LỜI NÓI ĐẦU
Từ giữa thập kỷ 80 đến nay, xu hướng hình thành các khối kinh tế khu vực
ngày càng phát triển, tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế thế giới, trong đó
nổi bật nhất là Liên minh Châu Âu (EU).
EU là quá trình hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia độc lập về chính trị ở
Châu Âu, lớn nhất trong khối các nước tư bản chủ nghĩa. EU được thành lập
năm 1957, đến nay bao gồm 15 nước thành viên: Đức, Pháp, Anh, Italia, Hà
Lan, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Hy Lạp, Luychxambua, Ailen,
Áo, Phần Lan và Thuỵ Điển. Trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Liên minh kinh tế
và tiền tệ Châu Âu đang trở thành một "cực" rất mạnh của nền kinh tế thế giới,
thúc đẩy việc thống nhất tiền tệ để thành lập và hoàn thiện thị trường chung
Châu Âu.
Thống nhất tiền tệ đã và đang diễn ra ở Châu Âu. Mặc dù là sự kiện riêng của
Châu Âu, song nó có tác động đến toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy,
việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thống nhất tiền tệ Châu Âu có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó không những cho phép chúng ta nhìn nhận một cách
khách quan về sự thích ứng của nền kinh tế các nước trên thế giới trong điều kiện
mới của tái sản xuất xã hội và trong bối cảnh kinh tế quốc tế đang biến đổi, mà còn
cung cấp những căn cứ, hình thức cụ thể của loại hình liên kết này như là cơ sở chủ
yếu của quan hệ kinh tế mà các nước Châu Âu đã và đang thực hiện.
Do hiểu biết còn hạn chế, cho nên bản đề án này chỉ tổng hợp được những
thông tin về quá trình hình thành, ra đời của đồng EURO của Liên minh kinh tế
và tiền tệ Châu Âu, và phân tích những tác động của nó đến nền kinh tế thế giới
và Việt Nam. Người viết xin được chia bản đề án thành ba phần:
Phần I : Liên minh Châu Âu và sự ra đời của đồng tiền chung Châu
Âu - EURO.
Phần II : Tác động của đồng EURO đến nền kinh tế thế giới.
Phần III : Các vấn đề đặt ra trong giai đoạn chuyển đổi.
Tác giả rất mong được tiếp thu những chỉ dẫn và ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn!
quá trình tự do hoá kinh tế ở các nước này trong những năm gần đây đã phát huy tích
cực. Thị trường lao động ở các nước EU đã linh hoạt hơn. Các công ty thuê công nhân
theo hợp đồng bán phần, nhất là trong các ngành công nghệ mới. 85% số lao động mới
thuê của Pháp là theo hợp đồng ngắn hạn. Hơn 5,4 triệu công nhân Đức đang làm việc
trên cơ sở các hợp đồng bán phần, so với 3,9 triệu năm 1991.Bằng các hợp đồng lao
động bán phần, các công ty sẽ không phải đóng tiền vào quỹ phúc lợi xã hội. Ngoài ra,
nhiều nước còn tiến hành cải tổ hệ thống phúc lợi xã hội, nới lỏng các quy định về mức
lương giờ làm việc, ngày làm việc và thải hồi công nhân. Điều đó cho phép các doanh
2
nghiệp tăng đầu tư trong nước, đồng thời tăng mức độ sử dụng lao động. Việc làm ở EU
trong năm 1997 chỉ tăng 0,6%, còn trong năm 1998 tăng 1,2%.
