Tài liệu Luận văn " NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG GIÁ DẦU THÔ TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI THỜI GIAN VỪA QUA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỀN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI " - Pdf 10

Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG GIÁ DẦU THÔ TRÊN THỊ
TRƯỜNG THẾ GIỚI THỜI GIAN VỪA QUA VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐỀN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phạm Song Hạnh
Người thực hiện : Hoàng Thị Hồng Hạnh
Lớp : A3 - K38 - KTNT HÀ NỘI - 2003

n Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI 1
I. Đặc điểm của sản phẩm dầu mỏ 1
1. Một số công dụng của dầu mỏ đối với sản xuất và đời sống con
người: 1
2. Quy luật cung cầu chi phối trên thị trường dầu mỏ: 4
3. Đặc tính chính trị xã hội và ảnh hưởng của dầu mỏ đến các mối quan
hệ kinh tế quốc tế 8
II.Thị trường dầu mỏ thế giới 12
1. Đặc điểm về nhu cầu dầu mỏ trên thế giới 12
1.1 Các yếu tố tác động đến mức tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới: 12
1.2 Nhu cầu dầu mỏ thế giới 14
2.Đặc điểm về nguồn cung dầu mỏ trên thị trường thế giới 17
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ: 17
2.2 Tình hình cung cấp dầu của một số nước và tổ chức chính trên thị
trường thế giới và chính sách giá của OPEC: 17
2.3 Tình hình biến động của giá dầu mỏ trên thị trường 24
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU MỎ TĂNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TRONG
GIAI ĐOẠN 2000 - 2003 ĐẾN NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU 32
I. Tác động của giá dầu mỏ tăng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
32

1.Một số đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của giá dầu tăng đến
nền kinh tế Việt Nam 96
2. Một số đề xuất nhằm tận dụng lợi thế từ việc tăng giá dầu đối với Việt
Nam 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38 LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua, trên thị trường dầu mỏ thế giới liên tiếp xảy ra
những biến động về giá theo chiều hướng tăng lên. Giá dầu mỏ
1
đã nhảy vọt từ
13 USD/thùng vào năm 1999 lên đến mức 35- 36 USD/thùng vào đầu năm
2003. Các biến động này chủ yếu là do tình hình ở Trung Đông căng thẳng mà
điển hình và đặc trưng nhất là cuộc chiến tranh do Mỹ phát động nhằm lật đổ
chính quyền của Tổng thống Sadam Hussen. Do lo ngại những nguy cơ chiến
tranh làm ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ mà giá mặt hàng này đã leo thang
đến chóng mặt và gây ra nhiều tác động xấu đến tình hình kinh tế chính trị trên
thế giới.
Dầu mỏ là mặt hàng quan trọng, là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành
để sản xuất ra các hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống con người mà không loại
nguyên liệu nào thay thế được; do vậy những biến động của giá dầu, dù lớn hay
nhỏ, cũng đều gây tác động sâu sắc đến đời sống con người, không phân biệt
giàu nghèo, mầu da hay địa vị xã hội.
Chính vì có được vai trò trung tâm đối với nền kinh tế như vậy, nên giá cả

tiếng Anh, thêm vào đó là sự hạn chế về thời gian và trình độ hiểu biết của bản
thân tôi nên luận văn không thể tránh khỏi những sai xót, vì vậy tôi rất mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn. Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 1

CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM DẦU MỎ
1. Một số công dụng của dầu mỏ đối với sản xuất và đời sống con
người:
Dầu thô là một mặt hàng nguyên liệu quan trọng đã và đang được buôn
bán sôi động trên thị trường thế giới hơn 100 năm qua. Do những tính chất lý -
hoá học đặc biệt và dưới tác động của khoa học kỹ thuật hiện đại từ dầu thô, con
người đã tạo ra rất nhiều sản phẩm hữu ích phục vụ đời sống sản xuất và sinh
hoạt của mình. Những ứng dụng hết sức phong phú, đa dạng của dầu mỏ đã biến
nó trở thành một nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho hầu hết các ngành sản xuất.
Từ dầu thô qua quá trình tinh lọc và chế biến, người ta thu được các sản phẩm
chính sau
2
:
 Chất propan và chất butan (gọi là khí hoá lỏng )
 Chất naphtan (xăng thô), xăng chạy động cơ (xăng không chì, xăng cao
cấp, xăng thường )
 Chất kerosen (dầu phản lực), dầu hoả
 Chất gas- oil ( dầu diezen động cơ, diezel đốt lò), mazut nặng, FO ( dầu

