Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị hoạt động xuất khẩu của Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng, hoạt động xuất khẩu có vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất
khẩu hàng hoá đang trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết cho sự Công
nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, cũng như góp phần nâng cao đời sống
nhân dân. Thông qua hoạt động xuất khẩu Việt Nam có thể tận dụng được các
tiềm năng sẵn có để sản xuất ra các loại hàng hoá phục vụ cho việc trao đổi
buôn bán với các quốc gia khác để thu ngoại tê. Với ngoại tệ thu được tử hoạt
động xuất khẩu, chúng ta có thể mua sắm các loại hàng hoá cần thiết từ các
nước trên thế giới nhằm phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
cũng như thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Chính vì vậy hoạt
động xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng và trong Đại hội Đảng lần thứ
VI một lần nữa khẳng định việc sản xuất hàng xuất khẩu là một trong ba
chương trình kinh tế quan trọng trong thời kỳ đổi mới của nước ta (ba chương
trình đó là: sản xuất lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng
xuất khẩu.). Từ đó đến nay, vấn đề sản xuất hàng xuất khẩu cũng như các hoạt
động liên quan đến xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam đang trở thành một vấn
đề được nhiều người quan tâm với mục đích tìm ra các biện pháp hữu hiệu
nhất để đưa hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có hiệu quả. Bởi vì,
thực tiễn hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cho thấy bên cạnh một số thành
tựu đạt được chúng ta cũng đang gặp không ít những khó khăn trong hoạt
động này.
Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp làm thế nào để tiêu thụ sản phẩm
một cách hiệu quả nhất vì nó liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp
kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, đây là công việc hết sức khó khăn trong giai
đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, những mặt
hàng có lợi thế của chúng ta cung đã vượt quá cầu đối với một số mặt hàng
đồi hỏi doanh nghiệp phải tìm cho mình các thị trường mới. Khi đã có thị
1
trường mới doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình mặt hang kinh doanh có
chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng cộng voí sự chỉ đạo và quản lý

TÔI XIN CẢM ƠN TOÀN THỂ CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN
CỦA CÔNG TY VILEXIM VÌ SỰ GIÚP ĐỠ NHIỆT TÌNH
TRONG QUÁ TRÌNH TÔI THỰC TẬP TẠI CÔNG TY VÀ
XIN CHÚC CÔNG TY GẶT HÁI ĐƯỢC NHIỀU THÀNH
CÔNG.
3
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ XUẤT KHẨU
HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG
MẠI
I. XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu hàng hoá.
Từ sự ra đời của hoạt động thương mại quốc tế có thể nói: Thương mại
quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau trên thế
giớithông qua các quan hệ mua bán quốc tế. Hoạt động thương mại quốc tế là
biểu hiện của hình thức quan hệ xã hội ở phạm vi quốc tế và phản ánh sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt.
Hoạt động xuất khẩu là một mặt quan trọng của hoạt động thương mại
quốc tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nó là quá trình bán
những hàng hoá của quốc gia đó cho một hay nhiều quốc gia khác trên thế
giới nhằm thu ngoại tệ.
Như vậy, về bản chất hoạt động xuất khẩu và hoạt động buôn bán trong
nước đều là một qú trình trao đổi hàng hoá( bán hàng), đó là quá trình thực
hiệ giá trị hàng hoá của người sản xuất hoặc người bán. Tuy nhiên, về hình
thức và phạm vi thì hoạt động xuất khẩu có nhiều đặc điểm khác biệt mà các
nhà xuất khẩu cần nhận thấy để có sự vận dụng hợp lý, các đặc điểm đó là:
Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài.
Do đó, khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp
giống hoàn toàn như khi chinh phục khách hàng trong nước. Bởi vì, giữa hai

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở các nước phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng
trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước
5
ngoài được coi là nguồn vốn chủ yếu của họ trong quá trình phát triển. Nhưng
mọi cơ hội đầu tư hoặc cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và quốc tế
chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất
khẩu của nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ
được.
Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế
giới đã, đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và sự
dịch chuyển cơ cấu kinh tế :
- Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm
này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển. Cụ thể là:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động thương mại
quốc tế cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng
lớn hơn nhiêù lần so với khả năng sản xuất của quốc gia đó.
+ Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút kỹ thuật
công nghệ từ các quốc gia phát triển nhằm tạo điều kiện hiện đại hoá nền kinh
tế nội địa và tạo năng lực cho sản xuất mới.
+ Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng cường hiệu
quả sản xuất của tưng quốc gia. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì

một hoạt động cần thiết để nhằm kết thúc chu kỳ kinh doanh. Nhờ hoạt động
tiêu thụ hàng hoá mà doanh nghiệp mới thu hồi vốn kinh doanh để tạo nguồn
tài chính, bù đắp được chi phí bỏ ra và có lãi để tiếp tục thực hiện và mở rộng
hoạt động kinh doanh.
Tiêu thụ hàng hoá là hoạt động chủ yếu nhất của doanh nghiệp thương
mại. Không có hoạt đông tiêu thụ hàng hoá sẽ không có doanh nghiệp thương
mại.Bởi vậy trong doanh nghiệp thương mại các hoạt động như: marketing,
hậu cần, tài chính... đều là hoạt động mang tính mang tính hỗ trợ và việc đạt
mục tiêu nàyđảm bảo cho hoạt đông tiêu thụ đạt được mục tiêu đề ra. Tiêu thụ
hàng hoá là hoạt động tạo ra mối quan hểtực tiếp giư2ã doanh nghiệp thương
mại vàkhách hàng của mình trong và ngoài nước. Do đó thông qua hoạt đông
này doanh nghiệp có thể tạo lập được uy tín của mình đối với khách hàng
trong và ngoài nước từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rông thị phần,
tăng thế lực kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường.
Với các nà quản trị trong doanh nghệp thương mại, hoạt động tiêu thụ
hàng hoá vừa mang tính chất đúng đắn của các quyết định quả trị như: quyết
định về kế hoạch, phương án tiêu thụ, phương thức xuất khẩu, quyết định về
vốn, nhân lực...) cho chúng ta thấy được kết quả mang lại từ các quyết định
thông qua doanh số thu về.
Vì vậy, có thể nói hoạt đông tiêu thụ hàng hoá giống như một tấm gương
chiếu dọi mọi hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ảnh đầy đủ
những điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp.
2.3. Một số đặc thù của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hoá được coi là hoạt đông tiêu thụ hàng hoá ra thị trường
nước ngoài. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ra thị trường nước
ngoài góp phần tăng thu ngoại tệ cho doanh nghiệp. Đông thời cũng tạo cho
sự phát triển hạ tầng cơ sở là một mục tiêu quan trong của chính sách thương
8
mại. Như vậy có thể khẳng định rằng xuất khẩu hàng hoá là hoạt động bán
hàng của doanh nghiệp vượt ra khỏi biên giới quốc gia thông qua hợp đồng

tổng hợp các hoạt động khác nhau được thực hiện nhằm mục đích đạt được
mục tiêu đã xác định thông qua sự nỗ lực phấn đáu thực hiện của người khác.
b) Chức năng quản trị
Quản trị có bốn chức năng đó là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
soát
* Hoạch định: Là việc ra quyết định cho các hoạt động cho tương lai. Nó
bao gồm các hoạt động sau:
- Xác định mục tiêu của doanh nghiệp.
- Xác định chính sách, các chương trình và các thủ tục cần thiết nhằm đạt
được mục tiêu đã xác định.
- Xác định các giai đoạn mà doanh nghiệp phải trải qua trong quá trình
tiến tới mục tiêu.
- Xác định các phương tiện cần thiết và cần phải có để đối tương quản trị
đạt được mục tiêu.
Như vậy, hoạc định được hiểu là một quá trình hành đọng trong hiện tại
nhưng hướng tới tương lai.
* Tổ chức: Là việc xác định mô hình, phân công lao động, giao nhiệm vụ
cho mỗi thành viên trong nội bộ đối tượng quản trị. Nó bao gồm cả việc phân
công và giao nhiệm vụ cho mỗi cấp, mỗi thành viên trong doanh nghiệp để họ
thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất
* Lãnh đạo: Là toàn bộ những hoạt động được thực hiện nhằm làm cho
đối tượng quản trị vận động và thực hiện mục tiêu đã xác định, tạo ra bầu sinh
khi trong công việc, trong tổ chức. Yếu tố tạo ra sinh khí được quan tâm là vì
10
nó tồn tại lâu dài, bên lâu là nguồn gốc tạo nên sức mạnh giúp doanh nghiệp
tồn tại. Lãnh đạo bao gồm các nội dung sau:
- Huấn luyện.
- Các hoạt động duy trì kỷ luật.
- Gây ảnh hưởng hứng thú.
- Gây bầu không khí tin cậy và đoàn kết