BẢNG SỐ 1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA EMU-11
Tên nước
Diện tích
(km2)
Dân số
(triệu
người)
Đơn vị tiền tệ
Bội chi
NSNN/GDP
Nợ Nhà
nước/GDP
Lạm phát
1997 1998 1997 1998 1997 1998
Ai-len 70.280 3,6 Livre Ailen - 0,8 - 0,8 67,5 65,0 1,7 2,1
Áo 83.849 8,1 Schilling - 2,5 - 2,5 68,0 67,6 1,5 1,6
Bồ Đào Nha 92.080 9,9 Escudo - 2,9 - 2,9 62,9 61,7 2,2 2,3
Bỉ 28.870 10,2 Franc Bỉ - 2,8 - 2,6 125,1 122,8 1,6 1,9
Đức 356.755 81,7 Deutsche Mark - 3,1 - 2,9 62,2 62,7 1,9 2,3
gọi là các Ngân hàng Châu Âu (Eurobanks). Đôla Châu Âu là một phản ứng đối
với những nhu cầu nảy sinh do sự tăng trưởng thương mại quốc tế, quy định
điều tiết về tài chính và những cân nhắc chính trị.
Cho đến những năm 60, hệ thống Đôla Châu Âu đã phát triển mạnh. Cùng
thời gian đó, hai nhà kinh tế học người Mỹ R.Mundell và R. Mc Kinnon đã đưa ra
lý thuyết "Khu vực tiền tệ tối ưu", xuất phát từ định hướng khi đó của khối EEC là
nhằm đạt được tự do hoàn toàn trong việc lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn và
sức lao động tức là lưu chuyển tự do các "yếu tố sản xuất". Lý thuyết này đề cập
đến những cơ sở của sự thống nhất tiền tệ Châu Âu và gây được sự chú ý lớn.
Theo R. Mundell và R. Mc Kinnon "Khu vực tiền tệ tối ưu" là lãnh thổ bao
gồm những nước cùng chung những điều kiện, khả năng thích hợp nhất để sử
dụng một loại tiền tệ thống nhất, hoặc chung những khả năng để thiết lập một
đồng giá vững chắc giữa các đồng tiền của quốc gia mình. Và khu vực tiền tệ sẽ
là "tối ưu" nếu trong lãnh thổ đó tồn tại những khả năng cơ động giữa các "yếu
tố sản xuất". Trong nội bộ EEC việc giao lưu hàng hoá, dịch vụ, vốn và sức lao
động được tự do hoàn toàn và có sự thoả hiệp giữa các nước thành viên về các
vấn đề kinh tế - chính trị, sự phối hợp các thể chế, chính sách kinh tế. Nhưng
tiêu chí quan trọng nhất là sự chấp nhận của các nước thành viên hy sinh tính
độc lập của mình trong việc giải quyết những vấn đề tiền tệ - tín dụng.
Một trong những điều kiện cho sự tồn tại của "Khu vực tiền tệ tối ưu" là tốc
độ lạm phát giữa các nước thành viên ít nhiều phải đồng đều để có thể thực thi
các chính sách về ngân sách, kinh tế và tiền tệ có hiệu quả. Đồng thời, phải đạt
được những mục đích như ổn định giá cả, có việc làm đầy đủ và sự cân bằng
trong cán cân thanh toán, tức là phải đạt được sự cân đối bên trong và bên ngoài.
Điều quan trọng nhất là đồng tiền của EEC phải dựa trên cơ sở của mọi
đồng tiền ở các nước thành viên và phải tính đến sự thay đổi tỷ giá các loại tiền
chứ không phải đến sức mua của đồng tiền mạnh nhất. Nhưng trước hết, đó phải
là một đơn vị tiền tệ đang lưu thông đồng thời với các đơn vị tiền tệ Châu Âu
khác; được phép có những thay đổi đồng giá và dao động của tỷ giá tiền tệ. Khi
các quy chế về tiền tệ tài chính đã thống nhất và có sự phối hợp của chính sách
d.Giảm thất nghiệp.
e.Duy trì tỷ giá tiền tệ.
Đa giác abcde là một phương án lý tưởng không thể đạt tới.
Đa giác a’b’c’d’e' là phương án hạ sách nhất, không đạt được mục tiêu nào cả.
Giữa hai phương án này là vô số các phương án khác nhau, khi một hoặc một số mục
tiêu nào đó đạt được thì những mục tiêu còn lại ít nhiều bị tổn hại.