chuyển, ngoài ra ít gây ô nhiễm môi trường hơn. Thêm vào đó, năng lượng sản
sinh ra từ việc đốt cháy dầu mỏ cao hơn nhiều lần các than đá.
Tuy 80- 90% sản lượng dầu khí thế giới khai thác được sử dụng cho mục
đích năng lượng – mảng ứng dụng quan trọng nhất của dầu mỏ nhưng ứng dụng
phi năng lượng của nó cũng không hề thua kém nếu xét về tính thiết yếu.
Chúng ta ai cũng biết rằng hễ có vận động là sẽ có ma sát, sẽ có mài mòn giữa
các bộ phận tiếp xúc với nhau. Để giảm thiểu vấn đề này, không có cách nào
hiệu quả hơn là sử dụng các loại dầu mỡ bôi trơn. Ngoài tác dụng bôi trơn để
giảm thiểu tối đa việc mài mòn do ma sát và làm các loại máy móc vận hành tốt,
dầu mỡ bôi trơn còn có tác dụng làm mát máy, làm kín và làm sạch bề mặt kim
loại tiếp xúc khi làm việc, giúp động cơ hoạt động ở hiệu quả tối ưu nhất. Chính
ứng dụng này đã mở cánh cửa thứ hai cho dầu mỏ vào ngành vận tải và cho
phép nó dần dần xâm nhập vào tất cả các ngành công nghiệp, gần như ở vào tất
cả các giai đoạn biến đổi của vật chất.

2
Theo "Dầu mỏ và ứng dụng cho đời sống con người" của PGS- TS Đinh thị Ngọ, 2000.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 3

Bên cạnh những ứng dụng kinh điển nêu trên của dầu mỏ (nhiên liệu, chất
đốt, chất bôi trơn), chúng ta còn phải kể đến một ứng dụng nữa mà kể từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, vị trí của nó đang ngày càng trở nên quan trọng, đó
là nguyên liệu của công nghiệp hoá chất.
Từ chất naphta của dầu thô, khi xử lý trong các bộ phận cracking- hơi
nước sẽ sinh ra các loại olefin (như etylen, propylen, butadien). Từ những phần
lỏng trong phản ứng này, người ta rút ra những chất thơm như benzen, toluen,

kim và công nghiệp nhôm.
2. Quy luật cung cầu chi phối trên thị trường dầu mỏ:
Cũng giống như các hàng hoá khác trên thị trường, dầu mỏ chịu sự chi phối
bởi quy luật cung- cầu. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về dầu mỏ, người ta nhận ra
những đặc điểm đặc biệt sau đây đã ảnh hưởng rất nhiều đến giá cả mặt hàng này:
 Dầu mỏ là mặt hàng được giao dịch trên thị trường với khối lượng lớn
và ổn định, giá trị giao dịch cao.
 Dầu mỏ có tính thiết yếu đối với đời sống con người, khó có khả năng
thay thế trong ngắn hạn.
 Giá của dầu mỏ luôn bị chi phối bởi các mưu tính kinh tế- chính trị
của các thế lực chủ chốt trên thị trường, sau đó mới là sự điều tiết của
thị trường.
Do có những tính chất đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người
nên quy luật cung cầu
3
chi phối nó cũng mang những nét đặc biệt riêng có của
nó.
Trước hết, xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu và giá cả của dầu mỏ:
Đối với các hàng hoá thông thường, một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên
của kinh tế học là "Tăng giá một hàng hoá thì khách hàng sẽ tiêu thụ hàng hoá
đó ít hơn và người tiêu dùng sẽ cố gắng hạn chế tiêu dùng một cách hiệu quả
nhất. Hay nói cách khác, nếu giá tăng thì lượng cầu sẽ giảm và nếu giá giảm thì
lượng cầu sẽ tăng lên.". Nhưng đối với mỗi loại hàng hoá lại bị quy luật này chi
phối một cách khác nhau. Đối với mặt hàng dầu mỏ, sự biến động về giá ảnh
hưởng rất ít đến độ biến động về lượng cầu trong ngắn hạn. Nói cách khác, trong
ngắn hạn, độ co giãn của cầu theo giá là rất ít, và người tiêu dùng sẽ phản ứng

