Chế độ tỷ giá theo luật định (de jure) và chế độ tỷ giá thực tế của việt nam giai đoạn 2008 2013 - Pdf 24

1
A. Lý thuyết
I. Chế độ tỷ giá cố định
NHTW công bố và cam kết can thiệp để duy trì tỷ giá cố định (gọi là tỷ giá trung tâm ) trong một
biên độ dao động hẹp đã được định trước ( thường là 1%)
Ưu điểm:
 Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế
 Buộc chính sách kinh tế vĩ mô phải có kỷ luật hơn
 Thúc đẩy hợp tác quốc tế
Nhược điểm: Hoạt động đầu cơ bất ổn
II. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có
bất cứ một can thiệp nào của NHTW
Ưu điểm:
 Đảm bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán
 Đảm bảo tính độc lập của CSTT
 Giúp nền kinh tế trở nên độc lập hơn
 Góp phần ổn định kinh tế
 Đầu cơ giúp ổn định thị trường
III. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cũng cầu trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, NHTW
vẫn có thể tiến hành can thiệp nhằm duy trì tỷ giá nhưng không nhằm cố định tỷ giá.
Là chế độ tỷ giá trung gian giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn.
IV. Chế độ tỷ giá thực tế ( de facto exchange rate regime)
1. Sự khác nhau giữa chế độ tỷ giá thao luật định ( de jure) và chế độ tỷ giá theo thực tế ( de
facto)
- De jure ER: là chế độ tỷ giá mà chính phủ (đại diện là NHTW) công bố chính thức.
- De facto ER: căn cứ vào sự biến động của tỷ giá trên thực tế, IMF đưa ra một số tiêu chí để phân
loại các chế độ tỷ giá.
2. Phân loại chế độ tỷ giá
Theo IMF, chế độ tỷ giá được phân thành các loại sau:

mạnh, các quy định hành chính về biên độ có thế làm đóng băng thị trường ngoại tệ trong nước,
khuyến khích các hoạt động phi pháp. Theo nguyên tắc của cơ chế tỷ giá thả nối có điều tiết do NHNN
Việt Nam quy định ,NHNN sẽ không chủ quan trực tiếp ấn định tỷ giá chính thức mà sẽ chỉ thông báo
tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng.Mà tỷ giá bình quân liên ngân hàng lại là do cung cầu trên
thị trường liên ngân hàng quyết định.
Trên cơ sở tỷ giá bình quân liên ngân hàng ,các NHTM sẽ xác định tỷ giá kinh doanh theo quy tắc
sau:
Tỷ giá kinh doanh =TGBQLNH *(1 ± x)
Tức là : Tỷ giá bán ra(max) =TGBQLNH*(1 + x)
Tỷ giá mua vào (min) = TGBQLNH*(l-x)
(x là biên độ dao động do NHNN quy định)
Như vậy yếu tổ thả nổi trong tỷ giá kinh doanh chính là đại lượng TGBQLNH.
1.2.Về yếu tố điều tiết:
Tỷ giá giao dịch không được tự do biến động theo cung cầu trên thị trường liên ngân hàng mà sự
biến động chỉ được giới hạn trong biên độ giao dịch do NHNN quy định ± x% so với tỷ giá của ngày
giao dịch trước đó. Trong một ngày giao dịch, do ảnh hưởng của cung cầu trên thị trường ngoại hối
nên tỷ giá giao dịch có thế có những thay đôi đột biến vượt ra ngoài biên độ giao dịch cho phép,tuy
vậy tỷ giá luôn là cố định trong một ngày giao dịch bất chấp những thay đổi đó.
Như đã nói ở phần trên,yếu tố thả nổi trong tỷ giá kinh doanh chính là đại lượng tỷ giá bình quân
liên ngân hàng .Nhưng vì đây là tỷ giá bình quân ,nghĩa là phải do NHNN tính toán dựa trên tỷ giá
giao dịch của các ngân hàng ,trong khi đó NHNN lại là người độc quyền điều hành,đồng thời cũng độc
3
quyền tính toán,độc quyền thông báo tỷ giá bình quân liên ngân hàng,do vậy trong một chừng mực
nào đó thì chỉ số TGBQLNH vẫn chưa hoàn toàn thoát ly khỏi ý chí chủ quan của NHNN trong việc
điều hình tỷ giá nhằm đảm bảo một mức tỷ giá có lợi và phù hợp cho các hoạt động của nền kinh
tế,đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu,hạn chế rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp.
