sử dụng phương pháp sơ đồ hóa trong dạy học chương 1_cơ chế di truyền và biến dị_sinh học 12 - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SƠ ĐỒ HÓA TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG I - CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ, PHẦN DI
TRUYỀN HỌC, SINH HỌC 12 BAN CƠ BẢN

Môn: SINH HỌC
Bậc: THPT
Họ và tên tác giả: Trần Thái Toàn
Đơn vị công tác: Trường THPT Thành Sen
Hà Tĩnh, năm 2014 i

MỤC LỤC
Trang

diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Hội
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI thông qua tiếp tục xác định "Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn
dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội".
Luật giáo dục 2005, khoản 2, điều 28 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học: bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh”.
Thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức
vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng
không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật”, hoặc không
biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau. Vì vậy, việc hướng dẫn
HS cách học, liên hệ kiến thức theo hệ thống là điều rất cần thiết trong quá trình dạy
học. Một trong những phương pháp để người học thu nhận thông tin một cách có hệ
thống là sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong quá trình dạy – học. Sơ đồ hóa cho phép tiếp
cận nội dung của tri thức bằng con đường logic, phản ánh một cách trực quan cùng một
lúc mặt tĩnh và mặt động của sự vật, hiện tượng theo không gian và thời gian, nhằm phát
triển năng lực nhận thức của học sinh và nâng cao hiệu quả học tập.
Nội dung chương I - Cơ chế di truyền và biến dị, phần di truyền học, sinh học
12 chủ yếu là kiến thức về quá trình, cơ chế nên có tính khái quát cao và có mối liên
hệ với nhau. Do đó sơ đồ là một kênh chuyển tải thông tin cụ thể, trực quan chi tiết
vừa có tính khách quan trừu tượng và có tính hệ thống cao.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng biện pháp sơ đồ
hóa để dạy học chương I - Cơ chế di truyền và biến dị, phần di truyền học, sinh học
12 Ban Cơ bản".
phổ thông, từ đó có cái nhìn tổng quát về việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong quá trình
dạy học của GV phổ thông.
7. Dự kiến đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa vào
việc đổi mới PPDH môn Sinh học ở trường THPT. 3

- Đề xuất các phương án dạy học có sử dụng biện pháp sơ đồ hóa để dạy các
phần khác của môn Sinh học ở phổ thông.
8. Cấu trúc của đề tài
* Phần thứ nhất: Mở đầu
* Phần thứ hai: Kết quả nghiên cứu
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Sử dụng biện pháp sơ đồ hóa để dạy - học phần Di truyền học.
* Phần thứ ba: Kết luận và đề nghị
* Tài liệu tham khảo.
4

PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Khái niệm sơ đồ và sơ đồ hóa
1.1.1.1. Khái niệm sơ đồ logic

5

+ Phát hiện kịp thời những HS tiến bộ rõ rệt hoặc sút kém đột ngột để có biện
pháp động viên hoặc giúp đỡ kịp thời.
1.1.2.2. Đối với học sinh
Biện pháp sơ đồ hóa là một trong những biện pháp giúp HS rèn luyện kỹ năng,
kỹ xảo, thực hiện các thao tác tư duy và biện pháp logic, đồng thời rèn luyện kỹ năng
đọc sách và tự nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa. Rèn luyện cho HS phương pháp tư
duy khái quát, có khả năng chuyển tải thông tin cao để có thể ứng dụng trong các môn
học khác.
1.1.3. Phương pháp sơ đồ hóa nội dung dạy học
1.1.3.1. Quy trình lập sơ đồ nội dung
Muốn xây dựng được sơ đồ, trước hết GV cần nghiên cứu nội dung chương trình
giảng dạy để lựa chọn những bài, những tổ hợp kiến thức có thể lập được sơ đồ nội
dung. Tùy từng loại kiến thức mà lập sơ đồ nội dung tương ứng. Sơ đồ nội dung của
các kiến thức khác nhau mang tính đặc thù và không phải bài học nào cũng có thể lập
được sơ đồ nội dung. Do đó, sự nghiên cứu và lựa chọn nội dung để xây dựng sơ đồ là
rất cần thiết.
Ví dụ: Đối với kiến thức giải phẫu thì dùng sơ đồ cấu tạo hoặc cấu trúc để mô tả,
còn kiến thức sinh lí thì mô tả bằng sơ đồ quá trình.
Quy trình lập sơ đồ nội dung dạy học bao gồm các bước cụ thể sau:

