1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Ở nhà trường THPT, môn văn học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành
nhân cách và những phẩm chất tư duy cho học sinh, góp phần đáp ứng những yêu cầu của
thời đại trong mục tiêu đào tạo con người. Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội,
môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho người
học. Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ vị trí, đặc
trưng của bộ môn trong mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động
tích cực tới các môn học khác và ngược lại. Để có được một học sinh yêu thích, đam mê
và thật sự giỏi văn chương là một việc không dễ. Bồi dưỡng nhân tài nói chung, đào tạo
học sinh giỏi văn nói riêng là công việc vô cùng quan trọng và thiêng liêng của người
giáo viên dạy văn trong nhà trường hiện nay. Công việc ấy, đòi hỏi tâm huyết, trách
nhiệm và phụ thuộc nhiều ở kinh nghiệm phát hiện, lựa chọn và năng lực giảng dạy của
người giáo viên dạy văn. Học sinh giỏi văn chính là nguồn nhân lực tương lai của các
ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đào tạo học sinh giỏi văn đúng nghĩa là công việc vô
cùng khó, việc phát hiện học sinh giỏi, có thiên bẩm văn chương càng không phải chuyện
dễ trong ngày một ngày hai. Có người ví rằng:“chuyện ngưòi thầy phát hiện học sinh giỏi
văn chẳng khác công việc của người trồng hoa, chơi cây cảnh”. Bông hoa đẹp bởi bàn
tay chăm sóc, tỉa tót, uốn nắn của người trồng. Quan trọng hơn, đôi mắt của người trồng
phải thấy được thế cây, kiểu dáng, biết chọn dáng đẹp, biết làm cho hoa khoe sắc rực rỡ
đúng kì. Nói như thế cho thấy công việc phát hiện , bồi dưỡng học sinh giỏi văn là một kì
công của người thầy dạy văn.
Hằng năm, qua các kỳ thi học sinh giỏi Thành phố, tổ văn chúng tôi ngày càng gặt
hái được những thành công đáng kể. Song đáng tiếc là số học sinh tham gia thi và đạt giải
môn văn có năm còn khiêm tốn. Điều này có nguyên nhân từ cả hai phía. Trước hết là từ
phía người thầy. Do phải bám sát việc thực hiện theo phân phối chương trình, người thầy
Từ những vấn đề trên, trong phạm vi giới hạn bài viết mang tính chất “trao đổi kinh
nghiệm cá nhân”, tôi chỉ đề cập đến vấn đề: “ Thực trạng bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn
và những giải pháp để phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn đạt hiệu quả” .
Đó là lí do vì sao tôi chọn đề tài này.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm phát hiện, xây dựng và bồi dưỡng đội HSG bộ môn cấp trường, tạo điều kiện
để học sinh phát huy năng khiếu cảm thụ và tạo lập tốt một văn bản nghị luận văn học và
xã hội. Góp phần đẩy mạnh phong trào học tập tốt bộ môn trong nhà trường, phát triển
năng lực trí tuệ, giáo dục tư tưởng tình cảm thẫm mĩ cho học sinh. 3
- Nhằm có định hướng cho việc chọn ngành, chọn nghề, tạo điều kiện tốt để học sinh
tiếp tục học chuyên sâu ở ngành học, bậc học cao hơn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chúng tôi chỉ khảo sát đối tượng là những học sinh đã được
chọn vào đội học sinh giỏi văn cấp trường trong những năm học qua (chủ yếu từ năm học
2009 - 2010 đến nay). Các văn bản, các vấn đề văn học thuộc chương trình lớp10,11,12
sách giáo khoa mới của BGD – ĐT
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung làm rõ vấn đề cách phát hiện, lựa chọn và bồi
dưỡng học sinh giỏi văn để đạt kết quả. Đồng thời đưa ra những giải pháp trước mắt và
lâu dài cho công tác bồi dưỡng HSG ở trường THPT Nguyễn Việt Dũng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài tập trung đi sâu làm rõ vấn đề quan niệm về học sinh giỏi bộ môn văn,
những phương cách phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi và bồi dưỡng học sinh giỏi. Qua
việc nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học văn theo phương pháp đổi
mới.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở thực tế công việc phát hiện, lựa chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi trong những
năm qua, đề tài vận dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh trên số liệu đạt
hợp. Bồi dưỡng năng lực văn học là nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn trong nhà
trường. Không có những học sinh giỏi, có năng khiếu văn, dẫu thầy có tài giỏi mấy cũng
khó đạt được điều mình mong muốn.
