báo cáo nghiên cứu chiết tách kaempferol từ lá chè việt nam - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN HUỆ - HÀ ĐÔNG
**************
ĐỀ TÀI DỰ THI KHOA HỌC, KỸ THUẬT
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
LẦN THỨ TƯ (NĂM HỌC 2014 - 2015).
Đề tài:
“ NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT KAEMFEROL
TỪ LÁ CHÈ VIỆT NAM “
Lĩnh vực: HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
HD1:
- Th.S.Nguyễn Đức Thanh
- Đơn vị công tác: Học viện Quân Y
HD2:
-Th.S Kim Phương Hà
- Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Nguyễn
Huệ
TÁC GIẢ:
1. Chu Tấn Kiệt Lớp:11 Hóa 1
2. Phạm Ngọc Diệu Anh Lớp:11 Anh 1
Hà Nội, tháng 11 năm 2014

PHẦN 1
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tuy có diện tích trồng chè xanh rất lớn, chất lượng vào loại tốt nhất thế giới
nhưng nước ta chỉ chú trọng vào việc sử dụng làm đồ uống mà bỏ qua
Kaempferol, một hoạt chất quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh ung thư –
căn bệnh nan y của thế giới.
Sau khi được học xong bài tách chiết các chất hữu cơ, cùng với các tư liệu
mà các thầy cô giáo cung cấp, chúng em thấy việc tách Kaempferol là không khó

Lá chè xanh tươi được thu mua tại Hoà Bình, loại tạp, sau đó đem phơi khô.
Bảo quản nơi khô ráo
3.3.2. Hóa chất nghiên cứu:
TT Tên hóa chất Nguồn gốc
1 Methanol Merck
2 Cloroform Trung Quốc
3 Ethyl acetat Trung Quốc
4 Aceton Merck
5 Silicagel Trung Quốc
6 Sephadex LH20 Singapore
7 Natri clorua Trung Quốc
8 Natri sunphat Trung Quốc
9 Nước cất Viện KNVSATTP quốc gia
3.3.3. Thiết bị nghiên cứu:
Các thiết bị dụng cụ tại Viện Kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm Quốc
gia, Học viện Quân y, Viện Hoá học - Viện hàn lâm khoa học Việt Nam gồm có:
Máy móc
– Máy cất quay chân không Eyela (Nhật Bản)
– Tủ sấy Memmert (Đức).
– Cân kỹ thuật điện tử Sartorius BP 20015 (Đức).
– Cân phân tích Mettler Toledo AB204-S ( Thụy Sỹ).
– Máy cất quay chân không Büchi R-220 (Thụy Sỹ).
– Bếp ôm bình cầu có bảo ôn Heating Mantle (Trung Quốc).
– Máy đo nhiệt độ nóng chảy Memmert (Đức).
– Máy UV – VIS (Nhật).
– Thiết bị xác định phổ hồng ngoại (IR) Perkin Elmer.
– Thiết bị xác định phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) Bruker AM500 FT-
NMR Spectrometer.
– Thiết bị xác định phổ khối lượng Varian 320 MS (Mỹ).
– Máy sắc kí lỏng hiệu năng cao Shimadzu (Nhật Bản)

SO
4
khô để hút
nước rồi cô cạn dưới áp suất giảm thu được cắn flavonoid toàn phần.
Cách 2 (acid hoá): Cho 10mL HCl đậm đặc vào dung dịch, thủy phân trong
khoảng 8 tiếng rồi cho dung dịch thu được vào bình chiết. Sau đó tiến hành tương
tự như phương pháp 1.
Sau khi thực hiện theo các cách đem đi xác định khối lượng cắn flavonoid
toàn phần. Mỗi thí nghiệm lặp 3 lần và lấy kết quả trung bình.
Bảng1. Kết quả khảo sát hàm lượng cắn flavonoid toàn phần từ lá chè
Dung môi
Hàm lượng cắn flavonoid thu được (g)
Cách 1 Cách 2
Methanol 60% 2,55 3,55
Methanol 70% 2,99 3,87
Methanol 80% 3,08 4,00
Nhận xét:
Ở cả 2 phương pháp chiết, dung môi chiết xuất là methanol 80% đều cho
hiệu suất cao nhất và ở các trường hợp dịch chiết được acid hoá cho hiệu quả tốt
hơn.
Sau khi thu được cắn flavonoid toàn phần, chúng em tiến hành xác định
xem trong đó có chứa kaempferol hay không bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng
(TLC) với các điều kiện như sau: Bản mỏng silica gel GF
254
(Merck) được hoạt hóa ở
110
0
C trong 1 giờ. Hệ dung môi triển khai: Toluen : Ethyl acetat : Acid formic (5 : 4:
1). Hiện vết bằng hơi ammoniac bão hòa .
Kết quả:

1000
1100
1200
mAU
366nm,4nm (1.00)
/14.797/8413554
Hình 2. Sắc đồ kaempferol với điều kiện lựa chọn
Bảng 2. Hàm lượng kaempferol trong cắn flavonoid
Dung môi
Hàm lượng kaemferol trung bình trong cắn (%)
Cách 1 Cách 2
Methanol 60% 0,14 0,50
Methanol 70% 0,16 0,48
Methanol 80% 0,13 0,78
Kết quả thu được với phương pháp chiết bằng methanol 80% và acid hoá
cho hàm lượng kaempferol thu được là cao nhất, vì vậy chúng em quyết định lựa
chọn phương pháp này để tiến hành thực nghiẹm các bước tiếp theo.
Từ các kết quả khảo sát thu được ở trên, nâng khối lượng lá chè nên 500g
chúng em đề ra quy trình chiết xuất flavonoid toàn phần trong lá chè như sau:
Quy trình chiết xuất flavonoid toàn phần từ lá chè:
Cân 500g lá chè rồi cho vào bình cầu 10L. Cho thêm 5L MeOH 80%. Ngâm
trong khoảng 6 giờ rồi rút dịch chiết lần thứ nhất. Thực hiện ngâm bã dược liệu
trên với 2,5L MeOH 80% trong khoảng 2 giờ rồi rút dịch chiết lần thứ hai. Đuổi bớt
dung môi ở các lần chiết, gộp các dịch chiết methanol, cô cạn dung môi dưới áp
suất giảm bằng máy hút chân không thu được cắn. Thêm nước nóng vào hòa tan
cắn bám quanh thành ống nghiệm sau cô cạn, thu được dung dịch có màu xanh lá
đậm. Cho 50mL HCl đậm đặc vào dung dịch, thủy phân trong khoảng 8 tiếng rồi
cho dung dịch thu được vào bình gạn. Lắc đều 3 lần với CHCl
3
với thể tích của

Hòa tan 4 g flavonoid toàn phần trong cloroform, 4 g chất nhồi cột silica gel
60 ,trộn đều, cô cạn dung môi thu được hỗn hợp bột. Chuyển nhẹ nhàng vào cột,
tránh xáo động lớp chất nhồi trong cột, dùng pipet tráng vòng quanh bên trong
cột trước khi thêm dung môi rửa giải. Dùng hệ dung môi giửa rải lần lượt như sau:
Lần 1: 80mL CHCl
3
Lần 2: 40mL CHCl
3
+ 0,5mL Aceton + 0,5mL CH
3
COOC
2
H
5
+ 0,5mL CH
3
OH
Lần 3: 40mL CHCl
3
+ 1mL Aceton + 1mL CH
3
COOC
2
H
5
+ 1mL CH
3
OH
Bỏ qua dịch rửa giải của phân đoạn 1 và 2, chỉ thu dịch rửa giải của phân
đoạn 3. Tiến hành lặp lại cho đến khi hết cắn flavonoid toàn phần. Cô cạn dịch rửa

Tiến hành sắc ký lớp mỏng với chất đối chiếu kaempferol của viện kiểm
nghiệm thuốc trung ương thấy sản phẩm thu được có giá trị thời gian lưu

phù
hợp với chất chuẩn.
Hình 6. Kết quả sắc ký lớp mỏng của sản phẩm
3.4.3. Kết quả đo phổ
3.4.3.1. Phổ tử ngoại khả kiến UV-VIS
Mẫu thử được hòa tan trong MeOH, nồng độ 0,01 mg/ml. Đem quét phổ
trên máy thu được λ
max
= 266,366 nm, phù hợp với giá trị lý thuyết.
3.4.3.2. Phổ hồng ngoại IR
Trên phổ hồng ngoại của sản phẩm xuất hiện các đỉnh: 3344 cm
-1
của nhóm
OH, và đỉnh 1611 cm
-1
của nhóm C=O
3.4.3.3. Phổ khối lượng ESI MS
Tiến hành đo phổ ESI-MS của hợp chất nghiên cứu, trên phổ đồ xuất hiện
pic 287,1 ứng với mảnh [M+H]+, tương ứng khối lượng phân tử 286,1 (C
15
H
10
O
6
).
Kết quả cho thấy chất phân tích đều cho mảnh ion phân tử phù hợp với
khối lượng phân tử tương ứng.

Phân lập Kaempferol: Phương pháp phân lập Kaempferol được tiến hành
qua hai giai đoạn, giai đoạn một sử dụng cột silicagel, giai đoạn hai
tiếp tục phân lập trên cột Sephadex LH-20.
Như vậy, chúng em đã thực hiện thành công việc chiết tách Kaempferol từ
là chè Việt nam.
HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
1. Về xây dựng qui trình chiết xuất, phân lập, tinh chế
Chúng em sẽ khảo sát độ tinh khiết của sản phẩm thu được,nếu chưa đạt
tiêu chuẩn dược dụng sẽ tiếp tục nghiên cứu để tinh chế cho đạt tiêu chuẩn
nguyên liệu dung làm thuốc.
Nếu thời gian cho phép, chúng em sẽ gửi mẫu chiết tách được đi thử
nghiệm tác dụng lâm sàng trên động vật.
2. Tiếp tục hoàn thiện báo cáo
Hoàn chỉnh nội dung, trình bày đầy đủ các hình ảnh, các bảng biểu kết quả
thực nghiệm. Các phụ lục và tài liệu tham khảo đầy đủ sẽ được hoàn thiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status