QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM
1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc
lập hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Hệ thống các doanh nghiệp tạo ra
sức mạnh của nền kinh tế, là nơi tạo việc làm và thực hiện các chính sách kinh tế
của Nhà nước. DNNN là một loại hình doanh nghiệp đặc thù do Nhà nước đầu tư
vốn, trực tiếp quản lý với mục tiêu lợi nhuận hoặc thực hiện những nhiệm vụ có
tính công ích do Nhà nước giao.
Trên thế giới, DNNN có mặt ở tất cả các nước mặc dù chế độ chính trị, mô
hình và cơ chế quản lý rất khác nhau. Tuy nhiên, quan niệm về DNNN có sự khác
biệt rõ rệt. Ở nhiều nước, DNNN được quan niệm đồng nghĩa với sở hữu nhà nước,
bao gồm cả các doanh nghiệp kinh doanh và các tổ chức sự nghiệp quản lý các tổ
chức dịch vụ công và các tài sản sở hữu công cộng. Ở những nước khác lại chỉ coi
các đơn vị sở hữu nhà nước hạch toán kinh doanh theo Luật Công ty (Luật Doanh
nghiệp) mới là DNNN. Cho đến nay, khái niệm DNNN vẫn có sự khác nhau khá
nhiều ở các nước khác nhau tùy theo cách tiếp cận rộng hay hẹp về khái niệm này.
Tuy nhiên, điểm chung là các nước đều coi sự hiện diện của DNNN trong nền kinh
tế là cần thiết, và tùy theo thể chế và quan điểm chính sách mà từng nước có quan
niệm rộng hẹp khác nhau. Về tỷ trọng sức mạnh của DNNN cũng có sự khác biệt
giữa các nước: ở những nước tỷ trọng thấp, các DNNN chỉ chiếm 3-10% GDP;
ngược lại ở những nước có tỷ trọng cao, DNNN chiếm trên 20% GDP; những nước
có tỷ trọng trung bình có DNNN chiếm từ 10-20% GDP.
Việt Nam là một nước chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, DNNN là một bộ phận quan trọng trong
hệ thống doanh nghiệp, chiếm giữ những vị trí kinh tế trọng yếu trong nền kinh tế
quốc dân. Trước đây, DNNN được coi là một tổ chức kinh tế đặc thù của Nhà
nước, chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối ở hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng
và giao thông, sau chuyển sang thành các doanh nghiệp hoạt động có tư cách pháp
nhân độc lập và tự chủ về tài chính theo Luật DNNN. Từ năm 2005, theo tinh thần
- Nhà nước sở hữu vốn điều lệ từ 51% trở lên.
- Mục tiêu hoạt động: trên nguyên tắc tự chủ tài chính DNNN cũng theo đuổi
mục tiêu bảo toàn vốn, đạt lợi nhuận cao, thực hiện các mục tiêu phát triển do Nhà
nước giao. Riêng đối với các doanh nghiệp chuyên thực hiện các dịch vụ, nhiệm vụ
mang tính công ích do Nhà nước giao, mục tiêu của doanh nghiệp là hoàn thành các
nhiệm vụ công ích trên nguyên tắc hạch toán và tự chủ tài chính.
Cần phân biệt DNNN với kinh tế nhà nước
Trong lý luận cũng như thực tiễn, rất dễ nhầm lẫn và đánh đồng khái niệm
DNNN với khái niệm kinh tế nhà nước là một khái niệm rất quan trọng trong lý
luận kinh tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Cần phân định và hiểu rõ mối liên
hệ giữa hai khái niệm này.
Kinh tế nhà nước là một khái niệm kinh tế chính trị học để chỉ quan hệ và xác
định vài trò của các thành phần (khu vực) kinh tế trong nền kinh tế nói chung.
Trong khi đó DNNN là khái niệm để chỉ các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp) hạch
toán kinh doanh, tự chủ tài chính, tham gia vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh.
DNNN chỉ là một bộ phận của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước có nội hàm rộng
hơn, phản ánh sức mạnh và quy mô kinh tế của Nhà nước khi tham gia hoạt động,
điều tiết nền kinh tế dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức thành lập các
DNNN để kinh doanh.
Kinh tế nhà nước có ít nhất bốn bộ phận cấu thành sau đây:
- DNNN: những tổ chức kinh tế hạch toán độc lập tham gia vào lĩnh vực kinh
doanh.
- Dự trữ quốc gia: lực lượng kinh tế - tài chính được sử dụng với mục đích
bình ổn thị trường và giữ an ninh kinh tế ở các lĩnh vực cần thiết như lương thực,
vật tư chiến lược, hàng tiêu dùng ứng phó với thiên tai, ngoại tệ, vàng
- Tài chính nhà nước
1
: lực lượng tài chính của Nhà nước tham gia hoạt động
cấp vốn cho các doanh nghiệp dưới hình thức các quỹ tài chính (ngân hàng đặc
biệt) chuyên cấp vốn có hoàn trả để thực hiện các mục tiêu đầu tư phát triển các
cụ của Nhà nước trong kinh doanh, nó thường được gán cho quá nhiều kỳ vọng và
vai trò. Chính vì vậy, trên thực tế, các DNNN thường không thực hiện đầy đủ vai
trò mà xã hội và Nhà nước kỳ vọng. Đây là lý do tại sao DNNN luôn là tâm điểm
chú ý của các cuộc tranh luận về đổi mới kinh tế.
Ở các nước khác, dù là đang phát triển, đã phát triển hoặc chuyển đổi, vai trò
của DNNN cũng là đề tài gây tranh luận. Từ khi lý thuyết can thiệp vào thị trường
theo trường phái J. Keynes được chấp nhận rộng rãi và áp dụng vào điều hành kinh
tế, các nước đều có xu hướng coi trọng các DNNN, gán cho nó rất nhiều sứ mệnh,
vai trò về kinh tế, chính trị, xã hội. Hàng loạt biện pháp quốc hữu hóa rầm rộ ở
những ngành mà tư nhân tỏ ra kém hiệu quả mà tập trung ở các ngành dịch vụ
công, dịch vụ kết cấu hạ tầng. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, khu vực
DNNN ở các nước nói chung đều chứng tỏ rằng, DNNN hoạt động không hiệu quả
bằng khu vực tư nhân. Do vậy, trong 30 năm trở lại đây, các nước lại có phong trào
tư nhân hóa hàng loạt DNNN. Hệ quả là các nước thường có những biện pháp trái
ngược nhau ở các giai đoạn khác nhau: lúc thì rầm rộ quốc hữu hóa, tăng tỷ trọng
và vai trò của các DNNN; lúc thì tư nhân hóa hàng loạt, giảm mạnh tỷ trọng và vai
trò của khu vực này.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, DNNN
có ba vai trò rõ rệt:
- Vai trò kinh tế
Vai trò kinh tế của DNNN thể hiện ở bốn nội dung sau:
+ Là bộ phận chủ lực của kinh tế nhà nước tham gia vào các lĩnh vực kinh
doanh cần thiết, góp phần để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân. Để thực hiện vai trò này, các DNNN được thành lập và phát triển với
định hướng, quy mô đủ lớn ở những lĩnh vực kinh doanh cần thiết cho việc thực
hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đó là các lĩnh vực mũi nhọn về kinh tế
mà khu vực tư nhân chưa có khả năng hoặc không muốn đầu tư như điện lực, viễn
thông, khai thác dầu khí, khoáng sản, sản xuất dầu khí, hóa chất, phân bón, vận tải
hàng không, đường sắt Ở những lĩnh vực này DNNN chiếm tỷ trọng tuyệt đối
hoặc áp đảo nhằm khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước trong các ngành chủ lực
cầu của thị trường.