Theo quan niệm của tôi: Một học sinh giỏi văn phải đáp ứng được điều kiện cần và
đủ những tố chất sau:
+ Có niềm say mê, yêu thích văn chương.
+ Có tư chất bẩm sinh như tiếp thu nhanh, có tri nhớ bền vững, có khả năng phát
hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới trong bài làm).
+ Có vốn tri thức về tác phẩm văn học phong phú và hệ thống; có sự hiểu biết về con
người và xã hội.
+ Giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề của cuộc sống.
+ Có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào.
+ Nắm chắc các kỹ năng làm bài nghị luận
Môn văn là một loại hình nghệ thuật có nhiều đặc điểm chung và riêng. Đặc trưng
riêng nổi bật nhất của bộ môn nghệ thuật này là tính phong phú đa dạng của hình tượng
nghệ thuật. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể đa nghĩa, quá trình tiếp nhận và thể hiện đòi
hỏi sự sáng tạo. Trong công việc giảng dạy của giáo viên và tập viết văn của học sinh
nhất nhất không tuân theo kiểu mẫu có sẵn. Người dạy luôn thay đổi cách dạy, sáng tạo
trong từng tác phẩm. Người viết phải sáng tạo trong cách thể hiện. Song sự sáng tạo đó 5
phải dựa trên cơ sở kiến thức lí luận. Ngoài kiến thức tích luỹ được, cần có phương pháp
viết văn, năng lực quan sát, tái hiện, phân tích, tổng hợp, lập luận…
Cần nhận thức đúng đắn bộ môn văn học không chỉ là môn lý thuyết “nói nhiều hơn
làm”, dạy HSG văn không chỉ trang bị kiến thức suông, thiên về thuyết giảng sẽ làm mất
khả năng cảm và hứng để viết văn. Người dạy cần bồi dưỡng kĩ năng thực hành, luyện
tập viết văn, sáng tác… Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói:“Dạy làm văn là chủ yếu
là dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành,
sáng tỏ chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” ( Dạy văn là một quá trình rèn
đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
+ Sự đồng thuận của tập thể tổ bộ môn là điều kiện tốt đem lại kết quả cao trong công
tác phát hiện và bồi dưỡng HSG.
b. Khó khăn:
- Trường PTTH Nguyễn Việt Dũng mới thành lập từ năm học 2007 – 2008, đây là
trường THPT đầu tiên trên địa bàn quận Cái Răng. Phần lớn giáo viên của trường nói
chung và giáo viên của tổ Văn nói riêng là giáo viên trẻ nên bề dày giảng dạy chưa cao,
trường đóng trên địa bàn không mấy thuận lợi so với các trường trong thành phố.
- Tổ Văn và nhà trường chỉ chủ trương và có kế hoạch tổ chức thi tuyển chọn HSG khi
các em học lớp 12. Tổ chưa có kế hoạch bồi dưỡng HSG ngay từ khi các em học lớp 10
và lớp 11. Thời gian dành cho một đợt bồi dưỡng còn ngắn và đôi khi quá cập rập.
- Chất lượng tuyển chọn đầu vào và tinh thần học tập, sự quan tâm của học sinh về môn
Văn chưa cao. Học sinh tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi văn ít hơn so với đội tuyển
các môn Tự nhiên. Nhiều học sinh giỏi lại có ý thức coi nhẹ môn Văn, có những học sinh
không được chọn vào đội tuyển các môn Tự nhiên, môn Anh văn mới chịu vào đội tuyển
Văn.
- Xu hướng chọn nghề thi vào các trường có chuyên ngành Xã hội - Nhân văn ngày
càng hẹp nên học sinh yêu thích bộ môn ngày càng ít. Việc chọn và bồi dưỡng học sinh
giỏi gặp nhiều khó khăn.
- Lịch thi học sinh giỏi Thành phố hàng năm không được Sở Giáo dục ấn định cụ thể mà
chỉ mang tính dự kiến. Từ đó, công tác bồi dưỡng còn bị động về thời gian.
II. Những giải pháp để phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn đạt hiệu
quả
1. Những kinh nghiệm và giải pháp đã thực hiện hiệu quả:
- Trên thực tế những năm qua, khi áp dụng những kinh nghiệm phát hiện và bồi dưỡng
của bản thân vào quá trình giảng dạy, số lượng học sinh giỏi văn cấp Thành phố của nhà
trường ngày càng tăng, có em được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi thi cấp quốc gia .
a. Làm thế nào để phát hiện học sinh giỏi văn?
- Trong quá trình dạy học và tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân nhận thấy
khổ ải trên đường học tập để đến với văn chương. Niềm say mê ấy, thúc đẩy các em tìm
tòi tích luỹ tư liệu, chịu khó đọc, sưu tầm sách vở, trau dồi ngôn ngữ…
+ Những học sinh có năng lực tư duy tốt, khi đứng trước một vấn đề thường có khả
năng phát hiện, giải quyết vấn đề nhanh, nhạy, đúng bản chất tường tận và linh hoạt, có
sáng tạo ít nhiều. Với khả năng đó, các em sẽ phân tích, tổng hợp, khám phá những điều 8
mới lạ, có khả năng tìm thấy cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật trong từng tác
phẩm, đây là điều cần thiết nhất của người học văn.
+ Khi chọn học sinh giỏi cần chú ý đến những em có kiến thức vững chắc phong phú
về lịch sử văn học, về vốn từ ngữ dồi dào, kĩ năng làm văn, kĩ năng diễn đạt …hệ thống
lập luận tốt, biết làm chủ vốn kiến thức có hiệu quả trước mỗi yêu cầu học tập, thi cử và
ứng xử xã hội.
Ở đây, tôi không đồng nhất đánh giá yêu cầu một học sinh giỏi văn cấp THPT với
một người có khả năng sáng tác văn chương. Đây chỉ là yêu cầu toàn diện mang tính đặc
thù của học sinh giỏi văn. Tất nhiên không thể đòi hỏi đầy đủ các yêu cầu trên đối với
mọi học sinh giỏi văn.
- Theo số liệu lưu trữ, chúng tôi thống kê được số lượng học sinh lớp 12 được tuyển
vào đội tuyển của trường trong từng năm học như sau:
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG HỌC SINH GIỎI CÁC NĂM
Năm
học
T/Số HS
Tham gia
Số HS dự thi TP Đạt giải Thành Phố Ghi chú
S/Lượng Lớp C TSHS
Đạt
- Nhiều năm liền, trường có học sinh đạt giải cao là học sinh lớp 12C. Năm học 2010-
2011, em Đỗ Bích Ngân đạt giải III kì thi tuyển học sinh giỏi cấp Thành phố. Năm học
2011 – 2012, đội tuyển có giải khuyến khích cấp thành phố của em Nguyễn Thị Tố 9
Quyên lớp 12C. Năm học 2012-2013 Em: Lâm Thị Tường Vy đạt giải nhì cấp Thành phố
và được chọn tham dự kì thi học sinh giỏi quốc gia.
- Riêng năm học 2013-2014: Số HSG đạt khuyến khích là 02, điều này có lý do vì trường
không còn lớp C và không dạy chương trình nâng cao. Bên cạnh đó còn có nhân tố khách
quan là điểm xét để công nhận HSG cấp thành phố năm nay có thay đổi so với các năm
trước đó. Tuy nhiên 06 học sinh còn lại trong đội tuyển đều đạt điểm 10, (chỉ thiếu 0,25
điểm so với điểm xét công nhận). Chính việc phát hiện và được bồi dưỡng đúng hướng
các em đã có đủ kiến thức, kĩ năng tham dự và đạt kết quả cao. Với một ngôi trường còn
non trẻ và chất lượng đầu vào lớp 10 còn rất thấp, kết quả HSG đạt được như trên là một
tín hiệu khởi sắc và đáng khích lệ.
b. Những giải pháp đã thực hiện bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn đạt hiệu quả
* Những phương cách bồi dưỡng
- Với một trường mới thành lập như trường PTTH Nguyễn Việt Dũng, môi trường học
văn không mấy thuận lợi, chưa có bề dày thành tích về học sinh giỏi, đội ngũ giáo viên
tuổi đời, tuổi nghề rất trẻ việc bồi dưỡng học sinh giỏi chủ yếu để tham gia thi cấp
trường, tiến tới tham gia các kì thi tuyển chọn học sinh giỏi của Sở giáo dục tổ chức - có
thể coi đó là cuộc thi cọ xát đánh giá chất lượng và để chọn người bổ sung vào đội tuyển
của cấp cao hơn. Song trong các năm qua, số lượng học sinh giỏi bộ môn văn đạt kết quả
trong các kì thi không được duy trì bền vững, mang tính mùa vụ. Tổ chúng tôi xác định
“mũi nhọn” chọn bồi dưỡng học sinh giỏi thi cấp trường, thi cấp thành phố làm phương
châm giảng dạy chính. Chúng tôi xác định phương hướng chung là học chính khoá đến
đâu, bồi dưỡng học sinh giỏi đến đó. Đối với các học sinh lớp 10, 11 do trường không
thành lập đội dự bị nhưng tổ chúng tôi lưu ý chọn các em có điểm bài viết tốt, chuẩn bị
nguồn cho năm sau. Chúng tôi chú ý bồi dưỡng phương pháp, kĩ năng là chính, cung cấp
+ Về kiến thức: Ngoài việc bổ sung kiến thức được học ở chương trình, chúng tôi
cung cấp kiến thức mở rộng có liên quan đến đến chương trình, biên soạn thành từng
chuyên đề cụ thể. Việc bồi dưỡng chuyên đề sẽ giúp học sinh mở rộng kiến thức, hiểu
biết chắc hơn về tác giả, tác phẩm, các mối quan hệ liên quan đến sự cảm hiểu, đánh giá
một tác giả, tác phẩm, một hiện tượng văn học nói chung sâu sắc hơn. Chẳng hạn:
Chuyên đề về văn học lãng mạn 1930- 1945, chuyên đề thơ mới, Văn xuôi lãng mạn,
chuyên đề ký …
+ Về lí luận văn học: chúng tôi soạn thành các chuyên đề phong cách nghệ thuật, các
kiểu sáng tác ( lãng mạn, hiện thực, hiện đại ), các giá trị văn học, giá trị nhân đạo, giá trị
hiện thực, quá trình sáng tác và tiếp nhận…Đối với các tác giả như: Hồ Chí Minh, Tố
Hữu, Nam Cao, Xuân Diệu, Thạch Lam…chúng tôi cung cấp những yếu tố ảnh hưởng
đến sự nghiệp, quá trình sáng tác, đặc điểm nổi bật của quá trình sáng tác, quan điểm
sáng tác, phong cách nghệ thuật…Chẳng hạn: Về Hồ Chí Minh, chúng tôi hướng dẫn học
sinh tìm hiểu: Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh qua một tác phẩm cụ thể. Vẻ đẹp cổ
điển kết hợp hài hòa với tinh thần hiện đại qua một bài thơ. Biểu hiện chất “thép”, chất 11
“tình” trong các sáng tác của Hồ Chí Minh; giá trị nhân đạo; Thiên nhiên trong thơ Hồ
Chí Minh…Về Tố Hữu: Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu; Chất sử thi và cảm hứng
lãng mạn được thể hiện trong thơ Tố Hữu; Về quan điểm sáng tác thơ…Về các phong
cách tác giả trong chương trình 11,12, chúng tôi hướng học sinh đến các dạng đề: Phong
cách của một nhà văn, giọng điệu của nhà văn hoặc vấn đề liên quan về phong cách:
“Điều còn lại đối với mỗi nhà văn chính là cái giọng nói của riêng mình” hay “ Cái
quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của riêng mình, là cái giọng riêng biệt của
chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì người nào khác”…về vai trò của
văn học đối với cuộc sống, mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, vai trò của người
nghệ sĩ trong sáng tác văn chương, giáo viên bồi dưỡng yêu cầu học sinh sưu tầm và
chọn lọc những lời nhận định liên quan đến vấn đề này và tìm được những lời nhận định
