận lợi, khó khăn khi áp dụng PP bàn tay nặn bột:
Đối với bậc tiểu học, môn Khoa học có khá nhiều tiết học thực hành, thực nghiệm,
nhưng ở nhiều trường, việc thực hành, thực nghiệm hiện chưa đạt yêu cầu. Học sinh chỉ
được xem thầy cô giáo thí nghiệm, làm theo rập khuôn hướng dẫn trong sách giáo khoa
(SGK) hay của giáo viên mà không ghi lại được tiến trình, ít tư duy. Phương pháp giáo
dục “Bàn tay nặn bột” dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, trong đó chú trọng đến việc hình
thành kiến thức cho học sinh bằng thí nghiệm, tìm tòi nghiên cứu để các em tự tìm ra câu
trả lời. Chẳng hạn, học sinh sẽ được tiếp xúc với một bình nước, và nhiệm vụ của các em
là mô tả trạng thái và đặc tính của bình nước đó. Với sự hướng dẫn của giáo viên, các em
sẽ tự mình tiến hành thực nghiệm và ghi lại kết quả thu được khi đun bình nước lên 50
o
C,
70
o
c, 100
o
c, hoặc khi cho thêm một số hóa chất vào… Nhờ vậy, học sinh không chỉ nhớ
lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mà mình đã tìm được.
Cấu trúc chương trình SGK môn Khoa học lớp 4, lớp 5 hiện nay còn nặng về lý
thuyết. Ở một số bài, lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh trong một tiết học tương
đối nhiều; nội dung bài học và những thí nghiệm cần tiến hành thường được trình bày
ngay trong SGK, do đó ảnh hưởng đến tính chủ động, sáng tạo, khả năng suy nghĩ, đề
xuất các thí nghiệm phát hiện kiến thức của học sinh, tạo cho học sinh tâm lý phụ thuộc
vào SGK. Mặt khác, hiện nay trang thiết bị phục vụ cho thí nghiệm ở các nhà trường
chưa thật đầy đủ, một số thiết bị dạy học chưa bảo đảm tính khoa học, chính xác hoặc
khó sử dụng. Việc sáng tạo thiết kế các đồ dùng dạy học cho một số tiết dạy theo phương
pháp “Bàn tay nặn bột” còn gặp nhiều khó khăn với cả giáo viên và học sinh trong khi
kinh phí để mua sắm, làm đồ dùng dạy học ở các cơ sở giáo dục hiện tại còn hạn chế. Ở
-Là nhà trung gian giữa "thế giới" khoa học (Các kiến thức & T.Hành) và HS.
- Là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với những câu hỏi
được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lí.
-Đảm bảo sự đóan trước và giải quyết các xung đột nhận thức.
-Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.
5.4. Vai trò của học sinh trong giờ học với PPBTNB:
-HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó
chúng sẽ hình thành các nghi vấn.
-HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại
những ca thất bại nhờ tra cứu tư liệu.
-HS trao đổi và lập luận trong QT hoạt động, chúng chia sẻ với nhau những ý tưởng của
mình, cọ sát những quan điểm của nhau và hình thành những kết luận tạm thời hoặc cuối
cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.
Như vậy là học sinh đã biết nghe lời người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác
và biết bảo vệ ý kiến của mình.
9
Vai trò của vở thực nghiệm:
- Vở thực nghiệm không áp đặt cách ghi nhưng có mẫu sẽ thuận tiện cho các em trong
việc ghi chép và đỡ mất thời gian của tiết hoc.
- Có nhiều cách để ghi: có thể các em sẽ ghi bằng văn bản, bằng hình vẽ hoặc bằng sơ đồ.
5.5. Qui trình dạy học của “Bàn tay nặn bột”
• Bước 1. Tình huống “khởi động”
• Bước 2. Phát biểu vấn đề
• Bước 3. Nêu ra cách giải quyết
• Bước 4. Phát biểu giả thuyết
• Bước 5. Thực nghiệm.
• Bước 6. Thu thập kết quả
• Bước 7. Tìm ra kết quả đúng
• Bước 8. Giải thích kết quả
• Bước 9. Tổng hợp
• Bước 4. Phát biểu giả thuyết
• Bước 5. Thực nghiệm: Gồm có 5 bước:
B1:Đưa ra tình huống có vấn đề.
B2:HS làm việc cá nhân hoặc theo
nhóm ( đưa ra câu hỏi, dự đoán kết quả, giải
thích)
B3:Tiến hành thực nghiệm.
B4: So sánh kết quả với dự đoán.
B5: Kết luận, mở rộng.
• Bước 6. Thu thập kết quả
• Bước 7. Tìm ra kết quả đúng
• Bước 8. Giải thích kết quả
• Bước 9. Tổng hợp
• Bước 10. Kết luận
• Bước 11. Đánh giá
Hoạt động 2 : Nêu tên hoạt động.
