MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................... 2
B. NỘI DUNG ......................................................................................... 4
I. Những vấn đề lí luận chung về kinh tế thị trường định định hướng
XHCN ở Việt Nam. ...................................................................................... 4
1. Kinh tế thị trường là gì ? .................................................................... 4
2. Nền KTTT Định hướng xá hội chủ nghĩa ở nước ta. ...................... 6
3. Kinh tế thị trường không những tồn tại khách quan mà cần thiết
cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội . ........................................... 7
II. Thực trạng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. . 8
III. Giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ........... 10
C. KẾT LUẬN ...................................................................................... 18
1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xó hội. Đại
hội đã quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung( nền kinh tế
đã kìm hãm sự phát triển của xã hội trong một thời gian khá dài) sang nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.Kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát mà nước ta lựa chọn trong thời kỳ đổi
mới. Nó vừa mang tính chất chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc
thù, được quyết định bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xó hội.
Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong nước và thế giới về
phát triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong quá
trình lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Mục đích của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh
tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xó hội, nõng cao đời
sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng
quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế tự nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa
mãn nhu cầu cá nhân của con người sản xuất trong một đơn vị kinh tế nhất
định. Người sản xuất quyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu
cầu của mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền.
Trình độ phân công lao động, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất
còn rất thấp và giản đơn: sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín theo từng
vùng từng địa phương, lãnh thổ. Trong các xã hội nguyên thủy, chiếm hữu nô
lệ phong kiến chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự nhiên trên
cơ sở sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế
của những người sản xuất. đó là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất ra
sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để
trao đổi, để bán trên thị trường. Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩm suy
cho cùng là do người mua quyết định. Việc phân phối sản phẩm được thực
hiện thông qua quan hệ trao đổi ( mua- bán) trên thị trường.
4
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm- vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã
nguyên thủy và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức
đầu tiên của nó là nền kinh tế hàng hóa giản đơn. đó là kiểu sản xuất do
những người nông dân, thợ thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất và sức lao động của chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp
trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường.Quan hệ hàng – tiền tệ phát triển
mạnh trong thời kì tan rã của phương thức sản xuất phong kiến quá độ sang
chủ nghĩa tư bản . Đồng thời đó cũng là quá trình chuyển từ kinh tế hàng hóa
giản đơn lên kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Kinh tế hàng hóa tư bản chủ
nghĩa (TBCN) là hình thức sản xuất hàng hóa cao nhất, phổ biến nhất trong
lịch sử,dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động. Hay nói cách
khác, đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa TBCN là dựa trên cơ sở chế độ tư
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
Nền kinh tế hàng hóa TBCN đã trải qua hai giai đoạn :kinh tế thị trường tự do
đều phải thông qua thị trường.
2. Nền KTTT Định hướng xá hội chủ nghĩa ở nước ta.
Là một sự lựa chọn đúng đắn.Trước đây trong quả trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội chủ nghĩa Liên Xô, Đông Âu hay ở Việt Nam cũng có quan điểm
kinh tế cho rằng hàng hóa là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Từ đó nền
kinh tế hàng hóa được vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp .Đây
là một trong những nguyên nhân khủng hoảng của xã hội chủ nghĩa . Theo
quan điểm của đảng ta hiện nay xây dựng “sản xuất hàng hóa không đối lập
với chủ nghĩa xã hội , mà là phát triển của nền văn minh nhân loại , tồn tại
khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ
nghĩa xã hội đã được xay dựng - Văn kiện đại hội đai biểu toàn cuốc lần thứ
VIII
6
Ngoà ra cũng có quan điểm cho rằng kinh tế thị trương không thể dung
hợp với chủ nghĩa xã hội . Còn theo Các-Mác kinh tế hàng hóa tồn tại trong
nhiều nình thức khác nhau có thể khác nhau về quy mô và hình thức phát
triển.
3. Kinh tế thị trường không những tồn tại khách quan mà cần thiết cho
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội .
Nó tồn tại khách quan vì vẫn còn cơ sở cho sự tồn tại và phát triển .Đó là
sự phân công lao động xã hội không mất đi mà còn chuyên hóa sản xuất ngày
càng sâu. Nó diễn ra không những trong từng địa phương ,một nước mà trong
sự phân công hợp tác quốc tế,
Trong thời kỳ qua độ ngay cả dưới chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại những
hình thức sở hữu khác nhau về sở hửu tư liệu sản xuất tức là vẫn còn sự tách
biệt nhất định về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, Ngay cả các doanh nghiệp
cũng dựa trên mối quan hệ sở hữu như doanh nghiệp nhà nước , nhưng cũng
chưa thể phân phổi sản phẩm cho nhau mà không tính toán hiệu quả kinh tế
bởi vì.
Kinh tế phát triển tạo sự tách biệt quyền sử dụng tư liệu sản xuất các