Ngoài ra,NHNN còn sử dụng một hệ thống các công cụ tác động lên tỷ giá gồm các công cụ trực
tiếp và gián tiếp.
1.2.1. Các công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá :
 Nghiệp vụ thị truờng mở nội tệ : Đây là nghiệp vụ dễ dàng thực hiện và có tác động trực tiếp

Một đặc điểm khác của cơ chế tỉ giá của Việt Nam là cơ chế hai tỉ giá. Mặc dù trên thực tế
NHNN áp dụng chỉ một tỉ giá chính thức cho tất cả các giao dịch thương mại trên phạm vi cả nước
nhưng tỉ giá thị trường tự do

vẫn hiện diện song song với tỉ giá chính thức.Nguyên nhân này bắt nguồn
từ sự khó khăn trong tiếp cận ngoại tệ từ khối ngân hàng.Trong thập kỉ 1990, do có sự phân biệt giữa
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong vấn đề xuất khẩu, các doanh nghiệp tư nhân
khó tiếp cận các nguồn ngoại tệ từ hệ thống ngân hàng. Hiện nay, sự phân biệt kiểu này đôi khi vẫn
được các NHTM áp dụng đối với các doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc đối tượng "không khuyến
khích" sử dụng ngoại tệ như dùng ngoại tệ để đi du lịch hoặc mua, nhập các loại hàng hóa xa xỉ hay
loại hàng hóa trong nước có khả năng sản xuất được. Chính sự phân biệt này khiến cho thị trường
ngoại tệ tự do vẫn tiếp tục phát triển với quy mô tương đối lớn ở Việt Nam.
Theo IMF giai đoạn 2008-2010, Việt Nam áp dụng cơ chế neo tỉ giá với biên độ được điều
chỉnh (crawling bands).Theo đó, OER được điều chỉnh tăng giá 5 lần: 2%( 11/06/2008), 2.9%
(25/12/2008), 5,16% (25/11/2009), 3,25% (11/02/2010), 2.05% (18/08/2010) và biên độ dao động
được điều chỉnh 5 lần: +/- 1% (3/2008); +/- 2% (6/2008) ; +/- 3% (11/2008) ; +/- 5% (3/2009) ;+/- 3%
(11/2009).
Để hiểu rõ hơn về chế độ tỷ giá thực tế ở Việt Nam ta hãy cùng xem xét chi tiết những biến
động của diễn biến tỷ giá qua các năm 2008-2011
Giai đoạn từ năm 2008 – 2011 tỉ giá có nhiều sự biến động. Theo số liệu từ NHNN thì giai
đoạn từ năm 2008 đến 2011, NHNN đã điều hành chính sách tỷ giá theo hướng giảm giá đồng Việt
Nam ở mức vừa phải đã có tác động làm giá bán hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới
5
cạnh tranh hơn.
Hình 1: biến động tỉ giá USD/VND từ năm 2008 đến 2011.
 Năm 2008 nền kinh tế thế giới rơi vào giai đoạn khủng hoảng vậy nên không thể
tránh khỏi ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự phản
ứng trong chính sách tỉ giá ở Việt Nam .Dựa vào hình 1 có thể thấy tỉ giá NHTM có
nhiều biến động mạnh do lạm phát tăng cao (tỉ lệ lạm phát năm 2008 tăng rất coa có lúc
lên đến 20%) đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế đã có tác động đến Việt Nam nửa

Tuy nhiên cung ngoại tệ hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn. Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên
3% trong ngày 07/11, tỷ giá tăng tới mức 17.440 VND/USD.Nguyên nhân: Nhà đầu tư nước ngoài đẩy
mạnh bán chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD).Cầu USD
trên thị trường tín dụng tăng cao.
Nhìn chung trong năm 2008 cũng với sự biến động của tỉ giá và ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế toàn cầu thì cuối năm 2008, nhu cầu hàng xuất khẩu giảm,kim ngạch xuất khẩu giảm.Các nhà đầu
tư nước ngoài cũng giảm đầu tư,lượng khách du lịch vào Việt Nam cũng giảm,lượng kiều hối cũng
giảm mạnh làm ảnh hưởng lớn đến tỉ giá.Tuy nhiên chính phủ ta đã có biện pháp hợp lí và có biện
pháp kiểm soát để tỉ giá không biến động quá mạnh.