có ý nghĩa và giá trị nhất. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số lời nhận định
(Chế Lan Viên)
Vân vân……
+ Về văn học sử: Chúng tôi cung cấp các xu hướng văn học, trào lưu; các nhà thơ mới
tiêu biểu, các nhà văn hiện thực 1930-1945; một số hình tượng văn học ở từng giai đoạn
như: Hình tượng người lính qua thơ ca kháng chiến chống Pháp (Vẻ đẹp người lính qua
hai tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng Chí của Chính Hữu), Hình ảnh anh bộ
đội cụ Hồ qua thơ văn chống Mĩ, Người nông dân trong văn học 30-45, vẻ đẹp cổ điển
kết hợp tinh thần hiện đại trong Nhật kí trong tù, khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng
mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975; Sự khác nhau giữa khuynh hướng sử
thi và khuynh hướng thế sự Hình ảnh đất nước qua các sáng tác của các nhà thơ đã
học, Hình ảnh mùa thu qua thơ ca.
- Về kĩ năng làm văn: chúng tôi chuyên sâu kĩ năng tìm hiểu đề; kĩ năng phân tích,
bình giảng, các thao tác nghị luận. Những điều cần lưu ý khi viết một bài văn thi học sinh
giỏi. Kĩ năng và phương pháp viết đoạn, luyện mở bài, kết bài; yêu cầu về diễn đạt để có
lời văn hay. Về giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết, cách dùng từ độc đáo,
kỹ năng viết câu linh hoạt, kỹ năng mở rộng, nâng cao, so sánh vấn đề, kỹ năng lập luận
sắc sảo chặt chẽ, cách lựa chọn dẫn chứng và trình bày dẫn chứng…những lỗi thường gặp
cần tránh. Chúng tôi dành nhiều thời gian để học sinh thực hành bằng việc luyện giải đề
thi, cho học sinh làm quen với các dạng đề thi học sinh giỏi các cấp, yêu cầu của đề thi,
của bài văn đạt điểm cao…
- Về yêu cầu về diễn đạt để có lời văn hay trong bài văn.
Chúng tôi tập trung chuyên đề: Yêu cầu về diễn đạt để có lời văn hay: về giọng văn và
sự thay đổi giọng văn trong bài viết, cách dùng từ độc đáo, kỹ năng viết câu linh hoạt, kỹ 13
năng mở rộng, nâng cao, so sánh vấn đề, kỹ năng lập luận sắc sảo chặt chẽ, cách lựa chọn
dẫn chứng và trình bày dẫn chứng…
+ Về giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết: để có lời văn hay, yêu cầu
người viết hình thành một giọng văn và thay đổi giọng văn trong quá trình viết bài. Giọng
14
đạt thái độ của mình. Ví dụ “Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọt mép
của mụ văng ra mãi tới ngàn năm”; Có thể viết câu nghi vấn để gây chú ý người đọc; có
thể dùng câu đơn, câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu phủ định của phủ định…
+ Viết văn có hình ảnh: Văn nghị luận là loại văn của tư duy khái niệm, của suy lí
lô gíc, ý tứ chặt chẽ, sáng sủa, lập luận phải chắc chắn, bảo đảm độ chính xác cao, giàu
thuyết phục. Tuy nhiên để hấp dẫn người đọc, cần dạy cho học sinh sử dụng từ ngữ phải
có tính hình tượng, có sức biểu cảm cao. Người viết có thể dùng phép so sánh, liên hệ,
đối chiếu tạo cho câu văn sinh động có hình ảnh. Chẳng hạn: “Với tình huống truyện độc
đáo, “chiếc thuyền ngoài xa” đã thả neo, cắm sào trong dòng chảy của văn học sau
1975”…
+ Ngoài ra để diễn đạt được lời văn hay, có giọng điệu riêng trong bài văn, người
viết cần vận dụng thao tác lập luận so sánh văn học, lối lập luận phải sắc sảo chặt chẽ,
cách dùng dẫn chứng phong phú, tiêu biểu và trình bày dẫn chứng phù hợp và đặc sắc…
Cách trình bày, diễn đạt, hành văn, xử lý tình huống ở những dạng đề khó đều là những
thủ thuật góp phần không nhỏ trong nâng cao hiệu quả bồi dưỡng bộ môn.
- Việc giới thiệu, định hướng tham khảo tài liệu của bộ môn cũng là khâu quan
trọng. Hướng dẫn cặn kẽ phần bài tập thực hành trong các sách, các sách viết theo chuyên
đề nâng cao, những bộ đề thi, Từ các khâu định hướng đó, các em học sinh cũng tự
khám phá ra chính năng lực, sở trường của bản thân, xác định và khẳng định niềm đam
mê đích thực về bộ môn để chọn hướng đi cho mình ở tương lai.
2. Giải pháp lâu dài cho việc tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả.
Để học sinh làm được bài văn NLXH và NLVH theo đề mở, người thầy giáo cần có
quá trình rèn luyện cho các em, có phương pháp dạy học phù hợp mới phát huy hết tác
dụng của nó. Sau đây tôi xin đề xuất những hoạt động dạy – học nhằm hướng dẫn học
sinh tích lũy kiến thức và vốn sống để làm bài văn nghị luận xã hội và văn học dạng đề
mở.
a. Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức và vốn sống:
Để có một bài văn nghị luận xã hội hay văn học giàu tính thuyết phục, học sinh cần có
lí lẽ sắc sảo và dẫn chứng phong phú. Có thể tích lũy kiến thức từ sách vở: lĩnh vực văn
- Học sinh hình thành thói quen theo dõi thông tin về đời sống được đăng tải trên
các phương tiện thông tin đại chúng, điều mà trước đây có những em không hề quan tâm.
- Kết thúc hoạt động dạy học, mỗi học sinh đều có một bộ tư liệu phong phú, phục
vụ cho quá trình học lâu dài. 16
3. Kết quả thực hiện:
Năm học Chỉ tiêu tổ bộ môn Được công nhận SL ĐẬU ĐH, CĐ
2010 - 2011 2 5 5
2011 - 2012 3 6 6
2012 – 2013 3 3 4
2013 – 2014 2 2
Qua các năm học, tôi nhận thấy rằng: việc phát hiện, lựa chọn và bồi dưỡng có đầu tư, có
chuẩn bị tốt thì hiệu quả mang lại cao. Theo dõi số liệu tổng kết hàng năm của tổ bộ môn,
số lượng học sinh đạt giải trong các kì thi tuyển học sinh giỏi cấp Thành phố đều đạt chỉ
tiêu cấp tổ đề ra. Điều này có ý nghĩa hơn là đẩy mạnh được phong trào học tập bộ môn
của học sinh trong nhà trường. Một bộ phận học sinh ngày càng có ý thức cao và chăm
chỉ trong việc trau dồi bộ môn văn khi mà lối đi và hành lang cho bộ môn này đang quá
hẹp. Các em đã tự thấy được tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường.
