LUẬN VĂN:
Những giải pháp để phát triển
KTTT theo định hướng XHCN ở
Việt Nam
hoà và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và sau đó 1975 thống nhất đất nước Đảng
và nhà nước ta đã quyết định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Nước ta đã có những thành tựu kinh tế xã hội khắc phục được những hậu quả chiến tranh
để lại nhưng sau đó cùng với sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội và dẫn tới sự sụp đổ
của Liên Xô và các nước Đông Âu, nước ta cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó nền
kinh tế lâm vàota vẫn quán triệt đi theo CNXH và quyết định đổi mới chuyển đổi từ nèn
kihn tế tập trtheo CNXH và quyết định đổi mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang một nền kinh tế nhiều thành phần mở cửa quan hệ với các nước trên thế
giới qua các đaị hội Đảng VI, VII, nền kinh tế đã phục hồi và dần dần đạt được nhiều
thành tích, đời sống được cải thiện và đến đại hội VIII xác định xây dựng một nền kinh tế
thị trường dưới sự quản lí của Nhà nước định hướng XHCN nó phù hợp với sự khách
quan và sự phát triển chung của nhân loại. Tuy vậy nước ta xuất phất từ một nước nông
nghiệp và đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn CNTB chịu sự ảnh hưởng lâu dài của chiến
tranh không những vậy cơ chế quan liêu bao cấp đã in sâu vào trong dân vì vậy để phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay như thế nào trong tình hình trong nước và quốc tế hiện
nay vai trò của nhà nước như thế nào. Đứng trên góc độ một bài đề án về môn kinh tế
chính trị và nhìn nhận của một sinh viên nên chỉ có thể nói lên vấn đề cơ bản và chung
nhất về một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các giải pháp phát triển trong giai
đoạn và trong đại hội Đảng IX đã ghi nhận. Do đó em đã chọn đề tài: ” Những giải
pháp để phát triển KTTT theo định hướng XHCN ở Việt Nam”.
2-Cái mới của đề tài: Từ đề tài, có được cái nhìn đúng đắn hơn về nền kinh tế Việt Nam
trong thời kì đổi mới và hoàn thiện vốn kiến thức của mình.
3-Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu: Lí luận dựa trên nghiên cứu của Chủ nghĩa
C.Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
vật.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích sản xuất là trao đổi hay để bán. Mục đích đó
được xác định từ trước quá trình sản xuất và có tính khách quan. Sản xuất và toàn bộ quá
trình tái sản xuất đều gắn với thị trường .
1.1.2-Những tiền đề của quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình khách quan. Nó bắt đầu khi
kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền đề kinh tế hàng hoá.
Trong lịch sử, những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ hàng hoá-tiền tệ tồn tại đan
xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự xuất hiện
những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng hoá. Mỗi bước phát
triển của kinh tế hàng hoá là một bước đẩy lùi kinh tế tự nhiên. Như vậy, quá trình vận
động và quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và
khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế –xã hội độc lập.
Quá trình xuất hiện vận động và phát triển của kinh tế hàng hoá diễn ra với sự tác động
mạnh mễ của những tiền đề sau đây:
Phân công lao động đã tạo ra những ngành nghề sản xuất khác nhau. Do phân công lao
động xã hội nên mỗi người chuyên sản xuất một loại hàng hóa nhất định. Nhưng nhu cầu
tiêu dùng của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoã mãn nhu câù này họ
phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Làm nảy sinh quan hệ kinh tế giữa những người sản
xuất.
Trong điều kiện tư hữu về tư liệu sản xuất, những người sản xuất độc lập với nhau và
có lợi ích kinh tế khác nhau.
Phân công lao động xã hội phát triển cũng dẫn tới sự ra ôừi của ngành thương nghiệp.
Khi thương nghiệp ra đơì quan hệ trao đổi đã có màu sắc mới. Người sản xuất và người
tiêu dùng có quan hệ với nhau qua nhân vật thứ ba là thương nhân.Thương nghiệp phát
triển dẫn đến sản xuất và lưu thông hàng hoá cùng với lưu thông tiền tệ được phát triển
Năm là: Tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước. Đối với nước ta, đây là vấn đề có
tính then chốt để hình thành nên nền kinh tế thị trường.
Với tác động của tất cả các tiền đề trên, nền kinh tế thị trường được xã hội hoá cao, các
quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hóa-tiền tệ và nó được tiền tệ
hoá. Các quy luật của kinh tế thị trường được phát huy một cách đầy đủ.
1.3-Những đặc trưng của kinh tế thị trường (KTTT) :
Những đặc trưng chung nhất, vốn có của kinh tế thị trường:
Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Đây là đặc trưng quan trọng nhất
của kinh tế thị trường. Đặc trưng này xuất phát từ đặc điểm khách quancủa việc tồn tại
nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời cũng là biểu hiện và yêu cầu nội tại của kinh tế hàng
hoá.
Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán hàng hoá.
Trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua. Họ gặp nhau ở giá cả thị
trường.
Ba là: Giá cả để hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là biểu hiện
bằng tiền của giá thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ
cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá thị trường, giá cả là kết quả của sự thương
lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của
luật lưu thông hàng hoá.
Bốn là: Kinh tế thị trường là một tất yếu của thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở những
đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế.
Năm là: Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở. Nó rất đa dạng, phức tạp và được
điều hành bởi hệ thốngtiền tệ và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
2- Khái quát thị trường và cơ chế thị trường.
2.1-Thị trường:
Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra đời và phát
triển cùng với sự phát trỉên của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vậy thị trường là một địa
2.2-Cơ chế thị trường:
Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá, điều tiết sự vận động của kinh tế thị trường.
Hiện nay còn có nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm cơ chế thị trường. Một cách
khái quát hơn thì cơ chế thị trường chính là “bộ máy” kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận
động của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thông quạ
tác động của các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật giá trị-
quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện: Gía cả thị trường lên xuống xung quanh
giá trị thị trường của hành hoá, nghĩa là sự hình thành giá cả thị trường phải dựa trên cơ
sở giá cả thị trường. Ngoài giá trị thị trường sự hình thành giá cả thị trường còn chịu sự
tác động của quan hệ cung cầu hàng hoá. Tính quy luật của quan hệ giữa giá cả thị trường
với giá trị thị trường trong sự tác động của quan hệ cung cầu được biểu hiện:
-Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường
-Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn giá trịn thị trường.
Sự vận động của giá cả thị trường cũng có tác động đến quan hệ cung cầu hàng hoá.
Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó giảm xuống , nó sẽ kích thích mức cầu, làm cho
mức cầu thị trường của loại hàng hoá này tăng lên. Đồng thời giá cả giảm xuống lại hạn
chế mức cung làm cho mức cung giảm xuống. Ngược lại nếu giá cả của một loại hàng
hoá nào đó tăng lên, nó sẽ kích thích mức cung làm cho mức cung tăng lên.
Như vậy, có thể phân biệt được quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường. Quan hệ cung
cầu hàng hoá trên thị trường là biểu hiện của quan hệ giữa người bán và người mua cũng
như quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Trên thị trường, người bán luôn
muốn bán hàng hóa của mình với giá cao, người mua lại luôn muốn mua hàng hoá với
giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả thị trường là kết quả của sự thoả thuận giữa
người mua và người bán. Giá cả thị trường điều hoà được quan hệ giữa người mua với
người bán.
Sự tồn tại và phát triển của cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan đối với những xã
hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Coi nhẹ hay bỏ qua vai trò của kinh tế thị trường là
một trong nguyên nhân thất bại trên lĩnh vực kinh tế. Trong lịch sử cơ chế thị trường
có được không gian rộng lớn ở giai đoạn cạnh tranh tự do TBCN vì vậy tác động của cơ
chế thị trường được phát hiện khá sớm. Cơ chế thị trường được coi là “bàn tay vô hình”
điều tiết sự vận đông của nền kinh tế hàng hoá.
*Cơ chế thị trường có các ưu thế sau:
Trước hết, cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng
năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất.
Hai là, cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Vì
trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới
và đưa ra sóm nhất thì sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất.
Ba là, trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Do đó nó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thoã mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hóa
và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội.
* Khuyết tật của cơ chế thị trường:
Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không tự giải quyết được.
Thường xuyên tạo ra mất cân đối, bất hợp lý ở tầng vĩ mô làm giảm hiệu quả trên quy mô
nền kinh tế quốc dân. Cơ chế thị trường cũng có những yếu tố làm giảm tốc độ phát triển
kinh tế do nảy sinh độc quyền tù cạnh tranh tự do và việc giữ bí quýêt kinh doanh của
từng đơn vị.
Trong hoạt động thực tiễn của cơ chế thị trường do chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên
khó tránh khỏi các hiện tượng buôn gian, bán lận, đâù cơ, làm hàng giả… và nhiều bệnh
trạng xã hội khác như phân hoá giàu nghèo, thất nghiệp, lạm phát, phá sản dẫn đến sựu
phá hoại lực lượng sản xuất, vi phạm đạo đức, lối sống, gây ô nhiễm môi trường, phá
Định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết và có tính khách
quan. Xây dựng nền KTTT không có gì mâu thuẫn voí định hướng XHCN. Đại hội VIII
Đảng ta đã khẳng định “cơ chế thị trường đã phát huy tích cực to lớn đến sự phát triển
kinh tế- xã hội. Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần
thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN ”. [Văn kiện Đại
hội toàn quốc lần 8 (NXB chính trị quốc gia-1990)].
Theo ý kiến của đại đa số các nhà khoa học Việt Nam, có thể quan niệm định hướng
XHCN của nền KTTT ở nước ta có những nội dung chính sau:
Một là: Hai mặt nền kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trường nước ta được chủ
động kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế và chính sách
xã hội trên cả tần quản lý kinh tế vi mô và vĩ mô.
Hai là: Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, môi trường sinh thái của đất
nước được chủ động bảo vệ qua các dự án đầu tư môi sinh và qua việc chấp hành một
cách đúng đắn pháp luật , chính sách môi trường của Nhà nước
qua từng thời kỳ.
Ba là: Nền KTTT theo định hướng XHCN là nền kinh tế có trình độ phát triển cao.
Nếu như nền kinh tế tiền tệ kém phát triển ,tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
thấp kém dẫn đến mức thu nhập bình quân của dân cư còn thấp không có tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế thì không thể gọi là định hướng XHCN được.
Bốn là : Định hướng XHCN còn được thể hiện trong cơ cấu kinh tế nước ta. Để có
định hướng XHCN, kinh tế Nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo, nó cùng với
nền kinh tế hợp tác là nền tảng của nền kinh tế.
Năm là: Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế thị trường vì mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh. Trong thời kỳ chuyển sang KTTT, nhà nước ta thực
hiện vai trò “bà đở” tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển đúng
hướng. Vai trò đó được thể hiện bằng hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền tự do dân chủ,
công bằng xã hội và mở rộng phúc lợi xã hội cho nhân dân.
Sáu là: Nền KTTT ở nước ta là nền kinh tế dân tộc hoà nhập với kinh tế quốc tế. Với
xu hướng kinh tế mở, nội dung này có ý nghĩa rất lớn, một mặt nó phát huy được lợi thế
so sánh của nền kinh tế nước ta về vị trí địa lý về lao động và về tài nguyên thiên nhiên.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là khắc phục tính hiện vật của quan hệ trao đổi,
hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ tên thị trường. Nội dung được thực hiện với một số
giải pháp sau :
-Hình thành và cũng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyển quan hệ trao đổi
có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ.
-Đẩy mạnh phân công lao động xã hội nhằm mở rộng thị trường.
-Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sỡ hữu có tính đa dạng với
nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
-Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế theo chiều dọc, sang các
quan hệ kinh tế theo chiều ngang. Trong các chính sách kinh tế chúng ta đặc biệt quan
tâm đến chính sách giá cả.
1.2.2-Giai đoạn hai: Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN.
Đại hội Đảng VI năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta. Quan điểm này đã được khẳng định rõ hơn tại đại
hội lần VII và VIII của Đảng ta.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là : phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ
tạo điều kiện tiền đề cho kinh tế hàng hóa phát triển.
Chúng ta đang thực hiện những giải pháp sau:
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thao hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
-Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng các yếu tố thị trường, phát triển những
ưu thế và động lực của thị trường, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường.
-Hoàn thiện và tăng cường vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ nhằm tạo
nguồn vốn và thực hiện việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát triển, phân phối và phân phối
lại thu nhập quốc dân tạo nhập sự ổn định về tiền tệ, về giá và tỷ giá hối đoái, qua đó tạo
môi trường thuận lợi cho sự phát triển sản xuất hàng hóa phù hợp với cơ chế thị trường.
Bất cứ nhà nước nà cũng đều thực hiện chức năng hai mặt của nó, quy luật vận động của
đơì sống sản xuất vật chất và tinh thần, tạo cơ sở mới, do đó đòi hỏi có sự thay đổi tương
ứng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quản lý Nhà nước mới có hiệu
quả, nhà nước mới có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Từ Đại hội Đảng lần VI của Đảng (1986) Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện dân
chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội, hoà nhập khu vực.
Trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác-Lênin về vai trò của Nhà nước cần đặc biệt
chú ý tơí hai luận điểm quan trọng:
2.1.1-Ph.Ăngghen đã từng nêu nguyên tắc có tính phương pháp luận về sự tác động của
nhà nước đối với nền kinh tế rằng: sự tác động của Nhà nước nếu là hợp quy luật thì sẽ
thúc đẩy kinh tế phát triển , ngược lại, nếu là sự tác động trái quy luật thì sẽ gây ra khủng
hoảng và lãng phí cho xã hội. Đó là nguyên tắc đúng đắn, phổ biến đối với hoạt độgn
quản lý của mọi kiểu Nhà nước. Đối với nhà nước XHCN nói chung, Nhà nước Việt
Nam nói riêng, chúng ta có thể tìm hiểu ví dụ trong hoạt động của nó để minh hoạ cho
hai cách tác động nói trên của nhà nước. Từ đó có thể dẫn đến kết luận: Nếu muốn bộ
máy nhà nước quản lý có hịêu lực, hiệu quả thì phải tuân theo quy luật vận động khách
quan của xã hội, trước hết là các quy luật kinh tế.
2.1.2-Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, mà nhà nước dân chủ nếu muốn quản lý có hiệu
lực, hiệu quả thì phải thu hút được nhân dân lao động tham gia một cách rộng rãi và thực
sự bình đẳng vào quản lý công việc của nhà nước và xã hội. Theo C.Mác, chế độ dân chủ
thực chất là chế độ “do dân tự quy định chế độ nhà nước, hướng tới con người hiện thực
và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân và ở đây là chế độ nhà nước xuất
hiệ với dân chủ đã làm đảo lộn mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân không còn là
“thần dân của nhà nước” mà là “nhà nước của thần dân”. Do đó chế độ dân chủ là xuất
phát từ con người và không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà là nhân dân tạo ra
2.3- Vai trò kinh tế của nhà nước.
Với tư cách là người quản lý, điều hành nền KTTT nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan
trọngtrong việc định hướng nền KTTT theo CNXH. Vai trò kinh tế nói trên được thể hiện
ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát huy cao độ mặt tích cực của nền KTTT để phát triển kinh tế,
phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, mục
đích cuối cùng của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nhà nước lợi dụng cơ chế cạnh
tranh của thị trường và tự do hoá sản xuất kinh doanh để giải phóng và phát triển lực
lượng sản xuất, khơi dậy các tiềm năng của mọi cá nhân, tập thể lao động và các cộng
đồng dân tộc theo hướng hiện đại, phà hợp với xu thế phát triển khoa học và công nghệ,
thực hiện dân giàu nước mạnh- xã hội văn minh. Muốn vậy nhà nước cần hạn chế tối đa
những mệnh lệnh hành chính để cho hoạt động thị trường được đưa ra chủ yếu trên sự
hướng dẫn của các quy luật của kinh tế thị trường. Nhà nước xây dựng thị trường thống
nhất trong các nước, có tính đến đặc thù và trình độ phát triển không đồng đều của các
vùng từng bước tích cực xây dựng thị trường đồng bộ, nhanh chóng tiếp nhận thị trường
quốc tế. Trong quá trình xây dựng thị trường
cần phải tuân thủ nguyên tắc là tốt thì để cho thị trường tự điều tiết. Nhà nước chỉ can
thiệp khi hoạt động vi mô ảnh hưởng đến toàn cục, khi thị trường có những tiêu cực cần
ngăn chặn nhà nước lợi dụng các phương tiện và công cụ của thị trường, kể cả kinh
nghiênỵm kinh doanh và phương thức quản lý tiến bộ của chủ nghĩa tư bản vào mục tiêu
XHCN.
Thứ hai: Nhà nước ở tầm vĩ mô trên cơ sở nắm vững thị trường để điều tiết kinh tế và
hạn chế những mặt trái KTTT, KTTT luôn thể hiện tính hai mặt: Một là động lực cho sự
phát triển, mặt khác là khuyết tật như khủng hoảng kinh tế, lãng phí tài nguyên, phân hoá
giàu nghèo…Từ tính chất hai mặt của KTTT, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong
việc định hướng và điều tiết nền KTTT nhằm ổn định và tăng trưởng ở nước ta. Nhà
nước xây dựng các cung cụ và chính sách vĩ mô để định hướng và điều tiết tổng thể nền
nguồn để thực hiện các chính sách xã hội.
Thứ tư: Nhà nước phải xây dựng được hệ thống kinh tế quốc doanh vì kinh tế quốc
doanh là nhân tố quy định và đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa : Thể hiện đầy
đủ nhất tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản đảm bảo sựu thống nhất giữa tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ mội trường sinh thái, thống nhất
chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Nhà nước vừa phải tôn trọng tính bình đẳng của
các chủ thể kinh tế không kể ho ở thành phần nào, vừa phải có ý thức đầy đủ đến việc
phát triển kinh tế quốc doanh để nó thực sự giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước bằng các chính
sách, biện pháp kinh tế để sao cho:
-Kinh tế quốc doanh phải chiếm được các vị trí kinh tế then chốt có liên quan đến hoạt
động của nền kinh tế cũng như an ninh, quốc phòng và các hoạt động cần thiết mà các
thành phần kinh tế không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lãi hoặc ít
lãi. Kinh tế quốc doanh phải chiếm được các ngành kinh tế có kỹ thuật và công nghệ hiện
đại, tạo ra kiểu mẫu về năng suất chất lượng, hiệu quả để lôi cuốn các thành phần kinh tế
khác theo quỹ đạo của CNXH.
-Kinh tế quốc doanh phải tạo ra kết cấu hạ tầng đáp ứng được yeu cầu phát triển của
nền KTTT, có giá trị tổng sản lượng và tỷ trọng hàng hoá ngày càng tăng, đóng góp tỷ lệ
cao trong ngân sách nhà nước không ngừng nâng cao trình độ và đời sống của người lao
động.
-Kinh tế quốc doanh phải tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, bảo đảm tăng
trưởng kinh tế nhanh, bền vững có hiệu quả và công bằng.
Vậy là, KTTT theo định hướng XHCN đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cho nhà nước
mới hoàn thành được nhiệm vụ định hướng XHCN nền KTTT nước ta.