Mục tiêu của các nước EEC là đạt được một quan điểm thống nhất về đa giác
a
n
b
n
c
n
d
n
ố
n
.
5
Theo ý kiến của các nhà khởi xướng ra hệ thống tiền tệ Châu Âu, hoạt động của hệ
thống này phải đem lại sự cân bằng tình trạng mất cân đối trong phạm vi khu vực giữa
các nước và các vùng lãnh thổ thuộc EEC. Để làm được điều này, cần phân phối lại các
nguồn tài chính vì lợi ích của những nước kém phát triển hơn.
2. Tiến trình phát triển của hệ thống tiền tệ Châu Âu:
Trong văn bản Hiệp ước Rôma và Định ước Châu Âu duy nhất đã ghi nhận thị
trường nội địa Châu Âu, nhưng cho tới Hiệp ước về Liên minh Châu Âu ở Maastricht,
Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Châu Âu mới được chính thức ghi nhận. Mục tiêu của
Liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu là thống nhất Châu Âu trong lĩnh vực tiền tệ. Đây
là một quá trình lâu dài với nhiều thành công và thất bại.
ổn trong hoạt động xây dựng thị trường chung. Do đó, đến tháng 4-1972, các nước Châu
Âu quyết định giới hạn mức dao động của tỷ giá các đồng tiền này so với hệ thống tỷ
giá chỉ đạo (hay tỷ giá trung tâm) ở mức tối đa là +_2,25%. Để đảm bảo biên độ này,
mỗi một ngân hàng trung ương sẽ phải can thiệp khi dao động của đồng tiền nước mình
6
quá giới hạn cho phép. Cơ chế này tạo ra biểu đồ biến động của các đồng tiền Châu Âu
như một "con rắn". Sự kết hợp giữa Hiệp định Oasinhtơn và Hiệp định Balơ tạo thành
cơ chế tiền tệ Tây Âu được gọi là "con rắn trong đường hầm".
7
Mô hình số 3: "Con rắn" trong "đường hầm"
(2)
5,554 (1) (4)
(3)
Tiến trình của năm 1972.
(1) Trục của đường hầm.
(2) Biên trên
(3) Biên dưới
(4) Trao đổi ngang giá cố định của mỗi loại tiền tính bằng dollar.
"Con rắn" di chuyển trong "đường hầm" tạo bởi các biên độ đối với đồng dollar.
Cơ chế "con rắn" tiền tệ sớm tỏ ra ít có hiệu quả, vì nó không dựa vào sự phối hợp chính
sách tiền tệ và kinh tế của tất cả các nước trong Cộng đồng. Đợt khủng hoảng mới của
đồng dollar Mỹ tháng 3-1973 đã khiến "con rắn" phải chui ra khỏi "đường hầm". Sáu
nước Cộng đồng Châu Âu quyết định thả nổi tập thể đối với đồng dollar (biên độ dao
động giữa tỷ giá đồng tiền của các nước này vẫn giữ tối đa là +_2,25%), đồng thời lập
Quỹ hợp tác tiền tệ Châu Âu (FECOM). Nhưng sự biến động của thị trường tiền tệ thế
giới, cùng với cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 đã khiến Anh, Ailen, Italia và Pháp
lần lượt rút ra khỏi "Con rắn tiền tệ Châu Âu". "Con rắn" lúc đó trên thực tế biến thành
một khu vực đồng Mác bao gồm các nước Đức, Đan mạch, Bỉ, Hà Lan, Luýchxămbua.