Cùng với việc bồi dưỡng để dự thi học sinh giỏi, nhiều học sinh trong đổi tuyển đã
trưởng thành nhanh chóng, năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản của các em được nâng
cao. Điều đáng mừng là với sự đột phá đó các em học sinh cũng tự khám phá ra chính
năng lực, sở trường của bản thân mình, xác định và khẳng định niềm đam mê đích thực
về bộ môn để chọn hướng đi cho mình ở tương lai. Kết quả học sinh giỏi Thành phố môn
Ngữ Văn hai năm học liền (2010 -2011; 2011 -2012) trường đã có 2 giải khuyến khích
và 7 học sinh được công nhận. Riêng năm học 2012 -2013 có 1 HSG quốc gia. Học sinh
đỗ điểm cao vào các trường đại học vẫn nghiêng về số học sinh thi khối C,D. Số lượng
tuy vẫn còn khiêm tốn với các trường trong toàn thành phố nhưng chúng tôi rất tự hào
một số kết quả nhất định trong việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi. Với những vấn đề
nêu trên, chỉ là kinh nghiệm của cá nhân tích luỹ từ những năm tháng giảng dạy, chắc
còn nhiều vấn đề cần trao đổi. Những kinh nghiệm này mong đem đến đóng góp nhỏ
trong một sự nghiệp đào tạo nhân tài vô cùng to lớn. Mong quý đồng nghiệp đóng góp để
công tác giảng dạy bộ môn nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng ngày càng có
hiệu quả, đem lại nhiều tài năng văn chương cho đất nước. 2. Một số kiến nghị, đề xuất
- Sở giáo dục và Đào tạo: Cần mở các hội nghị chuyên đề về bồi dưỡng học sinh
giỏi để giáo viên học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Hiện nay việc bồi dưỡng tuỳ
vào từng trường theo kiểu tự phát mỗi nơi mỗi kiểu, phụ thuộc vào kinh nghiệm, sở
trường của từng tổ, từng giáo viên. Chưa có chương trình, nội dung thống nhất. Sở cần có
công văn chỉ đạo, ưu tiên thời gian cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi số tiết, thời gian để
bồi dưỡng qúa ít (30 tiết/năm không cung cấp kiến thức cần đủ để học sinh giỏi đủ độ
chín mùi). 18
- Chế độ tiền bồi dưỡng không khuyến khích giáo viên đầu tư công sức, thời gian bồi
dưỡng (chế độ giờ dạy hoặc bố trí giáo viên dạy để bù vào số tiết thiếu). Được biết chế độ
bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Sở đã giao cho trường tự quyết. Việc làm này vô tình
không động viên được tinh thần giảng dạy của giáo viên.
- Về phía nhà trường: Để có chất lượng học sinh giỏi ngày càng cao, nhà trường cần
nhận thức vai trò đóng góp của người thầy là hết sức quan trọng, vì thế chất lượng giáo
viên bồi dưỡng được coi như điều kiện tiên quyết.Với các hội nghị tập huấn chuyên đề
giáo viên dạy học sinh giỏi do Sở - Bộ Giáo dục tổ chức, nhà trường cần tạo điều kiện để
giáo viên tham gia học hỏi, trao đổi kinh nghiệm. Mặt khác, nhà trường cần chỉ đạo tổ
chức thi chọn học sinh giỏi các khối lớp, thành lập đội dự bị để học sinh có nhiều thời
gian được bồi dưỡng. Có chế độ bồi dưỡng, khen thưởng giáo viên giảng dạy và có học
1ĐẶT VẤN
ĐỀ
(Đổi mới)
1
Có đối tượng nghiên cứu mới2
Có giải pháp mới và sáng tạo để nâng hiệu quả công
vụ
3
Có đề xuất hướng nghiên cứu mới2
LỢI ÍCH
4
Có chứng cớ cho thấy SKKN đã tạo hiệu quả cao hơn,
đáng tin, đáng khen (phân biệt SK chưa áp dụng với
SK đã áp dụng)
3
KHOA
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 chương trình chuẩn – NXB GD năm 2008
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 chương trình nâng cao – NXBGD năm 2008
- Sách giáo viên Ngữ văn 10,11,12 chương trình chuẩn – NXBGD năm 2008
- Sách giáo viên Ngữ văn 10,11,12 chương trình nâng cao – NXBGD năm 2008
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa trung học phổ
thông lớp 10,11,12, môn Ngữ văn. NXBGD năm 2008
- Văn- Bồi dưỡng học sinh giỏi THPT tập1&2 - Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc
Thống - ( NXB-ĐHQG Hà Nội).
- 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn trung học phổ thông – TS. Lê Anh
Xuân, Vũ Thị Dung, Nguyễn Thị Hương Lan – NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh
- Sổ tay văn học cá nhân