một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động của các công ty chứng khoán tại việt nam - Pdf 24

Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Lời mở đầu
Phát triển thị trờng chứng khoán (TTCK) là việc rất quan trọng và cần
thiết khi nớc ta phát triển một nền kinh tế hàng hoá. Vốn t bản sẽ trở thành hàng
hoá và tất yếu phải có một thị trờng để có thể thực hiện việc trao đổi. Với lịch
sử phát triển hàng trăm năm và đợc tổ chức một cách hết sức chặt chẽ, TTCK từ
lâu nay đã đợc coi là một thể chế tài chính bậc cao và hoàn thiện nhất của nền
kinh tế thị trờng, nếu thiếu nó, nh nhiều chuyên gia kinh tế học vẫn nói, nền
kinh tế thị trờng thiếu tính hoàn hảo. Vai trò cơ bản của thị TTCK đối với nền
kinh tế đợc thể hiện rất rõ bằng việc tạo dựng một kênh huy động vốn hữu hiệu
cho các doanh nghiệp (DN) từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó phải kể đến các
nguồn vốn nớc ngoài.Thực tế hiện nay, nhu cầu vè vốn của các DN rất lớn.
Thống kê từ những thông tin điều tra do các DN cung cấp cho thấy, trong năm
2000, nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của các DN cần khoảng 20 nghìn tỷ
đồng Việt Nam,tính bình quân mỗi DN cần khoảng 84 tỷ đồng. Nếu tính đến
2005 con số này vào khoảng 30 nghìn tỷ đồng,trung bình mỗi DN cần khoảng
100 tỷ đồng. Mặt khác, các DN có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh nhng
huy động vốn lại chủ yếu từ vay vốn ngắn hạn ngân hàng, lợng vốn vay lại
không đợc đáp ứng đầy đủ. Từ những khó khăn đó, TTCH với t cách là kênh
huy động vốn dài hạn sẽ tháo gỡ đợc những khó khăn trên.
Hiện nay, ngoài sự quan trọng và cần thiết, TTCK cũng là vấn đề thời sự,
nóng bỏng trong nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng là vấn đề khá mới mẻ đối với
ngời Việt Nam.Với t cách là một sinh viên-một nhà đầu t tơng lai, em rất quan
tâm tới vấn đề này.Vì vậy, em cũng mạnh dạn viết đề tài Một số giải pháp
thúc đẩy sự hoạt động thị trờng chứng khoán Việt Nam. Do trình độ và thời
gian có hạn, nên không thể tránh đợc những sai sót, em rất mong nhận đợc ý
kiến của cô giáo TS- Lê Thị Anh Vân, ngời đã hớng dẫn em hoàn thành đề tài
này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nội dung
Chơng I. Tổng quan về thị trờng chứng khoán

Thị trờng chứng khoán ở thời kỳ này là thuộc về tầng lớp thơng gia, mang
nhiều tính chất đầu cơ.
Hoạt động của thị trờng chứng khoán dựa trên cơ sở tính chất hiệp hội ngành
nghề với các qui định tự đặt ra.
2. Thời kỳ phục hng (1930-1970).
Thời kỳ này nhà nớc bắt đầu can thiệp vào thị trờng chứng khoán và thị
trờng chứng khoán là nơi chịu ảnh hởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng
Thị tr ờng
chứng khoán
Thị tr ờng vay
nợ dài hạn
TTCK dài hạn
(trên một năm)
TTCK ngắn hạn
(d ới một năm)
Thị tr ờng
tiền tệ
TTCK
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
tài chính.Vì thế mà thị trờng chứng khoán trở thành công cụ trong việc quản lý
thúc đẩy nền kinh tế. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đợc chuyển về
tay Nhà nớc bằng sự ra đời của Uỷ ban Chứng khoán quốc gia.
Vào những năm 50-60 của thế kỷ này, nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi với
sự hoạt động rất sôi động trở lại của thị trờng chứng khoán .
3. Thời kỳ quốc tế hoá và công chúng hoá thị trờng chứng khoán (1971 đến
nay).
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ đã tạo ra việc ứng
dụng công nghệ tin học vào thị trờng chứng khoán .
Những đặc điểm nổi bật là:
Hoạt động của sở giao dịch chứng khoán sôi động hơn và chất lợng cao

vừa có tính tạm thờivà thị trờng chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu cầu
này.
Tóm lại,thị trờng chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhàn
rỗi trong xã hội để đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh
nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp.
1.2. Chức năng điều tiết các nguồn vốn.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa
vốn. Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh.Khi cần
đầu t mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là
lúc mà DN đang thiếu vốn. Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm đợc bán
ra và thu vốn về, các khoản phải thu đợc thu về, lúc này DN lại tạm thời thừa
vốn.
Trên thị trờng vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi
thiếu. ở đây thị trờng chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng.
1.3.Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới.
Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đờng nào mà họ
có thể thu hút một cách dễ dàng thông qua thị trờng chứng khoán. Nhờ vào hệ
thống máy tính mà thị trờng chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế
giới và mua một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích. Từ đó
hình thành mối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồn vốn
giữa các nớc, thực hiện quan hệ vay mợn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho
việc hoà nhập nền kinh tế thế giới.
1.4. Chức năng điều tiết vĩ mô.
Thị trờng chứng khoán là công cụ của Nhà nớc thông qua Uỷ ban chứng
khoán nhà nớc, và Ngân hàng trung ơng.
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu t trên thị trờng. Khi
sản xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nớc tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến
khích sản xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn.
Khi hiện tợng đầu t quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt

trên thị trờng chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiện tại và
dự doán tơng lai. Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng
thái kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của
DN đó. Triển vọng tơng lai của các DN cũng đợc thể hiện một cách trực tiếp
trên thị giá cổ phiếu và cũng nh sự biến động của nó.
Ngoài ra, với phơng pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ
yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cú phân tích một cách khoa học hệ thống
chỉ số giá chứng khoán trên thị trờng chứng khoán ở từng nớc trong mối quan
hệ với thị trờng thế giới, đã dự đoán đợc trớc sự biến động kinh tế của một hoặc
hàng loạt các nớc trên thế giới.
IV. Một số hạn chế của thị trờng chứng khoán
1. Thị trờng chứng khoán là nơi cung cấp sự đầu cơ.
Điểm yếu của thị trờng chứng khoán là giá của các chứng khoán có thể bị
đẩy lên hoặc dìm xuống bởi các thơng gia chứng khoán lớn để nhằm mục đích
kiếm lợi. Các nhà đầu t nhỏ sẽ bị thiệt hại. Ví dụ nh các nhà đầu cơ thờng đa ra
những thông tin lệch lạc làm rối loạn thông tin tới công chúng đầu t từ đó làm
rối loạn mất ổn định quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trờng nhân cơ hội
đó mà kiếm lợi.
Tình trạng đầu cơ có thể dẫn tới sự khan hiếm giả tạo trên thị trờng, làm
cho giá chứng khoán tăng vọt lên so với giá trị thực của nó. Lúc này hàng loạt
chứng khoán này đợc tung ra trên thị trờng nhng giá quá cao nên không có ngời
mua dễ dẫn đến sự sụp đỏ của thị trờng chứng khoán .
2. Thị trờng chứng khoán làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn.
Do sự tập trung t bản làm cho một số ngời ngày càng giàu có, khống chế
nhiều chứng khoán hơn và có thể trở thành cổ đông lớn nhấn chìm những cổ
đông nhỏ khác , dẫn đến khống chế thị trờng, lũng đoạn giá cả và phá hoại sự
ổn định của thị trờng chứng khoán. Trong khi đó nhiều ngời bị thôn tính trở nên
nghèo hơn, gây nên mâu thuẫn xã hội ngày thêm gay gắt.
3. Thị trờng chứng khoán làm cho nền kinh tế dễ mất ổn định.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định, sản xuất trì trệ, thị tr-

Họ là ngời tạo ra hàng hoá cho thị trờng chứng khoán bao gồm Nhà nớc,
các loại hình DN phát hành chứng khoán Hàng hoá chứng khoán có phong
phú hay không là phụ thuộc vào các đơn vị phát hành. Việc khuyến khích một
thi trờng năng động và có hiệu quả không thể thiếu đợc các chính sách khuyến
khích phát triển các DN hoạt động mạnh mẽ và có triển vọng phát triển lớn trên
thị trờng.
5. Các trung gian tài chính (TGTC).
Bao gồm các công ty chứng khoán , các Ngân hàng, các tổ chức tài chính
phi ngân hàngVai trò của chúng là làm chức năng lu chuyển vốn và chứng
khoán từ các nhà đầu t tới những DN phát hành chứng khoán tại thị trờng thứ
cấp. Mặt khác, các TGTC gồm vốn từ dân chúng nhỏ lẻ tạo ra nguồn vốn lớn,
có thời hạn dài để mua chứng khoán từ các nhà phát hành-các DN cần vốn lớn.
Mặt khác, các TGTC cũng là ngời đứng ra bảo lãnh phát hành cho các DN cần
phát hành và đem bán lại cho các nhà đầu t , hay TGTC là bạn hàng của cả hai
bên (nhà đầu t ,DN) trong hoạt động chứng khoán.
Đối với các nhà đầu t , không phải ai cũng có kiến thức và kinh nghiệm
về đầu t chứng khoán. Qua các TGTC họ có thể mua đợc những loại chứng
khoán có chất lợng cao, rủi ro thấp. Đối với các đơn vị phát hành, việc gia nhập
thị trờng chứng khoán thông qua huy động vốn từ thị trờng này đòi hỏi phải sự
t vấn hỗ trợ từ phía các TGTC.
6. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán .
Với sự tham gia đa dạng của các TGTC trên thị trờng chứng khoán, cần
thiết phải có một tổ chức đứng ra định chế, điều hành và giám sát ngoài cơ quan
nhà nớc. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự định chế, có
tính hiệp hội đợc thành lập ở hầu hết các nớc và nhiệm vụ là đặt ra qui định
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
nghề nghiệp bọc các tổ chức TGTC phải tuân theo, cao hơn là bảo vệ các nhà
đầu t. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tập hợp thị trờng, không để tình trạng xé lẻ và
kinh doanh lộn xộn trên thị trờng mà phải theo trình tự, địa điểm, phơng thức về
nghề nghiệp do hiêp hội đặt ra.

đó với giá đa ra đến với ngời mua loại chứng khoán đó với giá đó. Trên thị trờng
có rất nhiều cung và cầu về chứng khoán, nhng để họ gặp nhau ở một mức giá,
với một khối lợng cụ thể là công việc rất khó khăn đối với mỗi cá nhân cần mua
và bán. Để giảm bớt chi phí này, các nhà môi giới là ngời nắm chắc đợc những
ai cần mua và cần bán với số lợng và giá cả cụ thể. Từ đó, họ làm trung gian để
môi giới, liên hệ cho những ngời này gặp nhau và để bù đắp cho việc dàn xếp
này, ngời môi giới chứng khoán đợc hởng một khoản phí hay là hoa hồng trong
môi giới giao dịch.
1.4. Nghiệp vu kinh doanh chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán tiến hành giao dịch mua
bán chứng khoán bằng tài khoản của mình và tự gánh chịu rủi ro. Chỉ có công
ty chứng khoán mới đợc phép thực hiện nghiệp vụ này.
Mục đích của nghiệp vụ này là thu lợi nhuận và làm ổn định thị trờng.
Tại thời điểm thị trờng đang lên cơn sốt về giá chứng khoán, ngoài các biện
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
pháp khác, thì công ty chứng khoán tham gia bán chứng khoán để bình ổn giá
cả, nhằm giảm sự căng thẳng của thị trờng cũng nh để kiếm lời. Trong những
thời điểm suy giảm, giá chứng khoán giảm thì các công ty chứng khoán mua
vào để tăng sự sôi động của thị trờng. Vì vậy công ty chứng khoán là lực lợng
dự bị làm đối trọng với các áp lực thị trờng.
2. Các nghiệp vụ khác liên quan.
2.1. Nghiệp vụ tín thác đầu t chứng khoán.
Đây là việc các cá nhân, tổ chức cùng gom vốn và thành lập một công ty
hoặc dới dạng các quỹ và họ uỷ thác quyền sử dụng vốn cho hội đồng quản trị
công ty tín thác đầu t hoặc uỷ ban quản lý tín thác đầu t. Số lợng vốn góp trên
đợc đầu t vào chứng khoán, lãi và vốn gốc sẽ đợc thanh toán cho các cổ đông
khi kết thúc hợp đồng.
2.2. T vấn đầu t.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, các công ty tài chính
khác. Hoạt động t vấn đầu t là việc cung cấp thông tin, cách thức, đối tợng

khoán và tình hình thị trờng.
Vai trò:
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
+ Cung cấp cho nhà đầu t những thông tin trung thực nhất về tình hình thị
trờng và có các quyết định đầu t đúng đắn.
+ Giúp các cơ quan chứng khoán Nhà nớc xác định đợc các giới hạn biến
động từ đó có thể đa ra các chính sách phù hợp.
+ Giúp các nhà đầu t chứng khoán đối phó với những thay đổi của thị tr-
ờng hiện tại cũng nh trong tơng lai.
3.2. Xác định giá chứng khoán.
Bao gồm việc xác định giá phát hành và giá bán trên thị trờng. Nghiệp vụ
này ảnh hởng đến khả năng hấp đẫn đối với nhà đầu t cũng nh khả năng thu hút
vốn của doanh nghiệp. Đó là việc tính toán yếu tố có lợi nhuận chứng khoán tạo
ra và các yếu tố rủi ro của chứng khoán đó. Ngoài ra, để mua chứng khoán trên
thị trờng, các nhà đầu t, các tổ chức môi giới, kinh doanh và t vấn đầu t chứng
khoán cũng phải xác định đợc mức giá cụ thể mua đợc của loại chứng khoán
đó trên cơ sở đánh giá hiện tại cũng nh tơng lai về giá chứng khoán đó.
Ngoài các nghiệp vụ trên, còn có các nghiệp vụ nh đánh giá rủi ro chứng
khoán, các loại chỉ số khác giúp cho mọi đối tợng có thể tham gia thị trờng
chứng khoán một cách dễ dàng nhất.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Chơng II
Thực trạng của thị trờng chứng khoán việt nam
I. sự cần thiết của thị trờng chứng khoán Việt Nam
1. Nền kinh tế Việt Nam hơn 10 năm đổi mới.
Chủ trơng của Đảng và Nhà Nớc ta đã đề ra trong Đại hội VI là phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Từ những thành tựu đã
đạt đợc của công cuộc đổi mới nền kinh tế hơn 10 năm qua đã chứng tỏ chủ tr-
ơng trên là hoàn toàn đúng đắn.

chế nhiều. Một xu hớng khá phổ biến là huy động vốn trong nội bộ DN thông
qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Theo thống kê, trong năm 2000, nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của
các DN cần khoảng 20 nghìn tỷ đồng Việt Nam, tính bình quân mỗi DN cần
khoảng 84 tỷ đồng. Nếu tính đến 2005 con số này vào khoảng 30 nghìn tỷ
đồng, trung bình mỗi DN cần khoảng 100 tỷ đồng. Tóm lại, nhu cầu về vốn
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
trung hạn, dài hạn của các DN là rất lớn. Với những khó khăn về lãi suất cao,
khó khăn về thủ tục và điều kiện vay vốn, nếu DN chỉ huy động vốn từ các
NHTM nh hiện nay thì chắc chắn không thể đáp ứng đợc nhu cầu về vốn hiện
nay của các DN. Vậy cần thiết phải có một thị trờng chứng khoán có tổ chức và
đợc quản lý chặt chẽ để tạo kênh huy động vốn trung hạn, dài hạn rất lớn cho
các DN, đặc biệt là những DN có nhu cầu về vốn lớn. Mặt khác, theo các tài
liệu cho biết thì các nguồn vốn trong dân là không nhỏ, (trên 20 000 tỷ Đồng-
TBKT 40/97). Số vốn này chủ yếu là để gửi tiết kiệm hoặc tích trữ còn để đầu t
là rất thấp. Vậy nếu có thị trờng chứng khoán sẽ kích thích dân chúng có ý thức
tiết kiệm, đầu t sinh lợi từ những khoản này.
3. Thị trờng chứng khoán là sự đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nớc ta.
Thứ nhất, thị trờng chứng khoán góp phần giải quyết bài toán về sự thiếu
vốn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc. Nh trên, thị trờng chứng khoán có thể
đáp ứng đợc những nguồn vốn trung hạn, dài hạn rất lớn cho các DN. Việc hình
thành và phát triển thị trờng chứng khoán sẽ giúp Nhà nớc ta có đợc một công
cụ để phát huy nội lực đồng thời giúp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Thứ hai, sự phát triển thị trờng chứng khoán là tất yếu khách quan khi n-
ớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng, vì cho phép các chủ thể kinh tế mở rộng
quyền tự chủ tài chính với các hình thức huy động vốn da dạng.
Nh vậy, việc thiết lập thị trờng chứng khoán ở Việt Nam là hết sức cần
thiết, nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc huy động vốn đầu t phát triển
kinh tế xã hội và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng vốn ở trong và
ngoài nớc lu chuyển thông suốt, góp phần tích cực vào việc đáp ứng nhu cầu về

thị trờng chứng khoán Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng và căn bản đối
với quá trình xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán ở nớc ta.
Thứ sáu, chế độ kế toán DN mới đợc sửa đổi và ban hành, áp dụng gần
gũi hơn đối với các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó hệ thống kiểm toán, kể cả
kiểm toán Nhà nớc, phi Nhà nớc, kiểm toán nớc ngoài đã đợc hình thành và
phát triển. Đây cũng là những mắt xích, đầu mối quan trọngkhông thể thiếu đợc
trong quá trình hình thành và phát triển chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Thứ bảy, hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông ở nớc ta đang trên đà
phát triển mạnh. Chiến lợc tăng tốc độ Bu điện là điều kiện hỗ trợ quan trọng để
hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán. Có thể nói, trình độ và năng lực
của ngành tin học Việt Nam đã đủ khả năng tham gia vào tham gia vào việc xây
dựng các chơng trình của hệ thống giao dịch điện tử thị trờng chứng khoán.
Cuối cùng, một yếu tố thuận lợi khác quan trọng đó là Việt Nam là nớc
phát triển sau nên có thể tranh thủ học hỏi kinh nghiệm các nớc đi trớc. Nhờ
chính sách kinh tế mở cửa, hội nhập với bên ngoài, làm cho quan hệ kinh tế
trong nớc cũng nh quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng thu đợc những kết quả
rất đáng khích lệ. Bên cạnh đó, cũng có sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quả của
các quốc gia, các tổ chức quốc tế. Những yếu tố này đã có những tác động tích
cực đến việc hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán ở nớc ta.
2. Những khó khăn và thách thức.
Đã nói đến thị trờng thì phải nói đến hàng hoá cho thị trờng đó. Song,
trên thực tế hàng hoá thị trờng chứng khoán Việt Nam còn nghèo nàn về số lợng
và chủng loại, những công ty cổ phần đủ điều kiện tham gia niêm yết tại trung
tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) còn hạn chế.
Hiện nay, có khoảng 43 công ty cổ phần có đủ điều kiện niêm yết chứng
khoán trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Nếu so sánh với tổng số công ty
cổ phần hiện có (tính đến thời điểm 19/7/2000 là khoảng 630 công ty) thì con
số này khá khiêm tốn (chiếm khoảng 6 %). Trên thực tế rất ít các công ty đã
niêm yết chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh
tính đến cuối tháng 9/2000, mới chỉ có 4 công ty tham gia niêm yết.

để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu t. Điều này không hề đơn giản, vì đi kèm
với nó cần phải phát triển hạ tầng kỹ thuật thông tin hiện đại, đòi hỏi chi phí
không nhỏ, khó có thể đáp ứng trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay.
Thứ ba, Nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách u đãi, nh các công ty
chứng khoán , các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đợc miễn thuế thu
nhập DN thêm một năm và đợc giảm 50 % trong 2 năm tiếp theo. Tuy nhiên
những u đãi này vẫn không thể hạn chế đợc những thua lỗ của họ.
Thứ t, khi thành lập thị trờng chứng khoán, mong muốn của các nhà quản
lý là mở rộng kênh huy động vốn dài hạn cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, qua
3 tháng hoạt động mới chỉ có 4 công ty niêm yết. Một số công ty cha niêm yết
khi đợc hỏi lý do đều trả lời rằng, nếu có nhu cầu vốn thì vay vốn của Ngân
hàng rẻ hơn.
Qua phân tích những mâu thuẫn trên để thấy rằng con đờng ổn định và
phát triển thị trờng chứng khoán theo đúng nghĩa của nó là không hề bằng
phẳng.
III. Những điều kiện cần thiết để hình thành thị trờng chứng
khoán Việt Nam
1. Điều kiện kinh tế.
Đây là nền tảng đảm bảo cho thị trờng chứng khoán hoạt động và đợc
quyết định lớn bởi các chính sách kinh tế của Nhà nớc. Hiến pháp 1992 xác
định Nhà nớc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các hình thức đa dạng dựa trên chế
độ sở hũ toàn dân, sở hữu tập thể và t nhân.
Hiện nay Việt Nam có khoảng hàng nghìn DN các loại, cá khoảng 700
DN đã đợc cổ phần hoá. Trong những DN đã cổ phần hoá có rất nhiều DN có
khả năng phát hành và niêm yết trên thị trờng chứng khoán.
Với một nền kinh tế tăng trởng nhanh, phát triển ổn định và với hệ thống
tiền tệ tỷ giá ổn định, hệ thống thị trờng vốn ngắn hạn đã đợc thiết lập và hoạt
động trôi chảy sẽ góp phần lớn cho thị trờng chứng khoán với t cách là thị trờng

phát triển các nhà đầu t cá tổ chức. Đây là các chủ thể chiếm tỷ trọng lớn trong
việc phát triển cầu thị trờng.
IV. Quá trình chuẩn bị cho sự phát triển thị trờng chứng khoán
Việt Nam
1. Khuôn khổ pháp lý.
Đầu năm 1990, việc nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và phân tích các
điều kiện ra đời cho thị trờng chứng khoán Việt Nam đã đợc thực hiện. Trên cơ
sở đó một số bản đề án hình thành thị trờng chứng khoán Việt Nam đã đợc xây
dựng và trình Chính phủ xem xét. Năm 1994 ban chỉ đạo soạn thảo pháp lệnh
về thị trờng chứng khoán bao gồm đại diện của Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà n-
ớc, Bộ t phápđã đợc thành lập để thống nhất đầu mối, triển khai xây dựng đề
án về thị trờng chứng khoán và soạn thảo một số văn bản pháp qui liên quan.
1.1. Thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc (UBCKNN)
UBCKNN đợc thành lập từ ngày 28/11/1996, là cơ quan thuộc Chính phủ,
có chức năng tổ chức và quản lý Nhà nớc về chứng khoán và thị trờng chứng
khoán.
Nhiệm vụ của UBCKNN:
Xây dựng hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Tổ chức xây dựng, phát triển thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Cấp, đình chỉ hay thu hồi giấy phếp hoạt động của các định chế tài chính
hoạt động trên thị trờng chứng khoán.
Tổ chức giáo dục, đào tạo và cấp chứng chỉ cho mọi đối tợng tham gia thị tr-
ờng chứng khoán.
UBCKNN có trụ sở đặt tại Hà Nội và một cơ quan đại diện tại Tp Hồ Chí
Minh .
Sơ đồ: Tổ chức bộ máy UBCKNN Việt Nam

Sơ đồ: TTCK Việt Nam và các tổ chức liên hệ.
Các uỷ viên kiểm nhiệm

nghiệp
Quỹ
đầu t
Quỹ
bảo
hiểm
Quỹ t
ơng
hỗ
Kho
bạc
Nhà n
ớc
Chính
quyền
địa ph
ơng
Trung tâm thông tin
- Thông tin
- Thanh toán
- Quản lý chứng khoán
Trung tâm giao dịch
chứng khoán
Tp Hồ Chí Minh
Công ty kiểm
toán
*******
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Nghị định 48/1998 NĐ-CP là khung pháp lý cơ bản đầu tiên về thị trờng
chứng khoán Việt Nam, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nớc ta trong việc

UBCKNN
Phát
hành
CP
Lần
đầu
tiên
Các
điều
kiện
phát
hành
CP
Lần PH
Thêm
tổng
giá trị
CP đang
l u hành
Giá trị
CPPH
tổng
giá trị
CP đang
l u hành
Các
điều
kiện để
tổ chức
sử

Cấp phép(45 ngày)
Trừ Tp Chính phủ
(1) (2)
(3)
(4)
(5) (6) (7)
(8) (8)
(8)
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Về quy mô thị trờng giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh đợc tổ chức
khá khiêm tốn, phù hợp với chức năng , vai trò của nó trong giai đoạn đầu.
Về cơ cấu tổ chức:
Tất cả có hơn 80 các bộ công nhân viên làm việc tại trung tâm giao dịch
chứng khoán.
Về chức năng: đây là thị trờng tập trung của các chứng khoán niêm yết đ-
ợc phát hành ra công chúng. Các chức năng là: quản lý, điều hành và giám sát
các hoạt động giao dịch nhằm đảm bảo cho thị trờng chứng khoán hoạt động
giao dịch an toàn công khai, công bằng và hiệu quả bảo vệ quyền lợi của nhà
đầu t.
Hệ thống giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán là hệ thống giao
dịch tự động có khả năng xử lý 300 000 lệnh giao dịch/ ngày, với trang thiết bị
và bảng điện tử tiêu chuẩn. Hệ thống này cho phép tiến hành theo hai phơng
thức: (1) Khớp lệnh định kỳ và (2) thoả thuận (áp dụng riêng cho các giao dịch
với khối lợng lớn).
Về tầm quan trọng trung tâm giao dịch chứng khoán là tiền đề cho việc
thành lập sở giao dich chứng khoán Việt Nam và cũng là bớc tất yếu trong giai
đoạn đầu hình thành thị trờng chứng khoán Việt Nam. Theo kinh nghiệm của
các nớc trên thế giới việc thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ rút
ngắn đợc thời gian chuẩn bị các điều kiện vật chất tiền đề, con ngời và khung
pháp lý cho việc thử nghiệm thành lập thị trờng chứng khoán ở Việt Nam.

Quản

giao
dịch
Giám
sát
thị tr
ờng
Đăng ký l u
ký thanh
toán bù trừ
Công
nghệ
tin
học
Nghiên
cứu thông
tin thị tr
ờng
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
khoảng 3000-4000 tỷ đồng trong năm 1999, với thời hạn 5 năm, in mệnh giá,
không ghi tên có thể chuyển nhợng và dễ dàng thanh toán.
- Về lãi suất phát hành có xu hớng giảm và phù hợp với lãi suất của các
NHTM.
Bảng: lãi suất tín phiếu, trái phiếu bán lể qua hệ thống kho bạc.
Nguồn: kho bạc Nhà nớc. Đơn vị: %
1991 1992 1993-1994 1995 1996 1997 1998
4-5 % 3 % 2% 1,75 % 1,4 % 1 % 0,97 %
b) Cổ phiếu và cổ phần hoá doanh nghiêp Nhà nớc.
Theo luật công ty và luật DNNN Việt Nam thì chỉ có công ty cổ phần và

the counter). Thị trờng này đợc hình thành và phát triển một cách tự phát từ
nhiều năm nay, và giao dịch các loại chứng khoán cha niêm yết. Mặc dù thị tr-
ờng OTC là sân chơi khá phù hợp và hiệu quả đối với các DN Việt Nam, nhng
chính phủ ta vẫn cha có khuôn khổ pháp lý cho loại hình thị trờng này hoạt
động.
Thị trờng thứ cấp hay thị trờng giao dịch tập trung tại trung tâm giao dịch
chứng khoán, giao dịch các loại chứng khoán dã niêm yết. Về cơ cấu tổ chức
của thị trờng chứng khoán tập trung thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể ở mỗi nớc
mà có những đăc điểm khác nhau. Đối với nớc ta, trong giai đoạn đầu hoạt
động, cơ cấu tổ chức bao gồm:
Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc (UBCKNN).
Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK).
Hệ thống các công ty chứng khoán (CtyCK) và hiệp hội những nhà
kinh doanh chứng khoán.
Các quỹ đầu t chứng khoán.
Các tổ chức nghiên cứu và t vấn về chứng khoán.
Các cơ quan kiểm toán độc lập.
Các tổ phụ trách về thông tin trên thị trờng chứng khoán.
1. Hoàn thiện trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh.
Trung tâm giao dịch chứng khoán là bớc phát triển tất yếu trong giai đoạn
đầu hình thành thị trờng chứng khoán Việt Nam và cũng là tiền đề cho việc
thành lập sở giao dịch chứng khoán Việt Nam (SGDCK). Sỡ dĩ Việt Nam cha
thành lập SGDCK là vì cơ chế vận hành của nó phức tạp bao gồm từ khâu đăng
ký, niêm yết, giao dịch, thanh toán bù trừ và lu ký chứng khoán đòi hỏi phải
tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt,và cần có cơ sở hạ tầng tốt, trong đó
bao gồm các yếu tố: cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, con ngời và khung pháp
lý hoàn chỉnh đáp ứng đợc yêu cầu trong quá trình vận hành.
Về thực chất, trung tâm giao dịch chứng khoán hoạt động nh một
SGDCK thu nhỏ, có hình thức thích hợp hơn đối với giai đoạn đầu phát triển thị
trờng chứng khoán ở nớc ta hiện nay. Và vì vậy hoạt động của TTGDCK cũng

hợp đồng hợp tác liên doanh. Do là nghiệp vụ mới mẻ ở nớc ta nên muốn hoạt
động có hiệu quả nên dựa vào các tổ chức sẵn có nh các công ty Bảo hiểm, các
công ty tài chính
Các công ty kiểm toán: Mặc dù không trực tiếp thuộc cơ cấu tổ chức bộ
máy TTCK, nhng lại rất cần thiết cho hoạt động của TTCK. Ví dụ một công ty
kiểm toán ở Việt Nam (Vaco) hoạt động với nội dung: t vấn giúp các DN chấp
hành đúng các quy chế hành chính, kế toán, thực hiện đúng nghĩa vụ đối với
Nhà nớc, kiểm định hợp pháp của một số tài liệu, số liệu tài chính, xác nhận các
báo quyết toán.
Ngoài ra, cần hoàn thiện các tổ chức nghiên cứu, các hoạt động t vấn, các
tổ chức phân bổ thông tinnhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức cho TTCK hoạt
động có hiệu quả.
II. Hoàn thiện cơ chế tổ chức vận hành thị trờng chứng khoán
hiện nay ở nớc ta.
Hơn 5 năm nỗ lực và quyết tâm chuẩn bị tạo dựng những vấn đề cần thiết
cho TTCK Việt Nam ra đời. Một kênh huy động dẫn vốn cho đầu t phát triển
kinh tế đất nớc, đã hiện diện. Dù sao thì đó cũng chỉ là một cỗ máy, còn sự vận
hành, công năng của nó đạt tới hiệu quả ra sao, thì đó còn là vấn đề lớn.
1. Về các giao dịch chứng khoán phi tập trung.
Hiện nay cơ chế vận hành này cha đợc chú ý đúng mức ở nớc ta. Mà ta đã
biết TTCK phi tập trung (OTC) là rất cần thiết cho điều kiện ban đầu của nền
kinh tế Việt Nam hiện nay. Lý do:
Thứ nhất, theo quy định hiện nay, tổ chức phát hành phải đáp ứng một số
điều kiện nhất định nh vốn điều lệ hơn 10 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh có lãi
trong hai năm liền gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành Trên
thực tế nhiều Dn không đáp ứng đợc các điều kiện trên vẫn có nhu cầu trao đổi
vốn, do đó cần phải có một thị trờng để giao dịch những loại chứng khoán này.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Thứ hai, có nhiều DN đã có đủ các điều kiện trên, nhng có thể có nhiều
lý do mà họ cha thể niêm yết chứng khoán, nhng chắc chắn đã hình thành nhu

chuyên gia cho rằng, nếu không sớm có giải pháp tạo thêm hàng hoá có chất
lợng cao đáp ứng nhu cầu thị trờng thì thị trờng chứng khoán không những
không đảm đơng đợc vai trò là kênh huy động vốn cho nền kinh tế mà có thể
gây ra những đổ vỡ trong đầu t.
Nhìn lại các kênh cung cấp hàng hoá trong thời gian qua, thấy loại hàng
hoá mà Nhà nớc có thể phát hành đợc là TP Chính phủ thì lại không làm tốt,
còn loại hàng hoá không thể ép buộc niêm yết (cổ phiếu) thì lại thiếu cơ chế
khuyến khích đa vào thị trờng chứng khoán.
Trên thực tế, hàng hoá chủ đạo dự kiến trên thị trờng chứng khoán đã
không thực hiện đợc, còn trái phiếu công trình, trái phiếu công ty thì cha thấy
xuất hiện trên thị trờng chứng khoán. Về phần các DN, ý kiến chung là họ cha
thực sự cần vốn trong bối cảnh hiện nay, nếu cần thì đi vay Ngân hàng là giải
pháp tiện lợi hơn.
Về nguyên nhân làm cho thị trờng chứng khoán kém sôi động, cung ít
hơn cầu là xuất phát từ hai phía:
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Thứ nhất, là từ phía các DN e ngại công khai tài chính vẫn còn nặng nề.
Việc chờ đợi hoạt động của thị trờng chứng khoán có thực đem lại hiệu quả hay
không hay cũng có thể cha có điều kiện niêm yết đã khiến cho quá trình tham
gia thị trờng chứng khoán của các công ty bị chững lại.
Thứ hai, là từ phía cơ quan chuyên ngành, nếu vẫn còn giữ nguyên các
điều kiện niêm yết chắc chắn sẽ làm cho sự kém sôi động ở thị trờng chứng
khoán tập trung mà nổi lên có thể là sự sôi động của thị trờng OTC.
2. Các giải pháp tạo hàng hoá cho thị trờng chứng khoán.
Nổi bật sau những phiên giao dịch chứng khoán thời gian qua là vấn đề
cung và cầu trên thị trờng. Có lúc cầu vợt để đẩy giá cổ phiếu lên cao, cũng có
lúc cung vợt làm gía cổ phiếu đi xuống. Xét cho cùng, cả hai trờng hợp đều do
thiếu hàng hoá hạn chế khả năng lựa chọn cho các nhà đầu t.
Thực tế, đã có rất nhiều giải pháp đợc đa ra để tăng cung nh tăng thêm
các công ty niêm yết, bán bớt số cổ phần Nhà nớc đang nắm giữ tuy nhiên,

chứng khoán niêm yết và chứng khoán giao dịch. Chứng khoán giao dịch là loại
chứng khoán không niêm yết đợc ghi danh để giao dịch mua bán tại một khu
riêng của TTGDCK.
Đề án môn học Thị trờng chứng khoán
Mục đích của giải pháp này là tạo ra khả năng thanh khoản cho mọi đồng
vốn đầu t chứng khoán, tức là khả năng chuyển chứng khoán thành tiền và ngợc
lại cho nhà đầu t.
Sự khác nhau căn bản giữa chứng khoán niêm yết và chứng khoán giao
dịch là ở quy mô và tính đại chúng của công ty phát hành, tính khả mại và sự an
toàn của loại chứng khoán. Vậy Nhà nớc cần có chính sách u đãi đối với chứng
khoán niêm yết, nh miễn hoặc giảm các loại thuế và chế độ thông tin thị trờng
để khuyến khích phát triển loại chứng khoán này.
Vậy giải pháp cụ thể là buộc loại chứng khoán đủ tiêu chuẩn phải niêm
yết, còn loại không đạt tiêu chuẩn thì phải đăng ký để giao dịch tại khu vc
chứng khoán không niêm yết tạo khả năng thanh khoản cho vốn đầu t, từ đó
khuyến khích đầu t, cũng nh hình thành mối liên hệ có trách nhiệm giữa công ty
cổ phần, thị trờng chứng khoán với nhà đầu t thông qua chế độ thông tin và giao
dich. Mặt khác, sự ép buộc này giúp nhà đầu t hiểu biết đúng đắn về công ty
thông qua sự đánh giá của công chúng (thị trờng) thể hiện ở giá cả chứng
khoán. Cuối cùng, bảo đảm sự phát triển của thị trờng thông qua việc gia tăng
liên tục nguồn cung ứng chứng khoán. Bên cạnh hai loại chứng khoán trên,
TTGDCK còn có loại chứng khoán phát hành mới. Các chứng khoán này sẽ
thông qua các công ty chứng khoán, đại lý phát hành đem chứng khoán vào bán
tại TTGDCK thông qua đấu giá tập trung để xác định giá bán cổ phần, xác định
lãi suất trái phiếu và phân phát cho những cá nhân, tổ chức trúng thầu.
IV. Giải pháp tạo nguồn nhân lực, nâng cao sự hiểu biết của
công chúng.
Khi thị trờng chứng khoán đi vào hoạt động đòi hỏi phải có một đội ngũ
đông đảo cán bộ có năng lực làm việc với thị trờng chứng khoán, phải có dân trí
cao cũng nh thói quen đầu t của dân chúng.

đại chúng nh báo chí, tạp chí, phát thanh, truyền hình cho họ tự nguyện đến
với TTCK.
Ngoài ra còn rất nhiều phơng pháp nữa. Nhiều DN đề nghị tổ chức các
buổi báo cáo chuyên đề, mời các chuyên gia của UBCKNN đến nói chuyện
cũng nh giới thiệu các văn bản pháp lý về chứng khoán và PHCK hiện có ở Việt
Nam.
V. Xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị trờng chứng khoán.
Để đáp ứng yêu cầu vận hành của TTCK cần:
- Hoàn thiện và thực hiẹn các đề án, trang thiết bị hệ thống máy tính cho
TTGDCK .
- Tăng cờng hơn nữa cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống ngân hàng.
Hiện nay, những điều kiện trên ở Việt Nam còn mỏng và cha đủ hiện đại
cho sự vận hành TTCK ở trình độ cao, cũng nh cha thể đáp ứng hay xử lý kịp
thông tin cho TTCK trong giai đoạn tới.
Vì vậy trong thời gian tới cần:
Đầu t xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ tự động trên phạm vi cả n-
ớc, khai thác triệt để mạng lới viễn thông, bu điện hiện có để liên kết thị trờng
vốn trong nớc thành một thị trờng thông suốt và tiến tới nối mạng với hệ thống
thanh toán quốc tế.
Củng cố hoàn thiện trung tâm tin học ứng dụng của NHNN, để cung
cấp thông tin về tình hình tài chính DN làm chỗ dựa cho hoạt động kinh doanh
trên TTCK của NHTM, các tổ chức trung gian khác.
Xây dựng các trung tâm tin học mạnh đủ sức lu trữ, cập nhật và xử lý
dữ liệu, thông tin đáp ứng mọi yêu cầu nghiệp vụ của hệ thống NH và TTCK.
VI. Giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô.
Đây là giải tầm vĩ mô của nhà nớc, nhiệm vụ là ổn định giá cả, kiềm chế
lạm phátgóp phần ổn định kinh tế.
Đối với việc xây dựng một TTCK phát triển cao, Nhà nớc giữ vai trò
quyết định. Đặc biệt là việc quản lý, tạo điều kiện, khuyến khích cho thị trờng
phát triển theo đúng đờng lối của Đảng và Chính phủ.

nghiệp tham gia vào lĩnh vực chứng khoán và hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Qua điều tra các doanh nghiệp đều e ngại hoạt động ban đầu của các
công ty niêm yết và cônh ty chứng khoán sẽ gặp phải khó khăn. Cụ thể:
Các chính sách kích cung cổ phiếu: giảm thuế thu nhập đối với công ty
niêm yết, cho phép trả chậm thuế, miễn giảm phí niêm yết cho các công ty niêm
yết. Đây là việc rất cần làm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi lợng hàng hoá
trên thị trờng Việt Nam còn rất nghèo nàn.
Các chính sách kích cầu: miễn thuế thu nhập đối với nhà đầu t cá nhân.
Chính sách cổ tức cố định đối với các nhà đầu t cá nhân trong những công ty có
vốn của Nhà nớc.
Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh
doanh chứng khoán nh miễn giảm thuế, hỗ trợ vốn trong việc thành lập công
ty chứng khoán và hoạt động của các công ty chứng khoán.
Các biện pháp bảo vệ công chúng đầu t:
- Khống chế giá trần tối đa (trong giai đoạn hiện nay).
- Cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin cần thiết cho công chúng đầu
t.
- Tăng cờng công tác kiểm tra, giám sát các công ty chứng khoán thành
viên.
- Thờng xuyên theo giõi hoạt động giao dịch trên thị trờng nhằm phát
hiện và xử lý kịp thời các hành vi sai phạm.
3. Tăng cờng công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo, phổ biến kiến
thức về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Trên thực tế, việc thiếu hiểu biết về chứng khoán và thị trờng chứng
khoán trong xã hội là rất phổ biến. Nhu cầu đào tạo kiến thức về chứng khoán
và thị trờng chứng khoán cũng rất lớn, trong khi việc phối hợp triển khai tuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status