Tương tự các bước trên.
4. Củng cố – Dặn dò.
11
Nhận xét tiết học.
D/ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN .
1/ Mục tiêu tổng thể : Sau khi học xong môn Khoa học HS cần đạt được .
* Có một số kiến thức cơ bản , ban đầu và thiết thực về:
- Sự trao đổi chất , nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cô thể người .
Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm .
- Sự trao đổi chất , sự sinh sản của thực vật , động vật .
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất , một số vật liệu và dạng năng
lượng thường gặp trong đời sóng và sản xuất .
* Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng :
khi cc em khi cc em được tiếp cận với thực tế xung quanh. Tổ chức cho các em tập giải
quyết các vấn đề đơn giản gắn liền với tình huống cĩ ý nghĩa , học sinh sẽ cĩ dịp vận dụng
những kiến thức đ học v cuộc sống một cch ph hợp .
Tổ chức học sinh lm việc theo cc kĩ thuật dạy học sẽ gip các em có nhiều cơ hội nói
lên những ý kiến của mình , giúp các em được rèn luyện khả năng diễn đạt, giao tiếp và
hợp tác trong công việc.
* GV là người hướng dẫn:
- Đề ra những tình huống, những thử thách.
- Định hướng các hoạt động.
- Thu hẹp những cái có thể.
- Chỉ ra thông tin.
* Giáo viên là người trung gian:
- Là nhà trung gian giữa "thế giới" khoa học (Các kiến thức & T.Hành) và HS.
- Là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với những
câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích
hợp lí.
- Đảm bảo sự đóan trước và giải quyết các xung đột nhận thức.
- Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.
Không có phương pháp vạn năng chung cho mọi hoạt động, ứng với mỗi mục đích
nào đó là có một phương pháp thích hợp. Vì vậy tính có mục đích của phương pháp là
nét đặc trưng cơ bản nổi bật của nó. Ngoài tính mục đích phương pháp còn chịu tác
động trực tiếp của nội dung. Nội dung nào phương pháp đó, không có phương pháp vạn
năng ứng với nội dung. Sự thống nhất của nội dung với phương pháp được thể hiện ở
lôgíc phát triển của đối tượng nghiên cứu vì vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học
cho một môn học cần phải nghiên cứu đặc điểm riêng biệt của môn học đó, nội dung cụ
thể của nó để lựa chọn các phương pháp thích hợp.
Phương pháp dạy học khoa học thực chất là thông qua sử lí sư phạm để chuyển
phương pháp nhận thức khoa học thành phương pháp dạy học khoa học. Như vậy muốn
13
tìm hiểu những nét đặc trưng của phương pháp dạy học khoa học ta cần nắm vững nét
hoặc cuối cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.
- Học sinh biết nghe lời người khác, hiểu người khác, tôn trọng người khác và biết
bảo vệ ý kiến của mình.
14
- Có vở thực nghiệm thuận tiện cho các em trong việc ghi chép và đỡ mất thời gian
của tiết hoc.
- Xây dựng thói quen tự chuẩn bò bài của Học sinh .
- Chuẩn bò đầy đủ các dụng cụ thực hành và đồ dùng học tập cần thiết.
- Thường xuyên đọc sách báo, Xem ti vi để bổ sung kiến thức cho bản thân
mình.
E - KÕt ln
Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy khoa học nói
riêng và ở tiểu học hiện nay nói chung là rất cấp thiết, với việc trang bò những thiết bò
và đồ dùng dạy học phục vụ cho việc cải cách giáo dục hiện nay sẽ tạo điều kiện cho
giáo viên thuận lợi trong việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy
học khoa học. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều giáo viên ngại không sử dụng đồ
dùng dạy học vào việc giảng dạy khoa học bởi vì cần nhiều thời gian chuẩn bò, sưu
tầm tư liệu.
Các phương pháp dạy học tích cực hiện nay mang lại nhiều hiệu quả: phương
pháp thí nghiệm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu
và giải quyết vấn đề., trong các PP đó có sử dụng các kó thuật dạy học.
Thực tế khi giảng dạy giáo viên nên kết hợp nhiều phương pháp với nhau để
hiệu quả của việc dạy học khoa học đạt được kết quả cao. Phương pháp nghiên cứu
kết hợp với làm thí nghiệm được sử dụng nhiều tuy nhiên khi trao đổi với các giáo
viên khác chúng ta nhận thấy có những khó khăn khi vận dụng phương pháp này:
- Thể hiện vai trò điều khiển quá trình nhận thức của học sinh theo phương pháp
nghiên cứu bằng hệ thống câu hỏi còn nhiều lúng túng.
- Trình độ học sinh trong một lớp quá chênh lệch nên khả năng tiếp thu khác
nhau.
* Qua quá trình trao đổi chúng tôi có một số đề nghò sau: