Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay – những vấn đề cần hoàn thiện
A. PHẦN MỞ BÀI:
Trong bối cảnh thế giới đương đại, xu hướng chung của các nước là tìm cách ban hành
những đạo luật riêng về từng loại thuế và cố gắng tách bạch các quy định về hành chính thuế
ra khỏi các đạo luật về thuế, bằng cách ban hành một đạo luật riêng, gọi là Luật về quản lý
thuế. Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu.
Bài viết này sẽ phân tích về thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay, và những
vấn đề cần hoàn thiện.
B. PHẦN THÂN BÀI:
I. Khái niệm về pháp luật quản lý thuế:
Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuế thường được
quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác
định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các
tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động
này đều có thể được gói gọn trong một thuật ngữ là “ pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào
quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các
đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế.
Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế
của nhà nước ( quan hệ quản lý trong việc thu nộp thuế cho ngân sách nhà nước của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đối với các đối tượng nộp thuế và các đối tượng khác có liên
quan).
Một cách tổng quát, có thể hình dung pháp luật quản lý thuế bao gồm các nhóm quy định
cơ bản sau đây:
Một là: Các quy định về đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu và
hoàn thuế. Đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu và hoàn thuế là
những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay, quy trình này theo hướng dành quyền chủ động tối đa cho
người nộp thuế trong việc tự đăng ký thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho nhà nước,
biệt có thêm nhiều nội dung mới mà trước đây các luật về chính sách thuế chưa có điều kiệ
quy định như: Nguyên tắc quản lý thuế, trách nhiệm của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị
trấn. Trách nhiệm của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Trách nhiệm của Mặt trận tổ
quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Trách nhiệm của cơ quan thông tin,
báo chí trong việc quản lý thuế. Hợp tác quốc tế về quản lý thuế, xây dưng lực lượng quản lý
thuế, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế,
thông tin người nộp thuế, gia hạn nộp thuế, xóa nợ thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế......
Qua nghiên cứu Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành, có thể
đánh giá tổng quan, về hình thức, Luật quản lý thuế Việt Nam khá hoàn chỉnh, thống nhất.
Trong đó, Luật quản lý thuế quy định các vấn đề chung nhất, bao quát và toàn diện nhất, cụ
thể như sau:
Thứ nhất: Luật quản lý thuế quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có
phạm vi điều chỉnh thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế ( thuế nội địa và thuế đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu), các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan thuế
quản lý thu theo quy định của pháp luật. Các quy định của Luật đáp ứng yêu cầu cải cách
hành chính nhà nước thông qua các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng,
đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, cơ chế tự tính, tự khai, tự
nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế. Cơ quan thuế chuyển
sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế,
phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của
người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế.
a. Trong công tác quản lý thuế:
Luật quản lý thuế đã quy định đầy đủ các nội dung trong công tác quản lý thuế. Từ đó tạo
thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, từ việc đăng ký thuế, khai
thuế, nộp thuế, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.....
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
2
Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay – những vấn đề cần hoàn thiện
Về thủ tục đăng ký thuế: Luật quy định cụ thể về đối tượng phải đăng ký thuế, thời hạn
b. Trong xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế:
Thông tin về người nộp thuế là yêu cầu quan trọng của công tác quản lý thuế hiện đại,
đảm bảo cơ quan quản lý thuế theo dõi, tổng hợp, phân tích.
Hệ thống thông tin về người nộp thuế được xây dựng từ các nguồn: Thông tin từ hồ sơ
thuế do người nộp thuế kê khai, gửi cơ quan quản lý thuế; thông tin từ các cơ quan nhà nước,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến người nộp thuế.
Trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế của các cơ quan quản lý nhà nước được
quy định thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Cung cấp thông tin tự động theo phát sinh sự kiện liên quan đến người nộp
thuế: Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp Giấy phép thành lập và
hoạt động có trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
3
Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay – những vấn đề cần hoàn thiện
doanh, Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký
kinh doanh, quyết định sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản của tổ chức, cá nhân nộp thuế
trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày phát sinh các sự kiện trên và các thông tin khác
theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, Kho bạc Nhà Nước có trách nhiệm cung cấp thông tin
cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đã nộp, đã hoàn của người nộp thuế.
- Nhóm 2: Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế: Ngân hàng, tổ chức
tín dụng có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản của người nộp thuế trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế.
Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử
dụng đất, sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Cơ quan công an có trách nhiệm cung
cấp, trao đổi thông tin liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm về trật tự quản lý kinh
tế và an ninh quốc gia liên quan đến quản lý thuế. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm
cung cấp thông tin về chi trả thu nhập và số thuế khấu trừ của người nộp thuế theo yêu cầu
của cơ quan quản lý thuế. Cơ quan quản lý thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về
chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài;
thông tin về quản lý thị trường.
cầu của người ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
Thứ hai, xác định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia quản lý thuế,
nhất là các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Xuất phát từ quan điểm tiền thuế phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Do đó, mọi tổ
chức, cá nhân trong xã hội phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế:
a. Luật quản lý thuế quy định quyền hạn và trách nhiệm của người nộp thuế trong đó bổ
sung một số quyền cho người nộp thuế:
Được hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế; được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến
việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích việc tính thuế, ấn định
thuế, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giám định chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất nhập
khẩu. Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giữ bí mật thông tin. Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh
dịch vụ làm thủ tục về thuế thay mặt mình làm các thủ tục về thuế.
b. Luật quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm và quyền của cơ quan quản lý thuế.
Trong đó:
Nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ
tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức
quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ. Quy định cụ thể quy trình tiếp nhận, xử
lý hồ sơ thuế, Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trong thời hạn 3 ngày phải thông báo
cho người nộp thuế biết để hoàn thiện hồ sơ. Quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo cơ chế một
cửa, ấn định rõ thời hạn giải quyết từng loại hồ sơ thuế. Trách nhiệm trong việc xây dựng hệ
thống thông tin về người nộp thuế làm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá mức độ tuân thủ
trên cơ sở phân tích tập trung vào đối tượng có nhiều khả năng vi phạm. Quy định trách
nhiệm kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế nộp thuế, xử phạt hành chính đối với hành vi
vi phạm pháp luật thuế. Quy định cơ quan quản lý thuế được quyền ký kết hợp đồng ủy niệm
thu thuế với tổ chức, cá nhân để thu một số loại thuế, khoản thu. Bên được ủy nhiệm thu thuế
thông qua hợp đồng được hưởng kinh phí ủy nhiệm thu trích từ kinh phí khoán chi của cơ
quan quản lý thuế.
c. Luật quản lý thuế quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia công
tác quản lý thuế:
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc chấp
tự động kiểm tra, soát xét tính đầy đủ của thông tin khai trong hồ sơ thuế. Người nộp thuế
cũng sẽ biết ngay được các lỗi kê khai để hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ kịp thời theo quy định,
tránh được các lỗi sai sót không cần thiết.
e. Thời hạn nộp thuế được quy định gắn với thời hạn khai thuế vừa bảo đảm phù hợp với
tính chất của từng loại thuế, vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế dễ nhớ, dễ thực hiện và
không phải làm các thủ tục hành chính thuế rải rác nhiều ngày trong tháng, giảm phiền hà cho
người nộp thuế.
Ví dụ: Ngày 20 hàng tháng là ngày cuối của thời hạn nộp thuế của loại khai thuế theo
tháng ( thuế GTGT tháng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên,...)
f. Đối với số tiền thuế nộp thừa hoặc số tiền thuế thuộc diện được hoàn, người nộp thuế
được quyền lực chọn hoặc yêu cầu cơ quan thuế làm thủ tục hoàn trả ngay, hoặc để thanh toán
cho số thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo.
Thứ tư: Các quy định của Luật quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế của đất nước:
a. Luật quản lý thuế mở rộng các hình thức giao dịch làm thủ tục về thuế như khai thuế
điện tử, nộp tiền thuế theo hình thức chuyển khoản.....tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể
hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước mọi lúc, mọi nơi, không bị bó hẹn trong giới hạn giờ làm
việc hành chính.
b. Về kiểm tra, thanh tra thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế để lựa
chọn đối tuowgj kiểm tra thuế, thanh tra thuế.
c. Luật quy định khung pháp lý cho hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục
về thuế.... Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải là doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ có điều kiện, được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, có
ngành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế. Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế được
thay mặt người nộp thuế thực hiện một trong các thủ tục: Khai thuế, nộp thuế, quyết toán
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
6
Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay – những vấn đề cần hoàn thiện
thuế, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn
theo quy định của luật này và pháp luật khác có liên quan. Tổ chức này chịu trách nhiệm với
đương nhiên kéo theo sự thay đổi, bổ sung của Luật quản lý thuế và theo đó, vô hình trung, đã
phá vỡ tính ổn định của Luật quản lý thuế. Có lẽ giải pháp tốt nhất, các vấn đề quản lý có tính
chất đặc thù của từng sắc thuế nên quy định trong các luật về chính sách thuế. Điều này sẽ có
hiệu ứng tốt hơn trong việc đảm bảo thực hiện các chinh sách thuế của các chủ thể có nghĩa
vụ thuế.
Thứ ba, Luật quản lý thuế vẫn còn đảm nhiệm sứ mệnh “ giải quyết tình thế” cho các luật
về chính sách thuế.
Chẳng hạn tại Điều 65, Luật quản lý thuế quy định các trường hợp được xóa nợ tiền thuế,
tiền phạt “1. Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy
định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt; 2. Cá nhâ được
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
7