 Trong năm 2009, tỷ giá USD/VND do thị trường Liên Ngân hàng do Ngân hàng nhà
nước công bố tiếp tục tăng và đặc biệt tỷ giá trên thị trường tín dụng còn cao hơn nhiều
so với tỷ giá công bố.
Biểu đồ tiền đồng mất giá mạnh trong năm 2009
Năm 2009, tỷ giá biến động mạnh, mức chênh lệch giữa thị trường chính thức và phi chính
thức luôn ở mức cao. Tỷ giá chính thức cuối năm đã tăng gần 2,000 VND/USD, tức tăng hơn 12% so
với mức đầu năm. Tỷ giá liên ngân hàng vào ngày 31/12/09 đang ở mức 17,941 VND/USD, tỷ giá
mua bán tại ngân hàng thương mại đang ở mức kịch trần biên độ với mức 18,479 VND/USD. Tỷ giá
trên thị trường phi chính thức đang ở mức từ 19,200 – 19,500 VND/USD.
Trong năm qua NHNN cũng thực hiện nhiều biện pháp can thiệp mạnh mẽ vào thị trường
ngoại hối. Ngày 23/03, NHHN ra Quyết định số 622/QĐ-NHNN nâng biên độ tỷ giá lên +/-5%, để tỷ
8
giá trên thị trường giao động một cách linh hoạt hơn. Tuy nhiên, trước tình hình tỷ giá vẫn khá căng
thẳng đến ngày 24/4/09, NHNN có công văn yêu cầu các phương tiện thông tin không thông tin về tỷ
giá trên thị trường chợ đen. Ngoài ra, NHNN cũng yêu cầu các cơ quan chức năng thắt chặt hoạt động
mua bán ngoại tệ trên thị trường phi chính thức. Trong khoảng thời gian đó nhiều người còn nghi ngại
NHNN sẽ thực hiện các biện pháp kết hối.Diễn biến tiếp theo trên thị trường ngoại tệ khiến NHNN
phải bán USD dự trữ để giữ tỷ giá. Dự trữ ngoại tệ của NHNN giảm từ mức 23 tỷ USD vào cuối năm
2008, xuống còn khoảng 16-17 tỷ USD vào cuối năm nay. Trong những tháng cuối năm 2009, tình
trạng căng thẳng tỷ giá vẫn chưa được cải thiện. Tỷ giá trên thị trường chợ đen đã có lúc lên tới 20,000
VND/USD. Ngày 25/11, NHNN quyết định điều chỉnh tỷ giá tăng lên mức 17,961 VND/USD, từ mức

ngoại tệ phục vụ hoạt động nhập khẩu cuối năm. Từ giữa tháng sáu, NHNN đưa ra yêu cầu kiểm soát
chặt tín dụng ngoại tệ. Lãi suất USD có xu hướng tăng trong khi NHNN yêu cầu đồng thuận giảm lãi
suất VND khiến nhu cầu nắm giữ USD tăng
Giai đoạn 4: Quý 4 năm 2010 tỷ giá TTTD vượt mốc 20.000. NHNN điều chỉnh tỷ giá LNH
vào ngày 18/8, tỷ giá ổn định ở mức 19.500.Cuối tháng 9 đến cuối tháng 10 tỷ giá tăng mạnh vượt
mức 20.000 vào ngày 19/10. Cung cầu ngoại hối trên thị trường đang có dấu hiệu căng thẳng.Tỷ giá
TTTD vượt mức 21.000 trong tháng 11. Chênh lệch giữa giá USD trên TTTD và giá trần theo quy
định của NHNN lên đến 1.300-1.500VND/1USD.Nguyên nhân: lượng dự trữ ngoại tệ trong giai đoạn
này khá mỏng.Tâm lý lo sợ VND ngày càng mất giá cộng với lạm phát có xu hướng tăng cao đã khiến
cho người dân nắm giữ vàng và ngoại tệ.Nhập siêu tăng mạnh trong tháng 11 lên mức cao nhất kể từ
tháng 2/2010.