+ Là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô đối với nền
kinh tế. Thực hiện vai trò này, các DNNN ở những ngành liên quan đến các cân đối
vĩ mô quan trọng của từng thời kỳ phải có quy mô và tiềm lực đủ lớn, khi cần thiết
làm công cụ thực hiện mục tiêu điều tiết các cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Các
điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước cần có sự góp sức của các DNNN bao
gồm: điều tiết tổng cung - tổng cầu, điều tiết về giá, điều tiết lãi suất, điều tiết cân
đối tiền - hàng, điều tiết cung - cầu các mặt hàng chủ lực trong những thời điểm
nhạy cảm hoặc tình huống thiên tai Khi thực hiện vai trò là lực lượng vật chất để
Nhà nước điều tiết vĩ mô, các DNNN được Nhà nước hỗ trợ về các điều kiện vật
chất, tài chính và cơ chế, nhưng các doanh nghiệp phải triệt để và nỗ lực phối hợp
với Nhà nước để đạt mục tiêu về điều tiết vĩ mô.
+ DNNN là công cụ điều chỉnh dài hạn trong phát triển kinh tế. Thực hiện vai
trò này, các DNNN được đầu tư, phát triển ở các ngành, các lĩnh vực mới có triển
vọng chiến lược nhưng khu vực tư nhân chưa có đủ khả năng phát triển hoặc do
hiệu quả ban đầu quá thấp. Đến khi phát triển tốt, hiệu quả cao, đủ sức hấp dẫn các
thành phần khác đầu tư, DNNN lại chuyển giao cho khu vực tư nhân để đầu tư vào
những lĩnh vực mới khác
- Vai trò xã hội
Vai trò xã hội của DNNN thể hiện ở hai nội dung sau:
+ Đảm nhận sản xuất, cung ứng dịch vụ ở một số lĩnh vực liên quan đến
cung cấp hàng hóa công cộng, các hoạt động kinh tế gắn với an ninh - quốc
phòng, gắn với chiến lược phát triển vùng của quốc gia.
+ Tham gia thực hiện một số chính sách xã hội mà Nhà nước cần có doanh
nghiệp thực hiện như cung cấp nhu yếu phẩm cho đồng bào dân tộc, cung cấp vốn
cho các chương trình chính sách xã hội, phát triển nông thôn
- Vai trò chính trị
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò chính trị của các
DNNN thể hiện ở chỗ toàn bộ hệ thống DNNN phải là lực lượng quan trọng góp
phần củng cố và phát triển hệ thống chính trị, giúp Nhà nước thực hiện những mục
hành pháp) thực hiện quản lý theo chức năng của mình. Điều này làm cho các quan
hệ quản lý đối với DNNN trở nên chồng chéo, cồng kềnh vừa có nguy cơ gây rối
loạn quản lý, vừa làm kìm chế quyền tự chủ, sự năng động, sáng tạo của các doanh
nghiệp.
Thứ tư, dù thiết lập mô hình quản trị nào thì quản trị các DNNN cũng kém
năng động do chế độ quyền hạn – trách nhiệm không rõ ràng, sòng phẳng, không
có sự giám sát thiết thực và hiệu quả, do vậy trách nhiệm giải trình của lãnh đạo
doanh nghiệp không rõ ràng. Đặc điểm này bắt nguồn từ ba đặc điểm đã nêu ở trên
về quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và cơ quan quản lý nhà nước.
Các DNNN trong bối cảnh không rõ về chủ sở hữu, quản lý chồng chéo, quan liêu,
nên không thể có mô hình quản trị năng động, sáng tạo, rõ ràng về trách nhiệm như
khu vực tư nhân. Các giám đốc (hoặc chủ tịch Hội đồng quản trị/ Hội đồng thành
viên) ở các DNNN thường phải theo đuổi quá nhiều mục tiêu, chiều lòng quá nhiều
cơ quan quản lý nhà nước và chủ quản, do vậy không thể toàn tâm toàn ý vào mục
tiêu hiệu quả của doanh nghiệp, mặt khác, quyền chủ động về quản trị, quyết định
kinh doanh luôn bị hạn chế, do vậy không phát huy hết khả năng sáng tạo trong
kinh doanh. Mặt khác, giám đốc doanh nghiệp cũng không chịu áp lực và ràng
buộc rõ ràng về trách nhiệm giải trình trước chủ sở hữu về kết quả sản xuất kinh
doanh, dễ dẫn đến nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Thứ năm, các DNNN thường chậm đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc,
sử dụng tài nguyên, nhân lực kém hiệu quả, kết quả là hoạt động sản xuất kinh
doanh kém hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác cùng điều kiện. Đặc điểm này
là hệ quả trực tiếp từ các đặc điểm đã nêu.