3
"The Dynamic Effects of Aggregate Demand, Supply and Oil Price Shock" của H.C.Bjornland, Manchester
School, 11/2000.

năng lượng gió, năng lượng nước, năng lượng hạt nhân v.v Tuy nhiên, việc tìm
ra các nguồn năng lượng thay thế là rất tốn kém và đòi hỏi sự đầu tư lâu dài .
Thêm vào đó, từ trước đến nay nguồn nhiên liệu cung cấp năng lượng chính vẫn
là từ dầu mỏ, tỷ trọng của dầu mỏ trong tổng mức năng lượng của thế giới là khá
cao và các nhà khoa học dự đoán tỷ trọng này vẫn tiếp tục duy trì ở tỷ lệ cao.
Theo thống kê của cơ quan năng lượng Hoa Kì, năm 2002 dầu mỏ chiếm tới
hơn 40% nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới. Năm 2003, tỷ lệ này vẫn được duy
trì ở mức ổn định là 41,5%. Trong hai thập kỉ tới dự tính nhu cầu dầu mỏ dùng
làm năng lượng sẽ duy trì như bảng 1 sau:
Bảng 1: Cơ cấu năng lượng tiêu dùng của thế giới
Đơn vị: %
1998 2000 2010 2020
Dầu mỏ 41,3 41,3 40,3 39,2
Khí gas tự nhiên (LPG) 22,2 22,4 24,1 26,6
Nhiên liệu dạng rắn 26,2 26,1 26,3 25,8
Năng lượng nguyên tử 10,4 10,3 10,3 8,5
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 6

Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Báo cáo của OWEM tháng 9/2002.
Việc sử dụng dầu mỏ làm nhiên liệu đặc biệt là để làm chất đốt và dùng để
sưởi ấm đã trở thành một thói quen từ hàng trăm năm nay nên việc thay đổi thói
quen này là rất khó không thể trong một thời gian ngắn được nên khi giá dầu mỏ
tăng thì người ta không dễ gì giảm được lượng cầu xuống nhanh bằng cách thay
đổi các thói quen tiêu dùng.
Việc giảm mức tiêu thụ năng lượng còn có thể thực hiện bằng cách thay

Xét về mối quan hệ giữa lượng cung và giá: Khi nhà sản xuất xem xét
một thị trường, nếu thấy giá hàng hoá đó có chiều hướng tăng lên thì người ta sẽ
cung cấp nhiều hàng hoá hơn ra thị trường, còn khi giá hàng hoá có xu hướng
giảm xuống nhà cung cấp sẽ có xu hướng cắt giảm lượng cung nhằm điều tiết
kéo giá lên về mức cân bằng. Khi xem xét về quan hệ giữa lượng cung và giá
của dầu mỏ thì thấy có hiện tượng:
 Khi giá dầu mỏ tăng cao, lượng cung không tăng đáng kể
 Khi giá dầu mỏ thấp, lượng cung không giảm đáng kể
Hay ta có phương trình sau:
1
%
%




P
Q
E
s
s

Có hiện tượng độ co giãn của cung theo giá (the price elasticity of supply) nhỏ
như vậy là do chỉ số này chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
 Nguồn cung: Nguồn cung dầu mỏ của thế giới bị giới hạn bởi sự phân bố
nguồn tài nguyên này. Chỉ ở một số nước thuộc khối OPEC và một số nước khác
ngoài khối, mà OPEC lại chiếm ưu thế lớn về cả trữ lượng lẫn sản lượng nên
nguồn cung của thế giới bị phụ thuộc nhiều vào tổ chức này. Từ năm 1986, các
nước OPEC đã quyết định duy trì hạn ngạch (quota) song song với mức cầu trên thị
trường nhằm duy trì chính sách giá cao của mình. Từ đó đến nay, tổ chức này

Đôla Mỹ nay lại càng trầm trọng hơn, do đó dù thế nào đi nữa họ cũng không thể
thu hẹp sản xuất và giảm bớt lượng cung.
Tóm lại, do dầu mỏ là một hàng hoá đặc biệt, có độ co giãn cung cầu
của nó theo giá rất nhỏ, nên khi giá dầu tăng mạnh thì lượng cung và cầu
vẫn duy trì ở mức ổn định.
3. Đặc tính chính trị xã hội và ảnh hưởng của dầu mỏ đến các mối quan hệ
kinh tế quốc tế
5

Sản xuất dầu mỏ là một ngành có độ rủi ro cao nhưng lại mang lại lợi nhuận
lớn nếu khai thác thành công. Đó là nguồn "vàng đen" của quốc gia nào có nó. Với
chi phí sản xuất chỉ khoảng 2 –3 USD/thùng ở khu vực Trung Đông và chỉ khoảng
8- 9 USD/thùng ở khu vực Bắc Mỹ trong khi giá bán trên thị trường thế giới lại
thường xuyên ở mức cao trên 20 USD/thùng, từ năm 2000 trở lại đây giá thường
xuyên được duy trì ở mức 22 – 28 USD/thùng nên lợi nhuận thu được là khổng lồ và
là không tưởng đối với các ngành công nghiệp khác. Xuất phát từ nguồn lợi nhuận
khổng lồ đó mà các công ty tư bản tranh nhau các khu vực sản xuất trên thế giới, các
quốc gia kiên quyết đấu tranh giành lại quyền kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí

5
"The Political Economy of International Oil" của G. Phillip, 1995 và "The Political Economy of World Energy:
A twentieth century Perspective" của J.G. Clark,1991.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 9

của mình, các nước lớn luôn luôn tìm cớ để can thiệp vào các khu vực có nguồn tài
nguyên này. Cũng từ đó nảy sinh ra các vấn đề mang tình chính trị ảnh hưởng đến thị

K38A 10

0 2 4 6 8 10 12 14 16
$/boe
Gas-To-Liquids
Gas-To-Liquids
outlook
International Majors
Canada
Unconventional Oil
Russia
Major Middle East
Producers
Major Middle East oil producers have a supply cost
Nguồn: World Energy Outlook, 2001, Insights.
Một ví dụ khác rất điển hình và đặc trưng đó là cuộc chiến tranh
7
do Mỹ
phát động nhằm vào Iraq trong thời gian cuối 2002 – đầu 2003. Giá dầu đã leo
thang khủng khiếp từ 22 USD/thùng lên 35 – 36 USD vì lo sợ nguy cơ nguồn
cung của thế giới gián đoạn do chiến tranh. Nhưng vấn đề cần nói ở đây là việc
Mỹ dùng chiêu bài chính trị để can thiệp vào khu vực vùng Vịnh nhằm kiểm
soát nguồn cung dầu của thế giới. Viện cớ Iraq tàng trữ và phát triển vũ khí giết
người hàng loạt mà Mỹ, Anh đã tấn công Bátđa. Thực chất là nhằm lật đổ chính

giới từ trước đến nay. Mục đích của tổ chức này là phối hợp và thống nhất giữa
các thành viên để đảm bảo giá dầu công bằng và ổn định cung cấp dầu đầy đủ.
Do có chung lợi ích từ nguồn dầu mỏ mà 11 nước gồm Iran, Iraq, Arab Saudi,
Indonesia, Vênêzuêla, Kuwait, Nigiêria, Liby, Quata, Algieria, và Các tiểu
vương quốc Arab (UEA) đã liên kết nhau lại để đảm bảo lợi ích của tổ chức
được tối ưu nhất. Tuy nhiên, chính lợi ích từ dầu mỏ lại làm cho nhiều mối quan
hệ kinh tế quốc tế bị rạn nứt và đổ vỡ. Chẳng hạn các cuộc chiến tranh Iran -
Iraq những năm 1980, hay cuộc chiến tranh Iraq- Kuwait vào những năm
1990. Gần đây nhất là cuộc chiến tranh ở Iraq đã làm cho các mối quan hệ Nga -
Mỹ, Pháp - Mỹ có nhiều rạn nứt.
Tóm lại, dầu mỏ là một mặt hàng có tính chính trị sâu sắc, nó bị chi
phối mạnh mẽ bởi các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của các quốc
gia, nó vừa là sợi dây liên kết các mối quan hệ kinh tế quốc tế bền vững lại
vừa là ngòi nổ cho các cuộc xung đột, các cuộc nhằm kiểm soát và lũng
đoạn thị trường này.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 12

II.THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI
1. Đặc điểm về nhu cầu dầu mỏ trên thế giới
1.1 Các yếu tố tác động đến mức tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới:
Dầu mỏ là nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp lọc dầu. Tuy
nhiên, ở quy mô thế giới, tổng nhu cầu tiêu thụ về dầu mỏ luôn biến động cùng
nhịp với tổng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm dầu. Chính vì vậy mà các yếu tố
ảnh hưởng đến tổng cầu về dầu mỏ chính là các yếu tố tác động đến mức tiêu
thụ các sản phẩm dầu. Các yếu tố đó gồm
9

OECD là các nước trong tổ chức hợp tác phát triển kinh tế, hiện nay bao gồm cả Hàn Quốc, Mexico, Balan
và cộng hoà Séc.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 13

Tổng 76,0 76,4 76,3 75,1 76,4 77,7
Nguồn: EIA và CGES
 Dân số: Là yếu tố cơ bản thứ hai quyết định lượng cầu về các sản phẩm dầu
theo một nước. Một nước có thể tiêu thụ dầu tính theo đầu người nhỏ hơn rất
nhiều so với các nước khác nhưng tổng lượng tiêu thụ hàng năm của nó vẫn
có thể lớn hơn nếu nó có quy mô dân số lớn ví dụ như trường hợp của Trung
Quốc và Ấn Độ.
 Giá dầu cũng là yếu tố gây những ảnh hưởng nhất định đến việc tiêu thụ dầu
mỏ. Nhìn chung, khi giá dầu mỏ tăng và/hoặc giá các sản phẩm dầu tăng cao
sẽ dẫn tới xu hướng các quốc gia hạn chế mức tiêu dùng của mình bằng cách
đưa ra những chính sách tiết kiệm năng lượng và chuyển hướng sang tiêu thụ
các sản phẩm khác thay thế cho dầu mỏ như than đá, năng lượng gió, năng
lượng mặt trời, năng lượng từ nước, năng lượng nguyên tử. Điều này đã được
minh chứng trong lịch sử những năm 1973 – 1974 hay những năm 1979-
1980. Kết quả là lượng dầu tiêu thụ đã giảm hẳn, hay làm giá dầu hạ xuống
như năm 1986. Tuy vậy trong ngắn hạn thì giá dầu tăng hay giảm mạnh thì
nhu cầu vẫn tương đối ổn định vì dầu mỏ là mặt hàng thiết yếu và khó thay
thế.
 Mức tiêu thụ còn bị ảnh hưởng bởi chính sách năng lượng của các nước.
Chính sách này thường được cụ thể hoá qua chính sách thuế quan đánh vào
mặt hàng dầu mỏ và/hoặc các sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ hoặc qua việc
thực hiện các dự án phát triển các nguồn năng lượng khác, hay những phát

