CHUYÊN ĐỀ
“DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT
TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4”
MỤC LỤC
STT Nội dung Trang
1 Lời mở đầu 2
2 Phần I: Những ưu và khuyết điểm trong quá trình thực hiện dạy học
phương pháp Bàn tay nặn bột trong môn Khoa học lớp 4.
3
3 Phần II: Mục tiêu, nội dung chương trình và các phương pháp dạy
học môn Khoa học lớp 4
4
4 Phần III: Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột trong môn Khoa
học lớp 4.
6
5 Phần IV: Tiến trình đề xuất dạy bài Ánh sáng 11
6 Phần V: Kết luận 13
1
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với môn Tiếng Việt và Toán, môn Khoa học là một trong những môn có tầm
quan trọng nhất của chương trình Tiểu học. Như chúng ta đã biết môn Khoa học lớp 4
nói riêng và môn Khoa học trong chương trình Tiểu học nói chung tích hợp các nội dung
của khoa học tự nhiên với khoa học về sức khoẻ trong các chủ đề: Con người và sức
khoẻ; Vật chất và năng lượng; Thực vật và động vật; Môi trường và tài nguyên; Bước
đầu hình thành và phát triển những kĩ năng như tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, ứng
xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và tai nạn; …
Các phương pháp dạy học thường xuyên sử dụng ở môn học này là: Phương pháp
quan sát, phương pháp thí nghiệm, phương pháp thực hành, đóng vai và truyền đạt. Các
hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là dạy học theo nhóm, cá nhân, trò chơi học tập
1. Ưu điểm:
a. Đối với GV:
- Có sự chỉ đạo tập huấn của chuyên môn trường.
- Đội ngũ giáo viên trong tổ hiện nay đều chuẩn về trình độ và vững vàng về
chuyên môn, sẵn sàng cho ứng dụng phương pháp BTNB vào giảng dạy.
3
- Sử dụng tốt trang thiết bị dạy học vào các tiết học.
b. Đối với HS:
- Phương pháp này, HS được tham gia các thí nghiệm, rồi tự đưa ra đánh giá, thảo
luận so sánh kết quả với các bạn trong nhóm để đi đến kết luận kiến thức. Hầu hết HS
đều cảm thấy hứng thú, chủ động trong suốt quá trình thời gian của tiết học, nắm vững
kiến thức, hiểu bài sâu hơn.
- Rèn luyện được ở các em kĩ năng giao tiếp, diễn đạt nói và viết, kĩ năng làm việc
theo nhóm.
- Phát huy được tính tư duy, say mê sáng tạo, giải quyết vấn đề.
2. Khuyết điểm:
a. Đối với GV:
- Đây là một phương pháp mới, hoạt động chưa đồng bộ, nên GV chưa hiểu đúng
bản chất của phương pháp BTNB.
- GV chưa được thực hành, áp dụng nhiều với phương pháp BTNB nên gặp nhiều
khó khăn trong quá trình áp dụng.
- Tài liệu hướng dẫn, tham khảo, tài liệu hỗ trợ bước đầu còn hạn chế.
- Việc chuẩn bị bài dạy bằng phương pháp này tốn rất nhiều thời gian: nghiên cứu
bài dạy, soạn bài theo phương pháp mới, chuẩn bị đồ dùng dạy học, chuẩn bị đồ dùng
cho học sinh. GV chưa có thời gian chuẩn bị chu đáo.
- SGK chưa phù hợp với cách dạy học theo phương pháp BTNB, chưa kích thích
sự suy nghĩ sáng tạo của học sinh.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được cho việc dạy học theo phương
pháp này. Bàn ghế không phù hợp với cách dạy học theo nhóm, chưa có phòng thí
nghiệm, chưa có đầy đủ thiết bị dạy học.
B – Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4.
Bao gồm 3 chủ đề.
Chủ đề: Con người và sức khỏe (Trao đổi chất ở người; Dinh dưỡng; Phòng bệnh;
An toàn trong cuộc sống)
5
Chủ đề: Vật chất và năng lượng (Nước; Không khí; Âm thanh; Ánh sáng; Nhiệt)
Chủ đề: Thực vật và động vật (Trao đổi chất ở thực vật;Trao đổi chất ở động vật;
Chuỗi thức ăn trong tự nhiên.)
CÁC BÀI KHOA HỌC LỚP 4 CÓ THỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY
NẶN BỘT
STT BÀI TÊN BÀI DẠY
1 2+3 Trao đổi chất ở người
2 20 Nước có những tính chất gì?
3 21 Ba thể của nước
4 22 Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?
5 23 Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
6 27 Một số cách làm sạch nước
7 30 Làm thế nào để biết có không khí?
8 31 Không khí có những tính chất gì?
9 32 Không khí gồm những thành phần nào?
10 35 Không khí cần cho sự cháy
11 36 Không khí cần cho sự sống
12 37 Tại sao có gió?
13 41 Âm thanh
14 42 Sự lan truyền âm thanh
15 45 Ánh sáng
6
16 46 Bóng tối
17 47 Ánh sáng cần cho sự sống
18 50+51 Nóng lạnh và nhiệt độ
cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.
Phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa
học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay
nặn bột còn chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học
sinh.
Dạy Khoa học trước đây Dạy Khoa học ứng dụng bàn
tay nặn bột
Học khoa học qua nhìn, xem Học khoa học thông qua ứng
dụng trực tiếp
Do GV thực hiện là chính Chính cá nhân học sinh tự làm
II. Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
1. PP quan sát.
* Quan sát là:
- Tìm câu trả lời cho câu hỏi đặt ra
- Nhận thức bằng tất cả các giác quan
- Tổ chức sự nghiên cứu một cách chặt chẽ và có PP
- Xác lập các mối quan hệ bằng cách so sánh với các mô hình, những hiểu biết và các đối
tượng khác.
8
Vấn đề khoa học
HS tự đặt câu hỏi giả
thiết ban đầu
Tiến hành thí nghiệm
Kiểm chứng
Vấn đề khoa học
Đưa ra kết luận thông
qua so sánh, thảo luận,
phân tích, tổng hợp
* Quan sát giúp HS phát triển các khả năng:
- Chặt chẽ trong nhìn nhận
- Kiểu thông tin nào đang cần có.
- Vị trí cần đọc, nghiên cứu trong tài liệu.
III. Các nguyên tắc của bàn tay nặn bột
Tiến trình bài dạy:
a. Quan sát: HS quan sát sự vật hay một hiện tượng (thực tại, gần gũi, dễ cảm
nhận được)
Sự vật ở đây được hiểu bao gồm: cả những vật có thể sờ được bằng tay (cái lá, quả
bóng,….) và tiến hành các thí nghiệm với nó và cả những sự vật không thể tiếp xúc được
VD: bầu trời, mặt trăng,
b. Học: HS lập luận, đưa ra lí lẽ, thảo luận (các ý kiến, kết quả đề xuất), xây dựng kiến
thức cho mình
c. Các hoạt động đề ra:
- Tổ chức theo các giờ học
- Tạo ra tiến bộ dần dần cho HS
- Gắn với chương trình
- Dành phần lớn quyền tự chủ cho HS
d. Thời gian cho một đề tài 2 giờ/ tuần:
Một đề tài có thể giảng dạy trong nhiều tuần sẽ giúp HS có thời gian tìm hiểu, xây
dựng và hình thành kiến thức, các kiến thức có sự kế thừa liên quan với nhau.
e. Vở thí nghiệm: Mỗi học sinh phải có vở thí nghiệm ghi những kí hiệu riêng của mình.
g. Mục đích hàng đầu:
Chính là giúp HS tiếp cận dần dần các khái niệm (Khoa học, kĩ thuật, Sự vững
vàng trong diễn đạt nói và viết,…)
IV. Các bước tiến trình dạy học theo PP “Bàn tay nặn bột”
Các bước của tiến trình dạy học đưa ra dưới đây là các tiêu chuẩn để áp dụng
phương pháp BTNB vào dạy học các môn Khoa học. Đó là một định hướng hành động
chứ không phải là định nghĩa một phương pháp khoa học hay một tiến trình cứng nhắc đi
từ vấn đề đến khám phá và cuối cùng là cấu trúc kiến thức. Việc vận dụng tiến trình đó
theo một phương pháp tích cực, sáng tạo và linh hoạt giữa các bước, tùy theo chủ đề
10
11
liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần
phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một
cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của
HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học Sau khi chọn
lọc các biểu tượng ban đầu của HS để ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ
lên bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng (đối với hình vẽ), GV cần khéo léo gợi ý cho HS so
sánh các điểm giống (đồng thuận giữa các ý kiến) hoặc khác nhau (không nhất trí giữa
các ý kiến) các biểu tượng ban đầu. Từ những sự khác nhau cơ bản đó GV giúp HS đề
xuất các câu hỏi. Sau khi giúp HS so sánh và gợi ý để HS phân nhóm các ý kiến ban đầu,
GV hướng dẫn HS đặt các câu hỏi nghi vấn.
VD: * Khi dạy bài Không khí gồm những thành phần nào?
HS đặt câu hỏi: - Trong không khí có ô-xi và ni-tơ không?
- Trong không khí có khí các-bô-níc không?
- Trong không khí có bụi không?
- Trong không khí có khí độc và vi khuẩn không?
* Khi dạy bài Sự lan truyền âm thanh.
HS đặt câu hỏi:
- Âm thanh có truyền qua được không khí không?
- Âm thanh có truyền qau chất lỏng không?
- Âm thanh có truyền qua được chất rắn không?
- Âm thanh yếu đi hay mạnh lên khi khoảng cách đến nguồn âm xa hơn?
- Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực
nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là:
“Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây
giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…
Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung
và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.
12
13
duy trì sự cháy. Cho HS nghiên cứu tài liệu và rút ra kết luận: Không khí gồm 2 thành
phần chính là khí ô-xi duy trì sự cháy và khí ni-tơ không duy trì sự cháy…
Bước 5: Kết luận và hợp thức hoá kiến thức
Sau khi khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần dược
giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn
chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến
thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho
kết luận sau khi thực nghiệm.
GV khắc sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại các ý kiến
ban đầu (bước 2). Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực
nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải
do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức
và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ một
cách lâu hơn, khắc sâu kiến thức.
V. Các kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho HS trong PP “Bàn tay nặn bột”
1.Tổ chức lớp học
2. Giúp HS bộc lộ quan niệm ban đầu
3. Kĩ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho HS
4. Kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm
5. Kĩ thuật đặt câu hỏi của GV
6. Rèn luyện ngôn ngữ cho HS
7. Kĩ thuật chọn ý tưởng, nhóm ý tưởng của HS: (VD nhóm nho xanh, nhóm táo đỏ,
nhóm cam vàng,.)
8. Hướng dẫn HS đề xuất thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu hay phương án tìm câu trả lời:
9. Hướng dẫn HS sử dụng vở thực hành:
10. Hướng dẫn HS phân tích thông tin, hiện tượng quan sát được khi nghiên cứu để đưa
ra kết luận:
11. So sánh, đối chiếu kết quả thu nhận được với kiến thức khoa học:
15
- GV tắt hết đèn trong lớp học, đóng kín các cánh cửa và hỏi HS có thấy được các dòng
chữ ghi trên bảng không?
- Sau đó, GV mở các cánh cửa ra, bật hết các bóng đèn, hỏi HS có thấy các dòng chữ
trên bảng không? Vì sao?
2. Nêu ý kiến ban đầu của HS:
- GV yêu cầu HS nêu những hiểu biết ban đầu của mình về ánh sáng.
- Cho HS ghi vào vở thí nghiệm, thảo luận nhóm và ghi vào bảng nhóm.
3. Đề xuất các câu hỏi:
- Giáo viên định hướng cho học sinh nêu thắc mắc, đặt câu hỏi xoay quanh nội dung về
ánh sáng.
- Tổng hợp các ý kiến cá nhân để đặt câu hỏi theo nhóm.
- Giáo viên chốt các câu hỏi của các nhóm (nhóm các câu hỏi phù hợp với nội dung bài
học), ví dụ:
+ Ánh sáng có thể truyền qua những vật nào và không truyền qua những vật nào?
+ Ánh sáng đi như thế nào?
+ Những vật như li, chén, xô, quần áo, có tự phát sáng được không?
4. Đề xuất các thí nghiệm nghiên cứu:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, đề xuất, dự đoán kết quả và tiến hành thí
nghiệm nghiên cứu theo nhóm 4 hoặc nhóm 6 để tìm câu trả lời cho câu hỏi ở bước 3
liên quan đến các nội dung:
+ Tìm hiểu về đường truyền của ánh sáng (Thí nghiệm chiếu đèn pin qua khe hẹp của
một tấm bìa. Hãy dự đoán xem ánh sáng qua khe sẽ như thế nào?)
+ Tìm hiểu về sự truyền ánh sáng qua các vật (Làm thí nghiệm để tìm hiểu xem ánh sáng
có thể truyền qua một tấm bìa, quyển vở, tấm thuỷ tinh,… hay không.)
+ Tìm hiểu vấn đề khi nào mắt nhìn thấy được vật (HS làm thí nghiệm 3 ở SGK)
5. Kết luận, kiến thức mới:
- Giáo viên tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả:
+ Ánh sáng có thể truyền qua cửa kính, vải thưa,…và không truyền qua cửa gỗ, tấm bìa,
quyển vở.
Mỹ Lộc, ngày …. tháng … năm 2013
HIỆU TRƯỞNG
19