2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Vấn đề nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đến với
bất kỳ một công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Việc nghiên
cứu thị trường tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh nhận ra
được quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi
nhu cầu, hàng cung ứng giá cả thị trường. Qua đó giúp các nhà kinh doanh
giải quyết được những vấn đề thực tiễn kinh doanh như yêu cầu của thị
trường, khả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị
trường so sánh, phân tích những thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu
hướng vận động của thị trường. Những kết luận này sẽ giúp cho nhà quản lý
đưa ra được những nhận định đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch
marketing.
Nội dung chính của nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập
và mở rộng thị trường. Việc nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai
bước là nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trường.
- Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp những thông tin về quy mô, cơ
cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường như môi
trường kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng thị trường như môi trường kinh
doanh, môi trường chính trị, luật pháp, khoa học công nghệ, môi trường văn
hoá xã hội, môi trường sinh thái …
12
- Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những chi tiết thông tin về tập
quán mua hàng, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi mua hàng
của người tiêu dùng. Nghiên cứu thị trường được tiến hành theo hai phương
pháp chính: phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp nghiên cứu tại
hiện trường.
Phương pháp nghiên cứu tại bàn là phương pháp nghiên cứu bằng cách
thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công khai và xử lý
thông tin đó. Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường là việc thu thập thông

Trên cơ sở những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận
thị trường, đơn vị kinh doanh phải lập phương án kinh doanh cho mình.
Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt được những mục
tiêu xác định trong kinh doanh. Việc xác định phương án kinh doanh bao
gồm:
- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh tổng
quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự
lựa chọn này phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có
liên quan.
- Đề ra mục tiêu cụ thể như sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán là bao
nhiêu, thâm nhập vào thị trường nào.
- Đề ra biện pháp và công cụ thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu: Những
biện pháp này bao gồm đầu tư vào sản xuất, cải tiến mẫu mã bao bì hàng hoá,
ký hợp đồng kinh tế, tham gia hội chợ quốc tế, tổ chức quảng cáo, mở rộng
mạng lưới đại lý, lập chi nhánh ở nước ngoài…
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh tế thông qua các
chỉ tiêu cơ bản như:
+ Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ
+ Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi
14
+ Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn
+ Điểm hoà vôn
2.3. Lựa chọn hình thức xuất khẩu
Thông thường người ta sử dụng các hình thức xuất khẩu sau:
* Xuất khẩu trực tiếp: Là phương thức xuất khẩu trong đó người mua và
người bán có quan hệ trực tiếp với nhau để bàn bạc, thoả thuận về hàng hoá,
giá cả và các điều kiện giao dịch khách. Người xuất khẩu trên cơ sở nghiên
cứu kỹ thị trường nước ngoài để tính toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh
xuất khẩu có lãi, đúng phương hướng chính sachpháp luật của quốc gia và

*Gia công quốc tế : Là phương thức sản xuất hàng hoá xuất khẩu trong đó
người đặt gia công nước ngoàicung cấp máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật
liệu, phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu hàng và định mức cho trước.
Người nhân gia công ở trong nước tổ chức quá trính sản xuất sản phẩm theo
yêu cầu của khách hàng. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ
giao lại cho người đặt gia công để thu tiền gia công.
*Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là một thị
trương đặc biệt, tại sđó thông qua người môi giới do sở giao dịch chỉ định
người mua người bán và các loại hàng hoá có khối lượng lớn, có tính chất
đồng loại, có phẩm chất có thể thay thế cho nhau...
Như vậy,có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau nhưng tuỳ thuộc vào
các điều kiện cụ thể khác nhau mà các doanh nghiệp lựa chọn hình thức nào
cho phù hợp và có lợi nhất. Ngoài hình thức xuất khẩu độc lập doanh nghiệp
có thể liên doanh với các doanh nghiệp khác cùng thực hiện một hợp đồng
xuất khẩu nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn, san sẻ bớt rủi ro cùng phối
hợp khả năng giao dịch và đề ra các biện pháp tối ưu tiêu thụ được hàng hoá
và có được lợi nhuận tối đa.
2.4. Ký kết hợp đồng xuất khẩu:
Hợp đồng xuất khẩu là loại hợp đồng mua bán đặc biệt, trong đó người
bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu một loại hàng hoá nhất định với một
16
khối lượng cụ thể cho người mua, còn người bán có nghĩa vụ trả cho người
bán một khoản tiền tương đương với giá trị lô hàng bằng một phương thức
thanh toán quốc tế nào đó.
Về thực chất, hợp đồng xuất khẩu là những thoả thuận về các điều kiện
mua bán hàng hoá như tên hàng, khối lượng hàng, chất lượng, giá cả, điều
kiện giao nhận, điều kiện thanh toán… giữa doanh nghiệp ngoại thương và
các khách hàng cụ thể. Những thoả thuận này được thể hiện thành các hình
thức văn bản hợp đồng nhất định.
Về mặt pháp lý, hợp đồng xuất khẩu là căn cứ pháp luật ràng buộc các

thời khi sự cố xấy ra trong quá trình thực hiện công việc.
Cùng với công tác tổ chức phân công nhiệm vụ cho nhân viên thừa hành
nhà quản trị phải có những biện pháp điều khiển phối






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status