nhu cầu tiêu thụ của toàn thế giới chỉ khoảng 20 triệu tấn thì sau 70 năm con số
này đã lên tới 1851 triệu tấn gấp hơn 90 lần; năm 1983 là 2764,9 triệu tấn; năm
1993 là 3121,4 triệu tấn và năm 2003 dự tính mức tiêu thụ trên toàn thế giới sẽ đạt
tới 3827,1 triệu tấn. Theo tính toán của Ban thông tin của Cơ Quan Năng Lượng
Quốc Tế (Energy Information Administration/ International Energy Agency) thì
nhu cầu dầu mỏ của thế giới tăng hàng năm là 2,2%. Tính mức tiêu thụ theo thùng
(barrel) thì vào năm 1999 thế giới tiêu thụ 74,9 triệu thùng một ngày; vào năm
2000 mức này ở con số 76,03 triệu thùng, năm 2001 là 75,55 triệu thùng, năm
2003 dự tính con số này là 75,63 triệu thùng/ngày. Tình hình tiêu thụ của các
nước trên thế giới được thể hiện ở phụ lục 7.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 15

Nhu cầu dầu mỏ tăng cao nhất là ở khu vực các nước đang phát triển ở
Châu Á, khoảng 3,7% hàng năm và chiếm tới 35% trong tổng mức tiêu thụ tăng
của thế giới. Các nước đang phát triển do nhu cầu dầu mỏ cho các ngành phục
vụ quá trình công nghiệp hoá nên nhu cầu tăng cao (Xem phụ lục 7). Nhu cầu
dầu mỏ thế giới tăng khá khiêm tốn trong năm 2001, chỉ tăng thêm khoảng
100.000 thùng/ ngày. Năm 2002 và 2003 lượng tăng này cũng khá nhiều khoảng
900.000 thùng/ ngày do giá dầu cao. Xét về khu vực tiêu thụ thì ngành giao
thông vận tải có nhu cầu dầu mỏ cao nhất, tiêu thụ khoảng 40% tổng nhu cầu
của cả thế giới và theo dự tính thì tỷ lệ này còn có xu hướng cao lên tới 55% vào
năm 2010. Xét theo nhu cầu của các khu vực trên thế giới thì tình hình như
sau:
12

 Khu vực Bắc Mỹ: Nhu cầu dầu mỏ của khu vực này tăng đều đặn hàng năm

gồm: Nhật Bản, New Zealand và Australia. Nhật Bản là nước có nhu cầu tiêu
thụ dầu mỏ lớn nhất khu vực chiếm tới 80% tổng nhu cầu trong vùng. Nhu
cầu của các nước này năm 1999 là 6,9 triệu thùng/ngày, năm 2000 là 7,2 triệu
thùng/ngày, năm 2002 con số này là 7,12 triệu thùng/ngày và dự tính vào
năm 2003 nhu cầu của khu vực sẽ là 7,52 triệu thùng (theo số liệu của IEA –
3/2003).
 Các nước đang phát triển ở Châu Á: Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều
nhất trong khu vực, vượt qua cả Nhật Bản trở thành nước tiêu thụ lớn thứ hai
thế giới chỉ sau Mỹ. Với nhu cầu cho ngành giao thông vận tải tăng nhanh
nhu cầu dầu mỏ nước này tăng hàng năm 4,3% tăng từ 4,3 triệu thùng năm
1999 lên 6,5 triệu thùng/ngày năm 2002 và nhu cầu này còn tăng lên khoảng
10,5 triệu thùng/ngày vào năm 2020. Sau Trung Quốc là đến Ấn Độ nước có
nhu cầu nhập khẩu khoảng 1,3 triệu thùng/ngày khoảng 1/3 nhu cầu tiêu
dùng trong nước.
 Khu vực các nước thuộc Liên Xô trước đây (the Former Soviet Union):
Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ vào năm 1991, nhu cầu dầu mỏ của khu
vực này giảm từ 8,3 triệu thùng/ngày còn 3,7 triệu thùng/ ngày vào năm
1999. Tuy nhiên từ sau khi phục hồi nền kinh tế sau năm 2000 nhu cầu về
dầu mỏ của các nước này đã tăng mạnh ở mức độ 3,7% hàng năm. Nhu cầu
hiện nay vào khoảng 6,5 triệu thùng/ngày.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 17