cộng đồng, có thể ví nó như một "giỏ tiền tệ". Giá trị ECU tương đương với tổng số một
số lượng cố định mỗi loại tiền trong cộng đồng. Số lượng này được xác định tuỳ theo
tiềm lực kinh tế mỗi nước. Tức là ECU vừa dùng làm cơ sở xác định quan hệ của các
đồng tiền khác nhau, vừa làm phương tiện thanh toán giữa các thành viên và làm vốn dự
trữ. Như vậy, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện đồng tiền giấy siêu quốc gia. Và đến
tháng 7-1985, Uỷ ban Châu Âu, Ngân hàng đầu tư Châu Âu và đại diện ngân hàng các
nước thành viên đã thoả thuận đổi ECU ra vàng và các loại ngoại tệ khác thông qua Quỹ
tiền tệ Châu Âu, cho phép ngân hàng trung ương của các nước thứ ba, các tổ chức quốc
tế sử dụng đồng ECU làm lực lượng dự trữ không khống chế tỷ lệ cận trên và cận dưới
của ECU trong việc vay nợ và thanh toán. Uỷ ban Châu Âu còn tiến hành phát hành
công trái bằng ECU, sử dụng ECU để tài trợ cho ngoại thương, xuất nhập khẩu dầu mỏ
giữa các nước trong khối với nhau.
Để khống chế sự vận động hỗn loạn của tỷ giá, EMS sẽ can thiệp vào thị trường
tiền tệ nhằm bảo đảm dao động được phép của các tỷ giá. Cơ chế cấp tín dụng hiện có
để duy trì tỷ giá đã được tăng cường nhằm giúp các "đồng tiền yếu" trước những áp lực
và các nguồn để cấp tín dụng ngắn hạn và trung hạn không hạn chế giữa các nước thành
viên EEC. Và sau hai năm hoạt động của EMS , Quỹ tiền tệ Châu Âu (EMF) đã được
thành lập vào năm 1981. Sự thành lập EMF là một bước tiến quan trọng trên con đường
đi tới thống nhất kinh tế, tiền tệ, tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình lưu thông hàng hoá,
dịch vụ và vốn giữa các nước thành viên. Hệ thống tiền tệ Châu Âu đã trở thành một
khối tiền tệ thứ ba bên cạnh đồng dollar Mỹ và đồng yên Nhật để ổn định hệ thống tiền
tệ và kinh tế quốc tế. Trên thực tế EMS vẫn còn phụ thuộc nhiều vào đồng dollar Mỹ và
EEC cũng chưa có kế hoạch làm giảm tỷ lệ lạm phát và hạn chế thiếu hụt ngân sách của
các nước thành viên. Tuy vậy, EMS với hệ thống tỷ giá Châu Âu vẫn được coi là giai
đoạn trung gian cho việc hình thành một thị trường thống nhất có một đồng tiền thống
nhất, tiến tới thống nhất toàn diện về chính trị EEC.
9
Đến năm 1987, việc thực hiện thống nhất tiền tệ Châu Âu đã được văn kiện Châu
Âu thống nhất. Tháng 6-1988, một uỷ ban dưới quyền của Chủ tịch Uỷ ban EEC, ông
Delors, được giao nhiệm vụ đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện thống nhất
nhất kinh tế - tiền tệ, nhưng việc thực hiện kế hoạch đã đề ra không phải đơn giản.
III. ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU - EURO
1.Đồng EURO:
Sự có mặt trong lưu thông của mỗi đồng tiền bao giờ cũng là một hiện tượng xã
hội, là kết quả của ý chí pháp lý của mỗi thể chế chính trị cụ thể, được cộng đồng chấp
nhận. Đồng tiền đó trở thành đại diện tiền tệ cho một nền kinh tế cụ thể, vận hành theo
một cơ chế nhất định. Đối với đồng EURO cũng vậy.
Việc cho ra đời và vận hành đồng EURO xuất phát từ một ý tưởng nghiêm túc
với quyết tâm cao của các nhà lãnh đạo Châu Âu ngay từ những ngày đầu mới thành lập
Cộng đồng Châu Âu cho đến nay. EURO ra đời theo một lịch trình được thiết kế hợp lý,
10
thận trọng, thích hợp với sự vận động của thực tế. Có thể nói, EURO là kết quả của quá
trình chuẩn bị lâu dài và tuần tự, khởi đầu bằng việc sáng lập đơn vị tiền tệ chung của
Cộng đồng trên cơ sở tập hợp các đồng tiền quốc gia thành viên, thường gọi là "rổ" tiền
tệ (ECU - 1975), tiếp theo là thành lập và vận hành Hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS -
1979), rồi đến quá trình triển khai Liên minh kinh tế và Tiền tệ theo ba giai đoạn.Hiện
nay, Châu Âu đã kết thúc giai đoạn I - II và đang trong giai đoạn ba (từ 1-1-1999) lưu
hành đồng EURO cho toàn khối.
Đồng EURO đã ra đời trong hoàn cảnh rất nhiều thuận lợi. Do cuộc khủng
hoảng tiền tệ (1997) diễn ra ở đâu cũng dính đến đồng dollar nên các nước vừa sợ, vừa
ghét đồng dollar. Khối Đông Nam Á đã bàn đến việc dùng các đồng tiền trong khối để
thanh toán XNK và vay trả giữa các nước trong khối từ năm 1997 để tránh bớt dính
dáng đến đồng dollar. Xu hướng đa dạng hoá các loại ngoại tệ đã đẩy các nước phát
triển tới chỗ chọn các loại ngoại tệ mạnh khác như Mác Đức, Franc Pháp... để thay thế
cho đồng dollar. Đồng EURO là tổng hợp sức mạnh của các ngoại tệ mạnh Châu Âu, vì
thế đồng EURO sẽ chiếm phần lớn trong dự trữ ngoại hối của các nước trên thế giới.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính nhiều nước chao đảo, đồng EURO ra đời sẽ làm cho
thị trường tài chính Châu Âu hấp dẫn hơn. Vì thế, chỉ mới ra đời đồng EURO đã làm thị
trường chứng khoán Châu Âu lên giá. Hơn nữa, EURO là đồng tiền của một khu vực
300 triệu dân, chiếm 14,9% mức sản xuất và 18,6% thương mại toàn cầu.
các nhà đầu tư.
Thống nhất tiền tệ và hội nhập tài chính Châu Âu tăng sức hấp dẫn của các
công cụ đầu tư tài chính tính bằng EURO, sẽ mang lại cho ECB một vị thế quốc tế mới
mạnh hơn các ngân hàng Trung ương các quốc gia hiện tại. Tuy nhiên trong giai đoạn
đầu quốc tế hoá đồng EURO, công việc điều hành chính sách tiền tệ trong nội bộ khối
rất phức tạp bởi vì sự biến động các đại lượng tiền tệ sẽ chịu ảnh hưởng ngày càng
nhiều bởi các quyết định của các tác nhân kinh tế nước ngoài.
Việc sử dụng EURO phụ thuộc chủ yếu vào giá trị nội tại của chính nó cũng
như việc nó được sử dụng trong các trao đổi tài chính quốc tế.
Bảng số 2: Tỷ giá đổi tiền chính thức, cố định vĩnh viễn giữa các đồng tiền
quốc gia với EURO.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) công bố ngày 31-12-1998 .
Quốc gia Đồng tiền Ký hiệu Tỷ giá
Pháp Franc Pháp FRF 6,55957
Đức Deutsche Mark DEM 1,95583
Áo Schilling ATS 13,7603
Bỉ Franc Bỉ BEF 40,3399
Tây Ban Nha Peseta ESP 166,386
Phần Lan Markka FIM 5,95573
Ailen Irish Punt IEP 0,787564
Italia Lire ITL 1936,27
Luýchxămbua Franc luxembua LUF 40,3399
Hà Lan Florin NLG 2,20371
Bồ Đào Nha Escudo PTE 200,482
EU EURO EUR 1,16675 USD
132,800 JPY
0,705455 GBP
2. Quy chế lưu hành đồng EURO:
Đồng EURO do ngân hàng Trung ương Châu Âu phát hành gồm các loại tiền
13