1.4. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
DNNN ở Việt Nam hiện nay có nhiều loại. Phổ biến có các cách phân loại sau
đây để nhận diện:
- Phân theo tỷ trọng sở hữu của Nhà nước: Có hai loại:
+ DNNN 100% vốn nhà nước. Các doanh nghiệp loại này được đăng ký dưới
hình thức pháp lý công ty TNHH nhà nước một thành viên. Loại này áp dụng cho
các doanh nghiệp quy mô lớn, quan trọng, hoặc các doanh nghiệp đặc biệt mà Nhà
+ Tổng công ty: bao gồm các Tổng công ty 91 do Thủ tướng quyết định thành
lập và các Tổng công ty 90 do cấp bộ, UBND tỉnh quyết định thành lập. Mô hình
quản trị các tổng công ty có hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành.
+ Công ty độc lập: bao gồm các DNNN quy mô vừa và lớn hoạt động độc lập.
Mô hình quản trị các doanh nghiệp này hoặc có hội đồng quản trị (nếu quy mô lớn
hoặc là công ty hỗn hợp nhà nước sở hữu dưới 100% vốn), hoặc có chủ tịch công
ty (nếu quy mô vừa). Các doanh nghiệp này do bộ và UBND tỉnh thành lập và
quản lý.
+ Công ty thành viên của một DNNN khác: bao gồm các doanh nghiệp trực
thuộc (công ty con) của DNNN khác (công ty mẹ). Các doanh nghiệp này do công
ty mẹ quyết định thành lập và quản lý.
- Phân theo tính chất độc quyền của doanh nghiệp
Theo tiêu chí độc quyền có hai loại:
+ DNNN độc quyền: bao gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước giao nhiệm vụ
độc quyền kinh doanh một ngành nào đó. Những doanh nghiệp này phải có đủ sức
mạnh, quy mô đảm nhận cung ứng hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi toàn ngành cho
nền kinh tế.
+ DNNN cạnh tranh: bao gồm các doanh nghiệp ở các ngành cạnh tranh với
các doanh nghiệp khác. Loại này lại gồm 2 loại nhỏ: cạnh tranh trong khuôn khổ
độc quyền nhà nước (chỉ có các DNNN cạnh tranh với nhau) và cạnh tranh bình
đẳng với các doanh nghiệp khu vực khác.
2. QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC
2.1. Phân định quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh đối với doanh
nghiệp nhà nước
Trước hết, cần phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của Nhà nước và
chức năng quản trị kinh doanh của bản thân doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ
đặc điểm của DNNN vừa là một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước vừa là một
doanh nghiệp độc lập về tài chính, có quyền tự chủ trong kinh doanh, tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng có 2 chức năng
DNNN là một loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Vì
vậy chúng phải chịu sự quản lý của Nhà nước theo thể chế quản lý chung đối với
các doanh nghiệp nói chung.
Chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung, trong đó có
DNNN có các nội dung chính sau đây:
- Ban hành khung khổ pháp lý để doanh nghiệp hoạt động. Theo đó, Nhà
nước ban hành khung khổ pháp lý chung tạo môi trường pháp lý cho doanh nghiệp
hoạt động. Hệ thống luật tạo môi trường pháp lý cho doanh nghiệp bao gồm bốn
loại: Thứ nhất, luật pháp điều chỉnh quá trình thành lập, hoạt động, giải thể - phá
sản doanh nghiệp bao gồm Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phá sản. Thứ
hai, các luật chung quy định về quyền kinh doanh và môi trường kinh doanh nói
chung như: Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Phá sản, Luật Đất đai, Luật Lao
động Thứ ba, các luật riêng điều chỉnh quá trình thành lập, hoạt động của các
doanh nghiệp ở các ngành và lĩnh vực đặc thù như kinh doanh ngân hàng, tài chính,
dầu khí, khai thác tài nguyên, xuất khẩu lao động. Thứ tư, các luật điều chỉnh quan
hệ tài chính với Nhà nước bao gồm các luật thuế liên quan đến doanh nghiệp là đối
tượng nộp thuế.
Đối với riêng DNNN, mặc dù không có văn bản luật dành riêng nhưng Nhà
nước ủy quyền cho Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy dưới luật quy định
về điều kiện thành lập, cơ chế quản lý, mô hình quản trị, cơ chế trả lương cho lãnh
đạo doanh nghiệp
- Ban hành và thực hiện các chính sách đối với doanh nghiệp. Theo đó, Nhà
nước tùy theo mục tiêu và định hướng chiến lược của mình ban hành các chính
sách liên quan đến doanh nghiệp. Hệ thống chính sách này bao gồm các chính sách
ưu đãi, các chính sách hạn chế và chính sách hỗ trợ theo tiêu chí ngành, lĩnh vực
mà Nhà nước thấy cần thiết phải áp dụng chính sách. Các chính sách này phải bảo
đảm nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa DNNN và doanh nghiệp
khu vực tư nhân.
Đối với các DNNN, Nhà nước không có chính sách riêng nhưng có thể có
chủ trương và biện pháp điều hành dành riêng cho các doanh nghiệp này trong
nghiệp.
2.2.2. Thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước
Đối với DNNN, ngoài việc quản lý nhà nước với doanh nghiệp nói chung,
Nhà nước còn phải thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp.
Về mặt nguyên tắc, Nhà nước có thể thực hiện quyền sở hữu của mình thông
qua hội đồng quản trị/ hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty như Luật Doanh
nghiệp 2005 quy định. Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện quyền sở hữu thông
qua các định chế này và đã khá thành công trong quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên,
ở Việt Nam hiện nay, các định chế nêu trên hoạt động chưa hiệu quả. Các định chế
này trên thực tế thể hiện như là thủ trưởng trực tiếp hơn là người đại diện chủ sở
hữu tại DNNN. Hội đồng quản trị và thành viên hưởng lương hoặc phụ cấp trực
tiếp từ DNNN theo kết quả kinh doanh và chế độ phân phối thu nhập của doanh
nghiệp, do vậy họ có xu hướng theo đuổi mục tiêu lợi ích nhóm của DNNN, xa rời
các lợi ích chung của xã hội mà Nhà nước đại diện. Do vậy, ở Việt Nam, việc thực
hiện chức năng chủ sở hữu đối với các DNNN đòi hỏi phải bổ sung nhiều nhiệm vụ
của cơ quan quản lý nhà nước trong việc điều hành, giám sát hoạt động của
DNNN.
Thực hiện chức năng này, Nhà nước tiến hành các công việc sau đây:
- Hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển các DNNN trong hệ thống
doanh nghiệp của quốc gia. Đây là công việc rất quan trọng quyết định định hướng
phát triển hệ thống DNNN và có tác dụng định hướng dài hạn cho các DNNN phát
triển. Để thực hiện công việc này, Nhà nước phải xác định rõ mục tiêu phát triển
dài hạn của các DNNN về ngành nghề, phạm vi, quy mô, tốc độ. Đồng thời, cân
đối đủ các nguồn lực cần thiết, xác định rõ lộ trình thực hiện các mục tiêu. Xu
hướng chung về chiến lược phát triển DNNN là ngày càng thu hẹp về số lượng và
phạm vi, tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm cần thiết, tăng quy mô và sức
mạnh của các doanh nghiệp cụ thể. Việc bảo đảm vốn đầu tư và phát triển mới cho
các DNNN phải dựa trên nguyên tắc tự tích lũy từ chính hoạt động của các DNNN,
cộng với quyền điều chuyển, thoái vốn của Nhà nước từ các doanh nghiệp cạnh
tranh có hiệu quả thông qua cổ phần hóa, bán cổ phần nhà nước.
con kinh doanh đơn ngành hoặc đa ngành. Mô hình này lại có 2 loại nhỏ: Tổng
công ty lớn do Thủ tướng Chính phủ quyết định và quản lý (áp dụng theo Quyết
định 91/Ttg) và Tổng công ty do cấp ngành hoặc địa phương quyết định và quản lý
(áp dụng theo Quyết định 90/Ttg).
+ Mô hình công ty kinh doanh và đầu tư vốn nhà nước. Theo mô hình này,
thông qua một công ty chuyên quản lý vốn (Holding) để quản lý các DNNN
khác. Hiện nay mô hình này mới áp dụng ở Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh
vốn Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính (Tổng công ty SCIC).
+ Mô hình công ty chuyên ngành trực thuộc bộ hoặc địa phương. Mô hình này
áp dụng cho các công ty chuyên ngành kinh doanh mặt hàng đặc biệt (xổ số, giải
trí) và các dịch vụ công ích như cấp thoát nước, cây xanh, môi trường, khai thác
thủy lợi, quốc phòng
- Thực hiện các đợt sắp xếp lại (từ cấu trúc) các DNNN. Việc sắp xếp, tổ chức
lại các DNNN thường được làm theo đợt, theo nhu cầu đổi mới của cơ chế quản lý
và thực trạng hoạt động của các DNNN và nền kinh tế nói chung. Theo đó, Nhà
nước chủ động đề ra kế hoạch và thực hiện kế hoạch tổ chức, sắp xếp lại (tái cấu
trúc) các DNNN để định hướng phát triển các DNNN theo mục tiêu của Nhà nước.
Mục tiêu của các cuộc tái cấu trúc DNNN là thông qua việc sáp nhập, giải thể, cổ
phần hóa tổ chức lại các doanh nghiệp theo hướng tăng năng lực cạnh tranh, giảm
bớt các đầu mối quản lý doanh nghiệp, giảm mạnh về số lượng kết hợp với việc
thay đổi cơ chế quản lý và giám sát. Nhiệm vụ sắp xếp lại thường trong thực hiện
thường gặp rất nhiều trở ngại do đụng chạm đến quyền lợi, của rất nhiều người
trong các DNNN và trong bộ máy quản lý nhà nước.
- Giám sát các DNNN. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của chủ sở hữu nhà
nước để đảm bảo sự giám sát chặt chẽ các hoạt động của DNNN. Sự giám sát này
có thể tiến hành lồng ghép với nghiệp vụ kiểm tra, thanh tra chung đã nêu ở phần
trên. Tuy nhiên, giám sát DNNN còn có những tính chất và nội dung riêng. Trước
hết, phải giám sát sự thực hiện các mục tiêu chiến lược của Nhà nước liên quan đến
doanh nghiệp. Thứ hai, giám sát tài chính DNNN phải theo nguyên tắc định kỳ (ít
nhất hàng năm) để các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng hiểu rõ tình hình
số đỉnh cao vào năm 1990 trên 12.300 doanh nghiệp, trong đó hơn 60% là doanh
nghiệp địa phương quy mô nhỏ. Tuy nhiên, đến đầu năm 1991, khi đất nước thực
sự phải chuyển sang cơ chế thị trường, không còn nguồn bao cấp từ các nước
XHCN nữa, hàng loạt DNNN tỏ ra yếu kém và tan rã.
- Giai đoạn 1991-2005
Đây là giai đoạn đổi mới triệt để toàn bộ hệ thống DNNN nói chung. Đầu
tiên, bằng Nghị định 388/HĐBT (1991) các DNNN phải đăng ký lại, chuyển đổi
tên gọi thành các công ty, tổng công ty theo cơ chế thị trường. Qua đăng ký lại,
Nhà nước thực hiện xóa tên, giải thể, sáp nhập hàng loạt doanh nghiệp nhỏ, yếu
kém, chồng chéo chức năng, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có năng
lực xây dựng thương hiệu kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường. Kết quả là đã
giảm số lượng DNNN từ 12.300 xuống còn 6.050. Tuy số lượng giảm mạnh nhưng
các DNNN vẫn tăng lên về quy mô, tỷ trọng, đảm nhận tốt vai trò của mình trong
nền kinh tế.
Đến năm 1995, với việc ban hành Luật DNNN đánh dấu bước đổi mới quan
trọng về quản lý DNNN. Theo tinh thần Luật DNNN, tiếp tục khuyến khích các
doanh nghiệp quy mô lớn và có hiệu quả phát triển, hình thành các tổng công ty,
tập đoàn kinh tế toàn ngành. Đồng thời rà soát theo Luật DNNN để giải thể, sáp
nhập những doanh nghiệp yếu kém. Trong giai đoạn này, đáng chú ý là Chính phủ
đã có hàng loạt biện pháp về sắp xếp lại các DNNN kết hợp với các biện pháp triển
khai cơ chế quản lý mới theo khung khổ của Luật DNNN 1995. Kết quả là các
DNNN tiếp tục giảm mạnh về số lượng (đến năm 2005 chỉ còn 4011 doanh
nghiệp), nhưng hệ thống DNNN vẫn có sự tăng trưởng khá về tổng thể, phát huy
được vai trò của mình về tỷ trọng, thu nộp ngân sách, đảm nhận những ngành trọng
yếu Tuy nhiên, các DNNN vẫn còn quá nhiều về số lượng, phát triển ở quá nhiều
ngành, lĩnh vực, không cần thiết, nhiều doanh nghiệp tỏ ra không hiệu quả, mô
hình quản lý vẫn tỏ ra lúng túng
- Giai đoạn từ 2006 đến nay
Với việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp 2005 đã chính thức bãi bỏ
Luật DNNN 1995, các DNNN từ năm 2006 phải chuyển sang hoạt động theo Luật
kết với khu vực tư nhân cùng phát triển.
- Chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với DNNN có nhiều thay đổi
nhưng luôn định hướng đến mục tiêu phát huy tiềm năng, thế mạnh, hiệu quả của
khu vực DNNN trong hệ thống kinh tế nhà nước. Trong quá trình đó, Nhà nước
đã thành công trong việc đổi mới cơ chế, kết hợp với các đợt mạnh dạn sắp xếp,
tổ chức lại để giảm mạnh về số lượng DNNN nhưng vẫn không làm suy yếu năng
lực sản xuất và gây ra những biến động xã hội lớn.
- Trong những năm gần đây, đã mạnh dạn áp dụng Luật Doanh nghiệp chung
và chuyển đổi các DNNN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005. Bước thực hiện
Luật Doanh nghiệp chung kết hợp với Luật Đầu tư chung đã góp phần đáng kể tạo
lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy các thành phần kinh tế và toàn bộ
nền kinh tế phát triển.
- Đã mạnh dạn cổ phần hóa, xã hội hóa hàng loạt DNNN với quy mô lớn,
mạnh dạn áp dụng các hình thức quản trị công ty cổ phần vào các DNNN sau cổ
phần hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát
triển của thị trường chứng khoán.
- Bước đầu xác lập cơ chế quản lý cán bộ và thử nghiệm những mô hình tuyển
dụng, bổ nhiệm và quản lý cán bộ quản lý, lãnh đạo các DNNN; đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý ở các DNNN đã có sự trưởng thành nhất định về năng lực quản
lý, đảm nhận được vị trí, vai trò của mình.
Những khuyết điểm, tồn tại
- Về quan điểm, nhận thức: vẫn chưa có sự thống nhất về quan điểm, nhận
thức về vị trí, vai trò, phạm vi, phương thức quản lý đối với các DNNN, nhất là
đối với các DNNN đặc thù ở các lĩnh vực quân sự, công ích, kinh doanh một số
ngành đặc biệt. Còn có sự lầm lẫn về vai trò, vị trí giữa DNNN với kinh tế nhà
nước nói chung. Chưa có sự phân định rõ ràng về hình thức tổ chức, cơ chế quản
lý của các tổ chức sự nghiệp có thu khi thực hiện chuyển đổi sang doanh nghiệp
Những điều đó dẫn đến sự chậm trễ, thậm chí sai lầm trong hoạch định và thực
hiện chiến lược phát triển DNNN nói chung cũng như từng DNNN nói riêng.
- Đến nay vẫn duy trì một khu vực DNNN quá lớn về tỷ trọng, số lượng,
được đặc biệt chú trọng với tên gọi mới là tái cấu trúc/ tái cơ cấu với tinh thần, nội
dung mới.
Thứ nhất, tái cấu trúc lần này phải kết hợp giữa tái cấu trúc toàn bộ hệ thống
DNNN trên 5 phương diện (ngành nghề, tài chính, quản lý công ty, quản lý nhà
nước, khung khổ pháp lý) với tái cấu trúc theo thực thể DNNN ở từng tập đoàn,
tổng công ty, công ty, gắn với mô hình mới về tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thứ hai, về mục tiêu, tái cấu trúc lần này đề cao mục tiêu nâng cao năng lực
hoạt động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sức cạnh tranh của từng DNNN nói riêng
và toàn bộ hệ thống DNNN nói chung sao cho tương xứng với nguồn lực của khu
vực này. Ngoài ra, mục tiêu lành mạnh hóa năng lực tài chính, thiết lập cơ chế giám
sát tài chính hiệu quả, bảo đảm cho các DNNN phát triển và hoàn thành nghĩa vụ
tài chính đối với Nhà nước.
Thứ ba, tái cấu trúc DNNN phải gắn với bảo đảm một môi trường cạnh tranh
bình đẳng giữa DNNN với các loại hình doanh nghiệp khác.
Thứ tư, tiếp tục xây dựng các DNNN quy mô lớn dạng tập đoàn, với số lượng
không nhiều nhưng phải thực sự mạnh, cùng với các tập đoàn kinh tế thuộc các
thành phần khác giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt, điều tiết kinh tế ở phạm vi quốc gia.
Thứ năm, về giải pháp, áp dụng mạnh những giải pháp chính sau đây:
- Dựa trên các tiêu chí như tầm quan trọng, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động,
hiệu quả hoạt động, phân định rõ ba loại DNNN: loại Nhà nước giữ 100% vốn sở
hữu, loại từ 75-99%, loại từ 51-74%. Các doanh nghiệp không thuộc diện giữ tư
cách pháp lý DNNN phải chuyển đổi sang khu vực tư nhân.
- Tập trung phát triển các DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, có
ý nghĩa then chốt trong nền kinh tế quốc dân.
- Kiên quyết thu hẹp, giải thể, phá sản các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả,
không cần thiết, không còn cơ sở tồn tại.
- Xác lập mô hình quản lý công ty và quản trị doanh nghiệp theo hướng chủ
yếu chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, hạn chế mô hình công ty
trách nhiệm hữu hạn, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Các doanh nghiệp hoạt
động công ích phải bãi bỏ cơ chế bao cấp về tài chính, chuyển sang cơ chế đặt
nước
Dù hoạt động trong môi trường bình đẳng, cạnh tranh, nhưng DNNN là các
doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nên Nhà nước vẫn phải có một số chính sách
đối với riêng khu vực này. Các chính sách này là các chính sách chuyên biệt không
vi phạm môi trường kinh doanh bình đẳng. Sau đây là những chính sách điển hình
phải ban hành và thực hiện.
- Hoàn thiện và tuân thủ triệt để chính sách về bảo toàn và phát triển vốn.
Phải làm rõ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người đứng đầu, tập thể lãnh
đạo và toàn bộ doanh nghiệp đối với mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn. Các
tiêu chí đánh giá về mức độ bảo toàn và phát triển vốn cũng phải được soạn thảo
và áp dụng.
- Chính sách sử dụng các nguồn lực do Nhà nước giao, đặc biệt là nguồn lực
đất đai, tài nguyên, quyền kinh doanh, tránh tình trạng lợi dụng việc được giao sử
dụng quyền lực để kinh doanh kiểm lời phục vụ lợi ích nhóm.
- Chính sách đối với các DNNN kinh doanh độc quyền, đặc biệt là các doanh
nghiệp độc quyền tư nhân.
- Chính sách ưu đãi khi thực hiện những nhiệm vụ đầu tư cũng phát triển các
ngành trọng điểm hoặc thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội, an ninh, quốc
phòng.
- Chính sách hỗ trợ đào tạo các ngành nghề phát triển trọng điểm quốc gia
như: điện hạt nhân, công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng
3.2.4. Nâng cao chất lượng kiểm tra giám sát doanh nghiệp nhà nước