Phân tích và đánh giá chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2008 – 6 tháng đầu năm 2010 - Pdf 23

Chuyên đề Tài chính quốc tế
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu
như giá cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ
và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không. Theo số liệu
của Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước sự gia tăng rất
nhanh của chỉ số giá tiêu dùng kể từ hơn 10 năm trở lại đây.
CPI được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hàng nghìn hộ gia đình trên
toàn quốc. Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của
các đối tượng lựa chọn để nghiên cứu. Các số liệu này sẽ hình thành lên một bức
tranh về sự biến động của chi phí sinh hoạt từ đó giúp các chuyên gia tài chính
nhận định được khả năng lạm phát có nguy cơ làm suy sụp cả một nền kinh tế nếu
ở lạm phát ở mức độ quá cao. Cả lạm phát và giảm phát quá mức đều rất đáng sợ
mặc dù giảm phát quá mức ít khi xảy ra hơn.
Thay đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp
đến các chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ
có giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán.
Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì
chúng là các khoản tiền trả cố định.
Bên cạnh đó biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta
thường kì vọng mức độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên
nếu giá cả của các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi
nhuận. Mặt khác giảm phát chắc chắn sẽ dẫn tới giảm mức cầu của người tiêu
dùng. Trong trường hợp này các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được
hàng, tuy nhiên giá cả các yếu tố đầu vào có thể không giảm một lượng tương ứng.
Vì thế biên lợi nhuận của nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà đề
tài: “ Phân tích và đánh giá chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2008
– 6 tháng đầu năm 2010”, nhằm thấy được thực trạng và nguyên nhân tăng giảm
của chỉ số CPI, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì chỉ số này ở một tỷ lệ

chế, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm kính mong có sự cảm thông
và góp ý của cô để hoàn thiện hơn.
2
Chuyên đề Tài chính quốc tế
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 – THỰC TRẠNG CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI) CỦA
VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ SỞ VỀ CPI
1.1 Một số khái niệm cơ sở về chỉ số giá tiêu dùng CPI.
1.1.1 Định nghĩa CPI.
Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, từ các chữ tiếng Anh
Consumer Price Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi
tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì
chỉ số này chỉ dựa vào một số hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng. ( Ví
dụ như: gạo, thịt, cá, hàng may mặc, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước, ...)
1.1.2 Cách tính CPI.
Việc tính toán CPI ở Việt nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm. Quyền
số để tính CPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001.
Quyền số này dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư
Việt nam 1997-1998 và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999. Điều đáng chú ý là
quyền số của nhóm hàng Lương thực - Thực phẩm chiếm tới 47,9% trong khi Văn
hoá - Thể thao - Giải trí chỉ chiếm 3,8%.
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng
hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại
mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng
nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng
bằng công thức sau:

Các nhóm có mức tăng dưới 1% gồm đồ uống và thuốc lá; hàng hóa và dịch
vụ khác, thiết bị và đồ dùng gia đình, may mặc, mũ nón, giày dép, thuốc và dịch
vụ y tế, văn hóa giải trí và du lịch. Riêng nhóm bưu chính viễn thông tiếp tục
nhiều tháng liên tiếp giảm 0,07%.
Nguyên nhân, do giá gạo xuất khẩu thế giới tiếp tục tăng mạnh (nguồn cung
lương thực giảm) trong khi tại các tỉnh phía Nam, các doanh nghiệp xuất khẩu tăng
cường thu mua lúa gạo để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đã “đẩy” giá gạo
trong nước tăng rõ rệt. Mặt khác, giá một loạt các mặt hàng thiết yếu như khí hóa
lỏng, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, sữa tiếp tục tăng giá đã kéo CPI tháng
10 tăng mạnh. Đặc biệt, do ảnh hưởng nặng nề của các đợt thiên tai, lũ lụt ở các
tỉnh miền Trung, giá lương thực, thực phẩm…đã bị tăng đột biến bởi nguồn cung
bị giảm mạnh.
4
Chuyên đề Tài chính quốc tế
Ngoài các yếu tố bất lợi tác động kép đẩy CPI tháng 10 tăng như Tổng cục
Thống kê nhận định, chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá giữa USD và đồng
Việt Nam hiện nay tiếp tục tạo sức ép bất lợi khiến giá cả nhiều nguyên nhiên liệu
đầu vào phục vụ sản xuất và các hàng hóa thiết yếu nhập khẩu phục vụ tiêu dùng
như sữa, thuốc… tăng mạnh.
Thêm vào đó, CPI tháng 10 tăng còn có sự đóng góp đáng kể tăng CPI của
đầu tàu kinh tế Hà Nội (tăng 1,22%, cao hơn mức tăng bình quân cả nước) khi nhu
cầu tiêu dùng tăng mạnh trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.
Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, với diễn biến bất lợi của thiên tai
trên thế giới và ở trong nước, giá lương thực, thực phẩm (nhóm hàng có quyền số
cao nhất trong rổ hàng hóa chung) sẽ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 11, nhất là tại
Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc cũng như miền Trung bởi nguồn cung về thực
phẩm chủ yếu như thịt bò, thủy sản, thịt lợn... sẽ khan hiếm hơn.
5
Chuyên đề Tài chính quốc tế
CHƯƠNG 2 - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CHỈ SỐ GIÁ

0,93%; giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng từ 0,33% đến 0,57%. Đáng
chú ý là chỉ số giá tiêu dùng tăng cao tại các vùng phía Nam với mức từ 4% đến
trên 6% (vùng duyên hải Nam Trung Bộ tăng 4,33%, Tây Nguyên tăng 6,24%,
Đông Nam Bộ tăng 4,5%, đồng bằng sông Cửu Long tăng 5,66%). Tháng 6, có chỉ
số giá tiêu dùng tăng thấp nhất là 2,14%. Nguyên nhân là trong các nhóm hàng hoá
và dịch vụ, giá lương thực tháng 6 năm 2008 tuy tăng thấp hơn nhiều so với mức
6
Chuyên đề Tài chính quốc tế
tăng 22,19% của tháng trước nhưng vẫn là nhóm hàng có mức tăng cao nhất với
4,29%. Các nhóm hàng hoá, dịch vụ có giá tăng thấp hơn mức tăng của tháng
trước gồm: đồ uống và thuốc lá tăng 1,07%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng
0,92%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,4%. Giá nhóm hàng phương tiện đi lại,
bưu điện giữ mức tăng 0,35%, trong đó bưu chính viễn thông giảm 0,1%. Các
nhóm hàng hoá, dịch vụ có giá tăng cao hơn mức tăng của tháng 5/2008 gồm:
Thực phẩm tăng 3,05%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,93%; thiết bị và đồ
dùng gia đình tăng 1,28%; dược phẩm, y tế tăng 0,66%; giáo dục tăng 0,67%; đồ
dùng và dịch vụ khác tăng 0,96%.
Tương tự như năm 2008, sáu tháng đầu năm 2009 cũng không có sự thay
đổi về xu hướng của chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá tiêu dùng này củng luôn tăng
tháng sau cao hơn tháng trước. Đặc biệt trong sáu tháng đầu năm chỉ có tháng 2 là
có sự tăng tỉ lệ giá tiêu dùng cao nhất là 1,17%. Nguyên nhân là nhóm hàng hoá và
dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng trên 1% là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng
1,67% (lương thực tăng 0,82%; thực phẩm tăng 1,72%); nhà ở và vật liệu xây
dựng tăng 1,59%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng dưới 1%
gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,8%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44%;
thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,7%; dược phẩm, y tế tăng 0,36%; giáo dục tăng
0,04%. Tháng 3 năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng 2 là 0,17%.
Nguyên nhân là thức ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,46% (Lương thực tăng 1,27%;
thực phẩm giảm 1,55%); phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,55%; văn hóa, thể
thao, giải trí giảm 0,12%. Giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ: Giáo

8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status