**********************************
Chương III: Thực trạng nền kinh tế ở Việt Nam những năm qua và giải pháp
xã hội còn kém: cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, thị trường trong nước chưa phát
triển…cho nên năng suất lao động và thu nhập bình quân tính theo đầu người ở nước ta
tất yếu vẫn còn thấp kém. Tình hình này được phản ánh qua các số liệu sau đây:
Theo gía hiện
hành (tỷ đồng)
1988 1989 1990 1991 1992
GNP
Tổng đầu tư
Tiêu dùng (C)
Tiết kiệm (S)
13.266
1.906
13.291
-25
2.308
2.817
24.358
-50
2.308
2.817
24.356
-10
69.959
66.610
3.349
101.870
94.883
khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lưc kinh tế to lớn. Vì vậy, Đại hội Đảng
lần VII của Đảng ta đã khẳng định “ xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng kế hoạch chính sách và các
công cụ khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các loại htị trường hàng tiêu dùng, vật tư,
dịch vụ, tiền vốn, sức lao động… thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt trong cả nước và
với thị trường thế giới ” –Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, NXB
sự thật năm 1991.
1.3-Thực chất quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền KTTT theo định
hướng XHCN.
1.3.1-Từ sự phân tích thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang KTTT có thể
rút ra kết luận thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền KTTT theo
định hướng XHCN là quá trình kết hợp giữa chuyển nền kinh tế còn mang tính tự cấp, tự
túc sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nền KTTT và quá trình chuyển cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Lịch sử đã chứng minh rằng không thể chuyển nền kinh tế nhỏ sang nền kinh tế lớn
nếu thiếu “đòn xeo” là kinh tế hàng hóa. Chính C.Mác đã coi sự phát triển của kinh tế
hàng hóa là xuất phát điểm và điều kiện quan trọng nhất không thể thiếu được đối với sự
ra đời và sự phát triển của nền sản xuất lớn TBCN. Nội chiến kết thúc, Lênin cũng chủ
trương thi hành chính sách kinh tế mới (NEP) về thực chất, đó là sự phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần nhằm khơi dậy sự sống động của nền kinh tế, mở rộng giao
lưu hàng hoá thành thị và nông thôn, thực hiện các quan hệ kinh tế bằng hình thức quan
hệ hàng hóa tiền tệ trên thị trường.
Quá trình chuyển sang nền KTTT ở nước ta có những đặc điểm khác với các nước
Đông Âu và Liên Xô (cũ). Những nước này đã có nền kinh tế phát triển, nền kinh tế đã
được cơ khí hoá, không có tính tự nhiên, tự cấp tự túc như nền kinh tế nước ta. Vì vậy,
quá trình hình thành nền KTTT ở nước ta trước hết là quá trình chuyển nền kinh tế kém
nhanh vơí nhịp độ trên dưới 20% hàng năm (1986-1992) bảo đảm nhập khẩu các loại vật
tư và công nghệ chủ yếu cải thiện dần cán cân thanh toán quốc tế, chúng ta đã nhanh
chóng điều chỉnh và khắc phục những hẫng hụt về nguồn vốn và thị trường từ các nước
Đông Âu. Hàng hóa xuất khẩu của nước ta đã tìm được những thị trường mới trong khu
vực Đông nam á và Tây âu. Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng tăng
nhanh.
Trong khi hoà nhập vào thị trường thế giới và đẩy mạnh hoạt động ngoại thương cần
áp dụng có hiệu quả nguyên tắc lợi thế so sánh. Từ đó cân nhắc và quyết định cụ thể xem
nên sản xuất loại hàng hoá nào, với số lượng bao nhiêu từ đó xác định rõ quy mô sản xuất
cho thích hợp.