II. Giai đoan 2011-2013
1.1.Diễn biến tỷ giá USD/VND và các biện pháp điều hành chính sách tỷ giá trong năm 2011:
.Diễn biến tỷ giá VND trong năm 2011 có thể được chia thành 4 giai đoạn với các sắc thái
diễn biến khác nhau của tỷ giá trên thị trường tự do:
10
• Giai đoạn 1- Tháng 1/2011: Tỷ giá tự do ổn định quanh mốc 21.000, trong khi NHNN cố gắng
kiềm giữ tỷ giá chính thức ở mức 18.932.
• Giai đoạn 2- Thời điểm sát Tết nguyên đán đến đầu tháng 3/2011: Tỷ giá tự do tăng mạnh lên
trên 22.300 sau khi NHNN phá giá.
• Giai đoạn 3- Trung tuần tháng 3 đến đầu tháng 8/2011: Tỷ giá tự do giảm mạnh, xuống sát
với tỷ giá của NHTM sau khi NHNN thi hành nhiều biện pháp điều hành chính sách tỷ giá.
• Giai đoạn 4- Tỷ giá tự do bắt đầu tăng mạnh vượt trên giá trần quy định của NHNN và tiếp
tục dao động quanh mức 21.300-21.400 cho đến cuối năm 2011.
1.1.1. Giai đoạn 1- Tháng 1/2011
Trong những ngày đầu năm 2011, do chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục tăng cao
đã đẩy giá USD trên thị trường tự do tăng lên trên mức 21.000. Trước sức ép liên tục về phá giá VND,
nhưng NHNN vẫn tiếp tục kiềm giữ duy trì tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại mức 18.932, trong khi
các ngân hàng thương mại (NHTM) niêm yết tỷ giá tại mức trần 19.500. Diễn biến này khiến cho

vào ngày 19/2. Sự tăng mạnh đột biến của giá USD có thể bắt nguồn từ chênh lệch giá vàng thế giới
và trong nước vẫn đang duy trì ở mức khá cao, cộng thêm với tâm lý đầu cơ của người dân cũng như
sự e ngại về giá trị của VND. Không những thế, thông tin dự trữ ngoại hối tại thời điểm đó chỉ còn
khoảng 10 tỷ USD và những quan ngại về tình hình lạm phát cao có thể là những nguyên nhân góp
phần khiến cho giá USD tự do liên tục tăng mạnh
1.1.3. Giai đoạn 3- Trung tuần tháng 3 đến đầu tháng 8/2011
Trước những bất ổn của thị trường ngoại hối tự do do tác động của tâm lý và hiện tượng đầu cơ
làm giá của các đại lý thu hổi ngoại tệ, NHNN cho biết sẽ kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu hổi ngoại
tệ với sự phối hợp của công an và quản lý thị trường. Đây là biện pháp đầu tiên nằm trong gói các biện
pháp mà NHNN đưa ra nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 11 của Chính phủ nhằm bình ổn thị trường
ngoại hối, tăng niềm tin vào giá trị VND và hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Thông tin này đã
khiến cho thị trường ngoại hối tự do ngừng giao dịch ngay trong ngày 7/3/2011 (phiên đầu tuần thứ 2
của tháng 3) làm nhiều người có nhu cầu giao dịch ngoại tệ ngỡ ngàng. Mặc dù không thể phủ nhận
vai trò của các đại lý thu đổi ngoại tệ trong việc đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các cá nhân, thậm chí là
doanh nghiệp, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đây cũng là gây nên những bất ổn của thị trường tiền
tệ. Chính vì vậy kiểm soát hoạt động của các đại lý này là một trong những biện pháp của NHNN
nhằm ổn ñịnh hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do qua đó bình ổn vĩ mô nền kinh tế, chống USD
hóa nền kinh tế và tăng niềm tin của người dân vào giá trị VND trong thời điểm hiện nay. Cùng với
việc kiểm soát chặt thị trường ngoại tệ tự do, NHNN cho biết sẽ cụ thể hóa giải pháp tiến tới xóa bỏ
hoàn toàn hoạt ñộng kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do cũng như đưa hoạt động của thị
trường vàng vào khuôn khổ như đã đề ra trong Nghị quyết 11 thông qua việc ban hành các quy định
về giao dịch vàng (dự kiến được ban hành trong Quý 3). Thông tin về các biện pháp kiểm soát chặt thị
trường vàng lần này của NHNN được kì vọng sẽ tránh được tình trạng đầu cơ vàng, vốn được coi là
nguyên nhân chính gây nên những bất ổn của thị trường vàng cũng như liên thông tới thị trường ngoại
tệ tự do như trong thời gian trước ñây. Thêm vào đó, nó có thể giúp loại bỏ tình trạng nắm giữ, tích trữ
vàng trong dân, phục hồi niềm tin vào VND. Ngoài ra, nó sẽ giúp cho NHNN tránh phải đưa ra các
quyết định nhập khẩu vàng liên tục (nhu cầu tăng đột biến do tâm lý tích trữ, đầu cơ trong dân mỗi khi
12
giá vàng thế giới tăng), giảm áp lực tới dự trữ ngoại hối quốc gia. Các biện pháp hành chính này
dường như tỏ ra khá hiệu quả khi mà tỷ giá giao dịch “ngầm” tự do liên tục giảm xuống từ trên 22.000

đặc biệt trong những tháng cuối năm đã hỗ trợ khá đắc lực cho những cam kết của NHNN. Không
những thế những quy định và biện pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng đã khiến cho biến động
của thị trường này không còn gây nhiều tác động tiêu cực đến thị trường ngoại tệ tự do như trước đây.
13
1.2.Diễn biến tỷ giá năm 2012
Năm 2012 là một năm thành công trong công tác điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính
sách tỷ giá VND/USD nói riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá các biện
pháp điều chỉnh tỷ giá VND/USD trong năm 2012, bài viết đề xuất một số giải pháp góp phần nâng
cao hơn nữa hiệu quả điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước năm 2013.
1.2.1. Diễn biến tỷ giá VND/USD ổn định:
Nhìn lại diễn biến tỷ giá VND/USD trong năm 2012 cho thấy, vào đầu năm duy trì ổn định với
biến động không quá +/-1% theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng (BQLNH) và với chiều hướng giảm
từ 21.030 VND/1USD, xuống còn khoảng 20.850 VND/1USD vào cuối năm. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, nếu như năm 2008 giá USD (tỷ giá VND/USD) tăng 6,31%, năm 2009 tăng tới 10,07%,
năm 2010 tăng 9,68% thì năm 2011 chỉ tăng 2,2% và năm 2012 đã giảm gần 1%. Trong 6 tháng đầu
năm 2012 tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng nhẹ, còn 6 tháng cuối năm giảm, tính chung cả năm tỷ
giá giảm gần 0,88% (Biểu đồ 1). Đây là một hiện tượng ngược lại diễn biến tỷ giá trên thị trường trong
những năm xáo trộn (2008 - 2011) khi tỷ giá luôn biến động theo chiều hướng tăng dần từ đầu năm
đến cuối năm.
Nhìn chung, diễn biến tỷ giá USD/VND trong năm 2012 có thể chia thành hai giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Từ tháng 1- 6/2012, tỷ giá tăng nhẹ. Trong 6 tháng đầu năm diễn biến tỷ giá
VND/USD diễn ra ổn định với chiều hướng tăng nhẹ khoảng 0,55%. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
(BQLNH) tiếp tục được duy trì ở mức 20.828 VND/1 USD. Tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương
mại (NHTM) sau một thời gian duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh
giảm dừng ởmức 20.860 - 20.920 VND/USD vào thời điểm cuối tháng 6/2012.
Riêng những ngày đầu tháng 6/2012, các NHTM đồng loạt nâng giá bán ra USD kịch trần và duy
trì trạng thái này gần một tuần, sau đó đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm trở lại. Diễn biến tỷ giá
trên thị trường “chợ đen” bám sát diễn biến tỷ giá giao dịch của NHTM, chênh lệch giữa hai thị trường
này chỉ còn ở mức từ 20 - 70 VND/1USD – một sự chênh lệch không đáng kể nếu so với năm 2011
trung bình mức chênh lệch là 1.000 - 2.000 VND/1 USD.

tiếp và nhóm các biện pháp tác động gián tiếp lên tỷ giá VND/USD (Xem bảng 1) như sau:
16
.
1.3.Điều hành tỷ giá năm 2013
Theo dữ liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD trong 11 tháng năm 2013 so với tháng
12/2012 như sau:
17
Như vậy, giá USD tháng 12 năm sau so với tháng 12 năm trước sau khi tăng khá cao trong
thời kỳ 2008-2010 (năm 2008 tăng 6,31%, năm 2009 tăng 10,7%, năm 2010 tăng 9,68%), đã tăng
chậm lại vào năm 2011 (tăng 2,24%), giảm vào năm 2012 (giảm 0,96%) và tiếp tục tăng thấp trong 11
tháng năm 2013.
Ở góc độ khác, nếu tính bình quân thì bình quân 11 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước
mới tăng 0,62%, thấp hơn so với bình quân thời kỳ 2006-2012 (tăng 4,1%).
NHNN chủ động trước những diễn biến của tỷ giá. Việc điều hành chính sách quản lý tỷ giá
và thị trường ngoại tệ được công khai ngay từ đầu năm : Tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá trong năm
18
2013 với mức biến động 2 - 3%. Trên cơ sở các cam kết này, NHNN luôn chủ động theo dõi, phân tích
các cân đối vĩ mô, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế, cung cầu ngoại tệ trên thị trường và thực hiện
các biện pháp điều hành cần thiết để nhanh chóng ổn định thị trường.
Ngoài ra, NHNN còn chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường quản lý,
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về quản lý ngoại hối, quản lý hoạt động kinh doanh vàng, ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hợp
lý của người dân và doanh nghiệp được đáp ứng thông qua hệ thống các TCTD.
1.3.1. Đối với tỷ giá bán ngoại tệ
Khi thị trường có biến động thời điểm cuối tháng 2/2013 đầu tháng 3/2013, NHNN đã linh
hoạt trong điều hành tỷ giá thông qua việc điều chỉnh giảm giá bán ra về mức 20.950 VND/USD
từ ngày 5/3/2013 thay vì mức giá trần là 21.036 VND/USD được duy trì từ cuối năm 2011 và sẵn
sàng bán ngoại tệ can thiệp tại mức giá này nếu TCTD có nhu cầu.
Khi sang đến đầu quý II/2013, thị trường đã có những biến động. Cụ thể là, từ cuối tháng
4/2013 đến cuối tháng 6/2013, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã nâng giá USD lên kịch trần

trường ngoại tệ, đi ngược lại thông lệ những năm trước, khi hoạt động bán ra của NHNN thường diễn
ra trong những tháng cuối năm.
Với những ứng biến linh hoạt trong việc mua và bán ngoại tệ mà NHNN đã mua được một
lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, góp phần tăng tiềm lực tài chính và uy tín của
quốc gia, đưa dự trữ ngoại hối từ chỗ chỉ đạt 6 tuần nhập khẩu vào cuối năm 2010, lên 6,5 tuần nhập
khẩu vào cuối năm 2011, đạt được ranh giới an toàn tài chính theo thông lệ quốc tế ( 12 tuần nhập khẩu)
vào cuối năm 2012 và cuối năm 2013. Do tỷ giá ổn định, các tổ chức kinh tế và cá nhân có xu hướng đẩy
mạnh bán ngoại tệ cho các NHTM để lấy VND, dòng kiều hối chuyển về cũng tăng mạnh. Theo dự báo
của Ngân hàng Thế giới, lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2013 đạt khoảng 11 tỷ USD, đứng thứ 9
trong danh sách các nước nhận kiều hối hàng đầu thế giới.
C. Đánh giá chung và những kinh nghiệm học tập của chế độ tỷ giá ở một số nước
I. Nhận xét chung về giai đoạn trên:
20
Sau khi tỷ giá USD/VNĐ được điều chỉnh tăng tới 9,3% đầu năm 2011, đến nay NHNN đã
duy trì tỷ giá hối đoái khá ổn định và thậm chí là không thay đổi tỷ giá trong suốt cả năm 2012. Và
cho đến giữa năm 2013 mới có sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức ở mức 1% đồng thời duy trì
biên độ dao động của tỷ giá giao dịch tại các NHTM là +/-1%. .Ở Việt Nam, chính sách tỷ giá hối đoái
gắn rất chặt với chính sách tiền tệ, thậm chí gần như trở thành một bộ phận không thể tách rời của
chính sách tiền tệ.
Năm 2014 nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái đã định hình trong các năm 2012 -
2013 nhằm tăng tính hấp dẫn của VNĐ và tăng dự trữ ngoại hối, tuân thủ cam kết không điều chỉnh tỷ
giá quá 2%. Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá hối đoái phối hợp chặt chẽ với chính sách quản lý thị
trường vàng theo Nghị định 24, bảo đảm ổn định thị trường, lập lại và củng cố trật tự trên thị trường
vàng và thị trường ngoại hối.
Một số nhược điểm:
• Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay nặng nề về quản lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa , thiếu các
phan tích và đánh giá thường xuyên về tỷ giá hối đoái thực và mức độ tác động đến lạm phát,
xuất khẩu để có chính sách điều chỉnh thích hợp
• Chính sách nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái hiện nay là đúng hướng , tuy nhiên mức độ nới
lỏng quá ít và lộ trình nới lỏng quá chậm chạp.

thay đổi chế độ neo tỷ giá VND với USD hiện nay sang chế độ neo VND với một nhóm tiền tệ bao
gồm USD, NDT, EUR, JPY. Khi đó, tỷ giá VND được phản ánh chính xác hơn và ít bị phụ thuộc
22
riêng vào sự mạnh yếu của USD; tình trạng Đô la hóa thị trường cũng sẽ giảm.Còn thực tế trên thị
trường hiện nay, những diễn biến phức tạp về tiền tệ có thể sẽ dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá đồng nội
tệ so với đồng USD ở một số nền kinh tế, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam cần chú ý những tác
động liên quan.
Theo phân tích của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong thời gian tới, khi đồng nhân dân tệ (NDT) tiếp tục
tăng giá và USD giảm giá tương đối so với đồng NDT, cán cân thương mại của Việt Nam - Trung
Quốc, Việt Nam - Mỹ sẽ vận động theo chiều hướng như sau: thứ nhất, nhập siêu từ Trung Quốc có
thể sẽ giảm nhẹ; thứ hai, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ có thể sẽ tăng nhẹ khi đồng NDT mạnh
hơn do hàng hóa của Trung Quốc vào Mỹ sẽ trở lên đắt đỏ. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, tác động sẽ
chưa thực sự rõ nét vì đồng USD đang trong xu hướng giảm giá khiến hàng hóa nói chung vào Mỹ trở
lên đắt hơn sẽ khiến người dân Mỹ thắt chặt chi tiêu. Hơn nữa, việc đồng USD giảm giá sẽ phần nào
làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ giảm tương đối. Bên cạnh đó, việc đồng
USD tiếp tục xuống giá sẽ có thể tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của khu vực sử dụng đồng
Euro vào thị trường Mỹ, điều đó sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực.
Đánh giá:
Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ chưa tới 20%, trong khi nhập khẩu của Việt Nam từ
Mỹ chỉ chiếm khoảng 4% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu giữa Việt Nam và Mỹ chỉ chiếm 11%, trong khi Trung Quốc là 19%, Nhật Bản là 9,5% và EU là
12,8%.Ngoài ra, cơ cấu đồng tiền trong nợ nước ngoài của Việt Nam cũng đã trở nên đa dạng, không
chỉ phụ thuộc chính vào đồng USD. Các chủ nợ lớn của Việt Nam năm 2012 bao gồm Nhật Bản
(34,5%tổng nợ), WB (28,8%) hay ABD (15,5%). Như vậy, phần lớn nợ nước ngoài của Việt Nam chủ
yếu định giá bằng các động tiền mạnh như JPY, SDR, USD và EUR. Còn nếu tính đến tháng 12/2010,
cơ cấu nợ công nước ngoài Việt Nam là JPY (38,8%), SDR (27,1%),USD (22,2%) và EUR
(9,2%).Việc phụ thuộc lớn vào USD, trong khi thương mại và vay nợ phụ thuộc vào đồng tiền các
nước khác với tỷ trọng cao hơn khiến cho tỷ giá song phương giữa Việt Nam và các nước bạn hàng
lớn bị ảnh hưởng trong quan hệ thương mại và đầu tư, không phản ánh được đúng tương quan kinh tế
giữa Việt Nam và các nước bạn hàng, đặc biệt trong bối cảnh tiền USD trên thị trường thế giới biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status