* Theo loại kiến thức sinh học:
- Sơ đồ kiến thức về khái niệm sinh học
- Sơ đồ kiến thức về quá trình sinh học
- Sơ đồ kiến thức về quy luật sinh học.
* Theo mức độ hoàn thiện:
- Sơ đồ khuyết thiếu
- Sơ đồ đầy đủ
- Sơ đồ câm
- Sơ đồ bất hợp lí.

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Thực trạng dạy và học Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Chúng tôi đã khảo sát giáo viên và HS thuộc 4 trường THPT trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh về tình hình sử dụng sơ đồ hóa trong dạy và học.
Số lượng GV và HS được khảo sát ở các trường như sau: 7

TT

Tên trường
Số GV được khảo
sát
Số HS được khảo
sát
Ghi chú
1 THPT TS 5
77 (Lớp 12A và
12G)

Sau khi học xong chương này, HS phải:
- Trình bày được cơ sở vật chất và cơ chế của các hiện tượng di truyền ở cấp độ
phân tử và cấp độ tế bào.
- Trình bày được cơ chế điều hoà hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ.
- Trình bày được các loại biến dị, nguyên nhân, cơ chế phát sinh, tính chất biểu
hiện, ý nghĩa và vai trò của các dạng biến dị trong chọn giống và trong tiến hoá.
b) Về kỹ năng 8

- HS phát triển được tư duy thực nghiệm quy nạp và tư duy lý luận, rèn các kỹ
năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá.
- HS phát triển kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng quan sát và phân
tích sơ đồ, mô hình; kỹ năng lập sơ đồ và học theo sơ đồ.
c) Về thái độ
- Học sinh tăng thêm niềm tin vào khả năng của con người, sức mạnh của khoa
học. Từ đó, vận dụng vào thực tiễn để bảo vệ thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên, phục vụ
cho lợi ích của con người.
1.2.2.2. Một số vấn đề về nội dung kiến thức của chương I - Cơ chế di
truyền và biến dị, phần Di truyền học, sinh học 12 Ban cơ bản
Thông tin di truyền là thông tin về cấu trúc của protein, thông tin này được lưu
trữ trên ADN dưới dạng các gen. Thông tin di truyền được truyền lại cho đời sau nhờ
cơ chế nhân đôi ADN, nhân đôi nhiễm sắc thể (NST) và phân li của NST trong phân
bào. Thông tin di truyền được biểu hiện thành tính trạng thông qua cơ chế phiên mã và
dịch mã. Thông tin di truyền có thể bị biến đổi làm phát sinh các đột biến gen và đột
biến NST. Hầu hết các đột biến gen được phát sinh trong cơ chế nhân đôi ADN, các
đột biến NST được phát sinh trong quá trình tiếp hợp và phân li của NST.
A. Cơ chế truyền đạt thông tin di truyền từ nhân ra tế bào chất
Thông tin di truyền ở trên gen được biểu hiện thành tính trạng trên cơ thể thông

biến đổi mà được dịch mã ngay. Còn ở sinh vật nhân thực sau phiên mã phải được cắt
bỏ các Intron và nối Exon lại với nhau thành ARN trưởng thành rồi chui qua màng
nhân ra tế bào chất làm khuôn tổng hợp protein.
2) Quá trình tổng hợp chuỗi polipeptit từ mARN được gọi là dịch mã bởi vì ở
trên mARN thông tin được lưu trữ dưới dạng các mã bộ ba (các mã di truyền), thông
tin này được tARN và riboxom dịch thành các axit amin (aa) trên chuỗi polipeptit.
- Quá trình dịch mã được bắt đầu từ bộ ba mỡ đầu ở đầu 5’ của mARN đến khi
gặp mã kết thúc ở đầu 3’ của mARN. Trên mỗi mARN có thể có nhiều bộ ba AUG
nhưng chỉ có duy nhất một bộ ba làm nhiệm vụ mã mở đầu.
- Quá trình dịch mã diễn ra theo nguyên tắc bổ sung giữa bộ ba đối mã của
tARN với bộ ba mã sao của mARN. Trên mỗi phân tử mARN, mã di truyền được đọc
theo từng bộ ba từ một điểm xác định. Do vậy các chuỗi polipeptit được tổng hợp từ
một phân tử mARN luôn có trình tự các aa giống nhau.
- Ở sinh vật nhân sơ, quá trình dịch mã được thực hiện bởi ribôxôm có hệ số
lắng 70S, các ribôxôm này nằm tự do trong tế bào chất của tế bào vi khuẩn. Trong tế
bào chất của tế bào sinh vật nhân thực có hai loại riboxom, một loại nằm tự do trong tế
bào chất, một loại gắn trên màng lưới nội chất hạt. Ribôxôm tự do tổng hợp các phân
tử prôtêin là enzym trong tế bào chất (enzym tham gia đường phân, enzym
proteaza,…). Ribôxôm nằm trên lưới nội chất hạt tổng hợp các loại protein tiết ra khỏi
tế bào (các hooc môn, kháng thể,…) và các prôtêin trên màng sinh chất, prôtêin trong
lizôxôm.
- Sau khi dịch mã, chuỗi pôlipeptit được biến đổi (được cắt bỏ bớt một số aa
hoặc được gắn thêm các phân tử hữu cơ khác) và cuộn xoắn để hình thành cấu trúc
không gian ba chiều. Protein chỉ thực hiện chức năng khi có cấu trúc không gian ba 10

chiều (cấu trúc bậc 3 hoặc cấu trúc bậc 4). Protein hoàn chỉnh sẽ được đưa đến những
vị trí nhất định trong tế bào để thực hiện chức năng sinh học (ví dụ protein tạo kênh

2) Ở cấp độ tế bào, sự truyền đạt thông tin di truyền nhờ quá trình nguyên phân,
giảm phân và thụ tinh. 11

- Ở các tế bào trong cùng một cơ thể, sự truyền đạt thông tin di truyền từ tế bào
mẹ sang tế bào con là nhờ quá trình phân bào nguyên phân. Ở phân bào nguyên phân,
tế bào con có bộ NST giống nhau và giống tế bào mẹ là nhờ 3 quá trình: NST nhân đôi
thành NST kép (diễn ra vào giai đoạn chuẩn bị của quá trình phân bào); mỗi NST kép
tách nhau ra thành 2 NST đơn và phân li về hai cực tế bào (diễn ra vào kỳ sau của
phân bào); hình thành 2 tế bào con. Nếu một trong ba quá trình đó diễn ra không bình
thường thì tế bào con sẽ có bộ NST khác nhau và khác tế bào mẹ.
- Ở quá trình sinh sản hữu tính, thông tin di truyền được truyền từ bố mẹ cho
đời con thông qua sự hình thành hợp tử. Cơ thể bố, mẹ giảm phân tạo giao tử đơn bội.
Qua thụ tinh, một giao tử đơn bội (n) của bố kết hợp với một giao tử đơn bội (n) của
mẹ tạo nên hợp tử lưỡng bội (2n). Hợp tử lưỡng bội nguyên phân và phát triển thành
cơ thể. Sự kết hợp giữa 3 quá trình nguyên phân, giảm phân và thụ tinh là cơ sở quan
trọng để duy trì ổn định bộ NST lưỡng bội của loài.
C. Cơ chế phát sinh đột biến gen
Đột biến gen là những biến đổi trong cấu trúc của gen, liên quan tới một hoặc
một số cặp nucleotit, xảy ra ở một điểm nào đó trên phân tử ADN. Hai mạch của gen
được hình thành bởi các liên kết cộng hóa trị bền vững nên trong điều kiện bình
thường, gen không bị biến đổi về cấu trúc. Gen bị đột biến khi quá trình nhân đôi của
gen không theo nguyên tắc bổ sung. Quá trình nhân đôi của ADN có thể không theo
nguyên tắc bổ sung khi có sự tác động của các tác nhân đột biến vật lí và hóa học, có
bazơ nitơ dạng hiếm hoặc do sai sót ngẫu nhiên trong quá trình xúc tác của enzym
ADNpolimeraza. Khi ADN không nhân đôi cũng có thể bị đột biến gen nếu có sự xâm
nhập của restrovirut (virut phiên mã ngược) hoặc có sự tham gia của yếu tố di truyền
vận động (gen nhảy).

- Đột biến cấu trúc NST gồm có 4 dạng là mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn,
chuyển đoạn. Đột biến mất đoạn thường gây chết hoặc làm giảm sức sống của sinh vật,
nhưng nó cũng được sử dụng để loại bỏ gen có hại. Đột biến chuyển đoạn thường gấy
chết hoặc làm mất khả năng sinh sản hữu tính của sinh vật. Đột biến chuyển đoạn được
sử dụng để chuyển gen từ loài này sang loài khác.
- Đột biến số lượng NST gồm có lệch bội và đa bội. Đột biến lệch bội chỉ làm
thay đổi số lượng NST ở một hoặc một số cặp NST nào đó, thường gặp các dạng thể
một (2n-1), thể không (2n-2), thể ba (2n+1), thể bốn (2n+2). Đột biến đa bội chia làm
2 loại là tự đa bội (đa bội cùng nguồn) và dị đa bội(đa bội khác nguồn). Tự đa bội là
đột biến làm tăng số NST lên bội số của n (3n, 4n, 5n, 6n, ). Thể lệch bội và thể đa
bội lẻ thường không có khả năng sinh sản hữu tính. Đột biến đa bội chủ yếu xẩy ra ở
thực vật, ít gặp ở động vật. Các thể đa bội thường có cơ quan sinh dưỡng to, sinh
trưởng mạnh, chống chịu tốt và năng suất cao hơn so với thể lưỡng bội của cùng loài
đó.
- Đột biến cấu trúc NST được phát sinh do sự cuộn xoắn NST dẫn tới đứt gãy
hoặc do sự tiếp hợp và trao đổi giữa các đoạn crômatit không tương đồng làm cho cấu
trúc của NST bị thay đổi. Đột biến số lượng NST được phát sinh do rối loạn phân li
của NST ở kì sau của quá trình phân bào. Đột biến số lượng NST có thể được phát
sinh trong giảm phân hoặc trong nguyên phân nhưng nếu đột biến được phát sinh trong
nguyên phân của tế bào sinh dưỡng thì sẽ tạo nên thể khảm.
- Hầu hết các đột biến cấu trúc NST đều xảy ra do tiếp hợp và trao đổi chéo
giữa các cromatit trong cùng cặp NST hoặc giữa các cromatit thuộc các NST khác
nhau vào kì đầu của giảm phân I. Sự tiếp hợp chỉ xảy ra giữa các cromatit có vùng
tương đồng, do đó sự tiếp hợp thường chỉ xảy ra giữa các NST trong cặp tương đồng, 13

ở các đoạn tương ứng với nhau. Đột biến chỉ xảy ra khi có sự tiếp hợp và trao đổi chéo
giữa các cromatit thuộc cùng một NST ở những vùng không tương đồng gây ra đột

đồ.
Bước 3: GV nhận xét và cung cấp sơ đồ đáp án:
Vùng điều
hòa:

?
Vùng mã
hóa:

?
Sinh vật nhân s: ?
Cấu trúc chung của gen cấu trúc

ng kết
thúc:

?
Sinh vật nhân
thực:
?
Sơ đồ 1: Cấu trúc chung của gen cấu trúc 14

Bước 2: HS hoàn chỉnh sơ đồ.
Sơ đồ 1. Cấu trúc chung của gen cấu trúc
Vùng điều
hòa: khởi
động và
điều hòa
quá trình
phiên mã
Vùng mã
hóa: mang
tín hiệu mã
hóa axit
amin
Sinh vật nhân sơ
:
Mã hóa liên tục
Cấu trúc chung của gen cấu trúc
Vùng kết
thúc: mang
tín hiệu kết
thúc quá
trình phiên

Sinh vật nhân
thực: Mã hóa
không liên tục
Đặc điểm của mã di
truyền Bước 2: HS tự lực phân tích sơ đồ.
Bài
Bài
1
1
G
G
e
e
n
n

Mã di truyền
Mã di truyền
Quá trình nhân đôi
Quá trình nhân đôi
Vị trí
Vị trí
Thời gian
Thời gian
Đặc điểm
Đặc điểm

Sơ đồ 3. Hệ thống kiến thức bài 1: Gen, mã di truyền, quá trình tự sao
Sơ đồ 2. Đặc điểm của mã di truyền
Đặc điểm của mã di
truyền
Mã di truyền là mã bộ ba
Mã di truyền được đọc từ 1 điểm xác định theo từng bộ
ba liên tục theo chiều từ 5' đến 3', không gối lên nhau.
Mã di truyền có tính phổ biến

Mã di truyền có tính đặc hiệu

Mã di truyền có tính thoái hóa
16

Bước 3: GV nhận xét, chỉnh lí.
Bài 2. Phiên mã và dịch mã
4. Sử dụng sơ đồ khuyết để củng cố sau khi học xong bài 2. Phiên mã và dịch mã
Bước 1: Giáo viên yêu cầu HS học sinh hoàn thiện sơ đồ sau:
n
n
h
h
â
â
n
n?
?

?
?
?
?
Trong tế bào
Trong tế bàochất
chất
?
?
?
?
Cơ chế di truyền

Bước 2: HS nghiên cứu SGK để phát hiện ra những điểm bất hợp lí, sau đó sửa
lại cho chính xác.
Bước 3: GV nhận xét, bổ sung và cung cấp sơ đồ đáp án. Bài 4. Đột biến gen
6. Biện pháp học sinh tự xây dựng sơ đồ trong khâu dạy bài mới mục I - Khái
niệm và các dạng đột biến gen
Bước 1: GV cho HS nghiên cứu SGK mục I - Khái niệm và các dạng đột biến
gen. GV đưa một số câu hỏi gợi ý sau:
- Đột biến gen là gì?
- Nêu các dạng đột biến gen.
Bước 2: HS tự lực xây dựng sơ đồ.
Bước 3: GV mời một vài HS trình bày kết quả, sau đó nhận xét và cung cấp sơ
đồ đáp án.

7. Sử dụng sơ đồ khuyết như một phương tiện để tổ chức hoạt động học tập của
học sinh khi dạy mục I - Hình thái và cấu trúc NST, phần cấu trúc siêu hiển vi
của NST
Bước 1: GV yêu cầu học sinh nghiên cứu hình vẽ sách giáo khoa và hoàn thiện
sơ đồ sau:

Bước 2: HS hoàn thiện sơ đồ: Đại diện các nhóm lên dán lên bảng.
Bước 3: Giáo viên nhận xét và giữ lại một sơ đồ đúng nhất, đẹp nhất để
phân tích, hoàn thiện.

Bài 6. Đột biến số lượng NST
8. Biện pháp sơ đồ câm trong khâu củng cố phần Đột biến NST

Các bậc cấu trúc
Nhiễm sắc
thể
Sơ đ


7. C

u trúc siêu hi

n vi NST
19

Bước 1: Sau khi học xong phần đột biến số lượng NST, GV cung cấp cho HS
sơ đồ câm sau:

bội

Đa bội cùng
nguồn

Đa bội khác
nguồn
Đa bội chẵn
Đa bội lẻ
Thể song nhi
bội
Đột biến cấu
trúc NST

Đột biến NST
Lặp đoạn
Đảo đoạn
Chuyển đoạn
Mất đoạn
S
ơ đồ

8.
Đột biến NST?

?



3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy học sinh học.
- Xác định hiệu quả của từng biện pháp cụ thể trong các khâu của dạy học sinh học.
3.2. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
3.2.1. Chọn trường, lớp thực nghiệm
Chúng tôi chọn 4 trường trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có chất lượng tương đối
đồng đều nhau, chọn mỗi trường 2 lớp 12 cơ bản.
3.2.2. Bố trí thực nghiệm
Giáo án thực nghiệm: Mỗi lớp tiến hành thực nghiệm 2 tiết ở các bài:
Bài 1: Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN
Bài 6: Đột biến số lượng NST
Mỗi giáo án soạn theo 4 phương án tương ứng với 4 biện pháp: Biện pháp sơ đồ
khuyết và sơ đồ câm, biện pháp phân tích sơ đồ đầy đủ, biện pháp sơ đồ bất hợp lí,
biện pháp HS tự xây dựng sơ đồ trong hai khâu dạy bài mới và khâu củng cố. Các lớp
của mỗi trường được dạy cùng một GV, trong khoảng thời gian đồng đều, nội dung
kiểm tra - đánh giá sau đợt thực nghiệm là giống nhau.
3.2.3. Xử lí số liệu
Chúng tôi dã sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết
quả thực nghiệm sư phạm; Vẽ sơ đồ để phân tích kết quả.
3.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM:
Chúng tôi đã thực nghiệm từng biện pháp trong hai khâu dạy học:
3.3.1. Sử dụng biện pháp sơ đồ hóa trong khâu dạy bài mới
Từ các số liệu thực nghiệm sư phạm chúng tôi xây dựng được biểu đồ về điểm
trung bình khi sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa trong khâu dạy bài mới như sau: 21

6.37

6.39
5.69
4
4.5
5
5.5
6
6.5
7
Biểu đồ 3.2-Điểm trung bình khi sử dụng biện pháp sơ đồ
hóa trong khâu củng cố
Sơ đồ khuyết và bất hợp lí
Phân tích sơ đồ
Sơ đồ câm
HS tự xây dựng sơ đồ
22

Qua kết quả thực nghiệm về việc sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa trong khâu
củng cố của quá trình dạy học chúng tôi có một số nhận xét như sau:
- Điểm số trung bình của nhóm lớp sử dụng biện pháp sơ đồ khuyết và bất hợp lí cao
hơn các nhóm lớp sử dụng các biện pháp khác đặc biệt là biện pháp HS tự xây dựng sơ đồ.
- Số HS xếp loại dưới trung bình ở nhóm lớp sử dụng sơ đồ khuyết và bất hợp lí
chiếm tỉ lệ thấp nhất so với các nhóm lớp sử dụng các biện pháp còn lại đặc biệt là biện pháp
HS tự xây dựng sơ đồ trong khi đó tỉ lệ HS đạt giỏi ở nhóm lớp sử dụng sơ đồ khuyết và bất
hợp lí lớn nhất so với các nhóm lớp sử dụng các biện pháp còn lại đặc biệt là biện pháp HS tự
xây dựng sơ đồ.
3.4. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC BIỆN PHÁP SƠ ĐỒ HÓA

1.3. Trên cơ sở phân tích cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học THPT,
chúng tôi xác định được nội dung Chương I phần Di truyền học chủ yếu là về quá
trình, qui luật vì vậy dùng biện pháp sơ đồ hóa để dạy – học là phù hợp.
1.4. Đã đề xuất qui trình sử dụng các biện pháp sơ đồ hóa trong dạy - học
Chương I, phần Di truyền học ở các khâu của quá trình dạy học.
1.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu cho thấy:
- Ngôn ngữ sơ đồ vừa có tính trực quan, khái quát và hệ thống cao cho phép
phản ánh trực quan cùng lúc hai mặt tỉnh và động các quá trình, hiện tượng sinh học.
Vì vậy, nếu biết sử dụng sơ đồ hóa trong dạy - học thì sẽ mang lại hiệu quả cao.
- Sử dụng sơ đồ hóa hạn chế được thời gian diễn giải vấn đề, nhất là các vấn đề
trừu tượng, giúp HS hứng thú hơn trong học tập.
- Sử dụng biện pháp sơ đồ khuyết và bất hợp lí, phân tích sơ đồ, sơ đồ câm và
HS tự xây dựng sơ đồ đều tốt nhất trong khâu củng cố.
- Trong khâu dạy bài mới sử dụng biện pháp sơ đồ khuyết và bất hợp lí cho kết
quả cao nhất, sau đó đến sơ đồ câm, phân tích sơ đồ và cuối cùng là HS tự xây dựng sơ
đồ.
- Trong khâu củng cố biện pháp sơ đồ khuyết và bất hợp lí cho kết quả cao
nhất, sau đó đến sơ đồ câm và phân tích sơ đồ, cuối cùng là biện pháp tự xây dựng sơ
đồ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status