2.ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN CUNG DẦU MỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ
GIỚI
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ
13

Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A 18

của vùng được dành cho việc xuất khẩu, nhìn chung lượng dầu thô của vùng này
chiếm 40 - 45% tổng lượng dầu thô xuất khẩu thế giới. Tốc độ tăng sản lượng
của khu vực này cũng rất đáng quan tâm, đưa vùng này lên hàng thứ nhất thế
giới về mức sản lượng kể từ năm 1988. Về tình hình cung cấp dầu thô cho thế
giới tương ứng với lượng cầu theo các năm diễn biến xem phụ lục 1.
Nói chung là lượng cung tăng chậm và khá sát với lượng cầu. Sở dĩ có
hiện tượng như vậy là do sự có mặt của một số thế lực chủ chôt trên thị trường.
Tác nhân lớn nhất tác động đến lượng cung của thị trường dầu mỏ là sự ra đời
của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ – tên viết tắt là OPEC. Hoạt động của tổ
chức này gắn bó hết sức mật thiết với diễn biến của thị trường dầu thế giới.
Người ta thậm chí có thể nói rằng những động thái của thị trường dầu hầu như là
kết quả của việc áp dụng những chính sách về xác định giá, về quản lý sản xuất
(quota) của OPEC đối với các thành viên. Trong lịch sử OPEC đã đưa ra 3
chính sách giá cả – đó là: hệ thống định giá thống nhất, hệ thống
"netback", và hệ thống "basket". Thông qua các hệ thống giá này mà OPEC
đã duy trì tốt tổ chức của mình như một Các-ten hùng mạnh nhất và thành công
nhất trong lịch sử thế giới từ trước đến nay. Từ năm 1960, năm tổ chức OPEC ra
đời thị cục diện thị trường đã có nhiều thay đổi, Các-ten các công ty dầu mỏ
quốc tế không còn có thể tự ý đề ra những điều kiện sản xuất, tuỳ ý nâng giá hay
hạ giá. Mà giờ đây đã xuất hiện một Các-ten các nhà nước khổng lồ với mục tiêu
trước mắt là nâng giá dầu lên, lâu dài là giành lại về tay mình quyền kiểm soát
đối với nguồn dầu mỏ của họ. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các chính sách giá
của OPEC
15

sản lượng là 30 triệu thùng ngày. Tuy nhiên việc đưa ra hạn ngạch đã không
đem lại kết quả như ý muốn, giá dầu đã giảm và thị phần của OPEC thị vẫn bị
sói mòn.
2. Giai đoạn 1985 – 1986: Nhằm nâng cao thị phần trên thế giới OPEC
đã áp dụng hệ thống giá "netback". Giá dầu thô được tính theo giá bán các sản
phẩm lọc dầu trừ đi các chi phí về vốn, vận chuyển, chi phí bảo hiểm, chi phí
điều hành v.v. và lợi nhuận biên của các công ty lọc dầu. OPEC đưa ra hệ thống
giá này với ý muốn khuyến khích các nhà máy lọc dầu mua nhiều dầu thô hơn
nữa vì với cách tính giá này thì các nhà sản xuất phải chịu mọi ảnh hưởng do giá
biến động. Cùng với chính sách này, OPEC nâng sản lượng khai thác lên từ mức
15,7 triệu thùng/ngày lên 18,45 triệu thùng/ngày và tính rằng bất cứ sự thâm hụt
nào về doanh thu của các nước thành viên do giá dầu hạ gây ra sẽ được bù đắp

Trích đoạn Nguồn cung cấp dầu trong giai đoạn tới Một số đề xuất nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của giá dầu tăng đến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status