ở nước ta, lợi thế so sánh bắt đầu được phát huy cần khẳng định bản sắc dân tộc và
xác định khu vực mới tạo điều kiện mới để hội nhập. Lợi thế so sánh của nước ta được
thể hiện ở các mặt sau đây: nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, nguồn nhân lực
rồi rào với tiền công thấp, vị trí lãnh thổ thuận lợi. Đồng thời nhà nước đã có chính sách
đầu tư hấp dẫn tạo điều kiệc thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Chúng ta tiếp tục coi trọng thị trường truyền thống, nhanh chóng thâm nhập vào thị
trường mới mở rộng thị trường khu vực, cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng tỷ
trọng xuất khẩu nguyên liệu, tạo ra các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như dầu mỏ, nông-
lâm-thuỷ sản… chú ý phát triển dịch vụ, vận tải hàng
không, thông tin bưu điện quốc tế…
Xuất phát từ lợi thế và khả năng thực tế trong nước, phương hướng mở rộng kinh tế
quốc tế nên tập trung vào những vấn đề cơ bản:
-Nhà nước cần có chính sách bảo hộ mậu dịch hợp lý nhằm khuyến khích các ngành
kinh tế phát triển, thu hút những sản phẩm quý hiếm và sản phẩm khoa học từ bên ngoài,
ngăn chặn việc nhập khẩu những hàng hoá trong nước có khả năng sản xuất.
-Nhà nước cần duy trì sựu ổn định về mặt chính trị, kinh tế và xã hội nhằm tạo ra môi
Thứ nhất, chúng ta phải chủ động tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, phát huy
những ưu thế và động lực của thị trường, đòng thời hạn chế các mặt tiêu cực của thị
trường. Cụ thể hơn, chúng ta phải phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ; tổ
chức quản lý và hướng dẫn việc thuê và sử dụng lao động; quản lý chặt chẽ đất đai và thị
trường bất động sản; xây dựng thị trường vốn và từng bước hình thành thị trường chứng
khoán.
Thứ hai, phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế để thể chế hoá cương lĩnh,
chiến lược và các chủ trương chính sách của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý đồng
bộ cần thiết cho các hoạt động kinh tế. KTTT là một nền kinh tế còn mang tính tự phát và
cạnh tranh, thậm chí còn khốc liệt với những đặc trưng đó, nó cần được kiểm soát bởi
một hành lang pháp lý đó là hệ thống pháp luật. Bắt nguồn từ đó, việc xây dựng một hệ
thống pháp luật hàm chứa các yếu tố: hướng dẫn, kiểm soát và định hướng sẽ gây ra tác
động biến chứng của thượng tầng kiến trúc đến cơ sở hạ tầng trong quá trình vận động
của cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Thứ Ba, hoàn thiện và đổi mới đồng thời tăng cường vận dụng các chính sách tài
chính và tiền tệ nhằm tạo nguồn vốn và thực hiện việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát
triển, sau đó cần nhanh chóng hình thành thị trường tiền vốn.
Chính sách tài chính phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển: huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực. Tăng cường tích luỹ để tạo vốn đầu tư phát triển,
đáp ứng những nhu cầu thực sự cần thiết cấp bách, đảm bảo quản lý thống nhất nền tài
chính quốc gia, giảm bội chi sách, góp phần khống chế và kiểm soát lạm phát.
Chuyển mạnh chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng phù hợp với cơ chế thị
trường, góp phần ổn định sức mua của đồng tiền Việt Nam, kìm chế lạm phát ở mức
thấp, huy động và cho vay vốn có hiệu quả đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống gía cả
và đổi mới công tác quản lý giá.
Thứ tư, là phát triển cơ cấu kinh tế mở nhằm hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, đây là
giải pháp có tính thời đại cần lựa chọn các phương án đầu tư nước ngoài trên các mặt:
kinh tế, môi trường, công nghệ theo hướng đảm bảo lợi thế so sánh và chủ quyền nước ta.
chủ hoạch toán cảu doanh nghiệp.
Những giải pháp trên đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo
và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệp xây dựng đất nước. Kết luận
1. Kết luận: Phát triển KTTT đối với nước ta là một là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ
cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân
công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai
thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế-