CHUYÊN ĐỀ:
TÌM HIỂU CÔNG TÁC KẾ HOẠCH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG
LỜI MỞ ĐẦU
Với vai trò là con chim đầu đàn của ngành dệt may Việt Nam, Công ty
cổ phần may Thăng Long đã và đang thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch
và chiến lược mới để bắt nhịp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của nước
nhà. Một trong những công tác quan trọng phải kể đến là nâng cao chất lượng
của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.
Đối với một doanh nghiệp bất kỳ thì hoạt động lập kế hoạch là chức
năng đầu tiên của quá trình quản lý, có vai trò rất quan trọng. Lập kế hoạch
gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương
lai, là cơ sở để xác định và triển khai các chức năng còn lại là tổ chức, lãnh
đạo, kiểm tra. Bởi vậy chất lượng của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh
doanh được nâng cao sẽ là điều kiện cần thiết để đảm bảo quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch và trên cơ sở đó
em tìm hiểu thực trạng công tác kế hoạch tại Công ty cổ phần may Thăng
Long nên em đã chọn đề tài : “ Tìm hiểu công tác kế hoạch sản xuất kinh
doanh tại Công ty cổ phần may Thăng Long “ làm chuyên đề báo cáo nhóm
của mình.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần sau :
Phần 1: Giới thiệu chung về Công ty cổ phần may Thăng Long.
Phần 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch tại Công ty cổ phần may
Thăng long.
Phần 3: Các giải pháp nhằm nâng cao công tác lập kế hoạch tại Công
ty cổ phần may Thăng Long.
1
PHẦN 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
MAY THĂNG LONG
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Ngày 8/5/1958 Bộ ngoại thưong ra quyết định thành lập Công ty may
mặc xuất khẩu – tiền thân của Công ty cổ phần may Thăng Long hiện
nay. Đây là công ty may mặc đầu tiên của Việt nam đặt trụ sở tai 15 Cao Bá
Quát. Ban đầu, Công ty có khoảng 2000 công nhân và khoảng 1700 máy may
công nghiệp. Mặc dù trong những năm đầu hoạt động công ty gặp rất nhiều
khó khăn như mặt bằng sản xuất phân tán, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật còn
thấp nhưng công ty đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch do nhà nước giao.
Đến ngày 15/12/1958 Công ty đã hoàn thành kế hoạch năm với tổng sản
lượng là 391.129 sản phẩm đạt 112,8% chỉ tiêu. Đến năm 1959 kế hoạch
Công ty được giao tăng gấp 3 lần năm 1958 nhưng Công ty vẫn hoàn thành
và đạt 102%kế hoạch. Trong những năm này Công ty đã mở rộng mối quan
hệ với các khách hàng nước ngoài như Liên Xô, Đức, Mông Cổ, Tiệp Khắc.
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), Công ty
đã có một số thay đổi lớn. Tháng 7/1961 Công ty đã chuyển địa điểm làm
việc về 250 Minh Khai, Hà Nội, là trụ sở chính của công ty ngày nay. Địa
điểm mới có nhiều thuận lợi, mặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất ổn định.
Các bộ phận phân tán trước nay đã thống nhất thành một mối, tạo thành dây
chuyền sản xuất khép kín khá hoàn chỉnh từ khâu nguyên liệu, cắt may, là,
đóng gói. Ngày 31/8/1965 theo quyết định của Bộ ngoại thương bộ phận gia
công đã tách thành đơn vị sản xuất độc lập với tên gọi Công ty gia công may
mặc xuất khẩu, Công ty may mặc xuất khẩu đổi thành Xí nghiệp may mặc
xuất khẩu.
Vào những năm chiến tranh chống Mỹ, Công ty đã gặp rất nhiều khó
khăn như Công ty đã phải 4 lần đổi tên, 4 lần thay đổi địa điểm, 5 lần thay
đổi các cán bộ chủ chốt nhưng Công ty vẫn vững bước tiến lên thực hiện kế
hoạch 5 năm lần thứ hai. Trong các năm 1976 - 1980 Công ty đã tập trung
vào một số hoạt động chính như: Triển khai thực hiện là đơn vị thí điểm của
ngành may, trang bị thêm máy móc, nghiên cứu cải tiến dây chuyền công
3
ra đời, đồng thời là mô hình Công ty đầu tiên trong các xí nghiệp may mặc
4
phía Bắc được tổ chức theo cơ chế đổi mới. Nắm bắt được xu thế phát triển
của toàn ngành năm 1993 Công ty đã mạnh dạn đầu tư hơn 3 tỷ đồng mua
16.000 m đất tại Hải Phòng thu hút gần 200 lao động. Công ty đã mở thêm
nhiều thị trường mới và trở thành bạn hàng của nhiều Công ty nước ngoài ở
thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ. Ngoài thị trường xuất khẩu Công ty cũng chú
trong đến việc phát triển thị trường nội địa, năm 1993 Công ty đã thành lập
Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39 Ngô Quyền, Hà Nội.
Với sự năng động và sáng tạo của mình, Công ty đã đăng ký bản quyền
thương hiệu THALOGA tại thị trường Việt Nam vào năm 1993 và được cấp
chứng nhận đăng ký bản quyền tại Mỹ vào 9/2003. Nhờ sự phát triển đó,
Công ty là một trong những đơn vị đầu tiên ở phía Bắc chuyển sang gắn hoạt
động sản xuất với kinh doanh, nâng cao hiệu quả. Bắt đầu từ năm 2000 Công
ty đã thực hiện theo hệ thống quản lý ISO 9001-2000, hệ thống quản lý theo
tiêu chuẩn SA 8000.
Cho đến nay, Công ty đã liên tục giành được nhiều Huân chương lao
động, Huân chương độc lập cao quí. Gần đây nhất là năm 2002 Công ty đã
được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc Lập hạng nhì. Năm 2004 Công
ty may Thăng Long được cổ phần hoá theo quyết định số 1496/QĐ-TCCB
ngày 26/6/2003 của Bộ công nghiệp về việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước. Công ty may Thăng Long chuyển sang công ty cổ phần, Nhà nước nắm
giữ cổ phần chi phối 51% vốn điều lệ, bán một phần vốn của Nhà nước tại
doanh nghiệp cho các cán bộ công nhân viên Công ty 49%. Trong quá trình
hoạt động, khi có nhu cầu và đủ điều kiện Công ty sẽ phát hành thêm cổ
phiếu hoặc trái phiếu để huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Theo phương án cổ phần hoá: Công ty có vốn điều lệ là 23.306.700.000 đồng
được chia thành 233.067 cổ phần, mệnh giá của mỗi cổ phần là 100.000đồng.
1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của công ty
1.3.1. Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty
Khối quản lý
sản xuất
Khối quản lý
sản xuất
Trên thực tế, hiện nay bộ máy quản lý của công ty vẫn chia thành hai
cấp, cấp công ty và cấp xí nghiệp với sự chỉ đạo của tổng giám đốc do Hội
đồng quản trị cử ra.
*Cấp công ty:
Bao gồm ban giám đốc của Công ty chịu trách nhiệm quản lý và chỉ
đạo trực tiếp. Ban giám đốc gồm 4 người:
-Tổng Giám đốc: Là người điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng ngày của Công ty. Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm hay bãi
nhiệm. Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các
quyền và nhiệm vụ được giao. Giúp việc cho Tổng giám đốc có các Phó
Tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm hay bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng
Giám đốc, gồm có các Phó Tổng Giám đốc sau:
- Phó Tổng Giám đốc Điều hành về sản xuất và kỹ thuật: Có trách
nhiệm giúp việc cho Tổng Giám đốc về mặt kỹ thuật sản xuất và thiết kế của
Công ty.
- Phó Tổng Giám đốc Tài chính và Kinh doanh: Có trách nhiệm giúp
Tổng Giám đốc trực tiếp chỉ đạo hoạt động về mặt tài chính và kinh doanh
trong Công ty.
- Phó Tổng Giám đốc Điều hành nội chính: Có nhiệm vụ giúp Tổng
Giám đốc về mặt đời sống nhân viên và điều hành các dich vụ đời sống.
Các phòng ban chức năng, gồm:
Văn phòng Công ty: Có trách nhiệm quản lý về mặt nhân sự, các mặt
tổ chức của công ty: Quan hệ đối ngoại, giải quyết các chế độ chính sách với
người lao động.
- Phòng kỹ thuật chất lượng: Quản lý, phác thảo, tạo mẫu các mặt hàng
theo đơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu của Công ty, kiểm tra chất
nghiệp có các nhân viên thống kê xí nghiệp và nhân viên thống kê phân
xưởng. Ngoài ra còn có các tổ trưởng sản xuất, nhân viên tiền lương, cấp phát
thống kê, cấp phát nguyên liệu.
- Dưới các trung tâm và cửa hàng thời trang có cửa hàng trưởng và các
nhân viên cửa hàng.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty được
thể hiện qua sơ đồ:
8
Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh của Công ty
1.3.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
Mô hình sản xuất của công ty bao gồm nhiều xí nghiệp thành viên.
Công ty hiện có 5 xí nghiệp may chính thức, gồm:
- 3 xí nghiệp may I, II, III ở Hà Nội.
- 1 xí nghiệp may ở Nam Hải đóng tại Nam Định
- 1 xí nghiệp may Hoà Lạc đóng tại Hà Tây
Trong đó mỗi xí nghiệp này lại chia thành 5 bộ phận có nhiệm vụ khác
nhau gồm: Văn phòng xí nghiệp, tổ cắt, tổ may, tổ là, kho Công ty.
9
TỔNG
GIÁM ĐỐC
P.Tổng Giám đốc
điều hành sản xuất
kỹ thuật
GĐ các xí nghiệp
thành viên
Nhân viên thống kê
các xí nghiệp
Nhân viên thống kê
phân xưởng
P.tổng Giám đốc
XN
HOÀ
LẠC
PHÂN
XƯỞNG
THIÊU
PHÂN
XƯỞNG
GIẶT
MÀI
Phòng
kho
Ngoài xí nghiệp may chính thì Công ty còn tổ chức các xí nghiệp phụ
trợ gồm một phân xưởng thêu, một phân xưởng mài đồng thời có nhiệm vụ
cung cấp điện nước, sửa chữa máy móc thiết bị cho cả Công ty, một cửa hàng
thời trang chuyên nghiên cứu mẫu mốt và sản xuất những đơn đặt hàng nhỏ,
số lượng khoảng 1000 sản phẩm/ tháng.
Hình 1.3: Mô hình tổ chức sản xuất của Công ty.
1.4. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty
- Sản xuất và kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm may mặc, các
loại nguyên liệu thiết bị, phụ tùng, phụ liệu, hoá chất thuốc nhuộm, thiết bị
tạo mẫu thời trang, các sản phẩm khác của ngành dệt may. Trong đó hoạt
động chính vẫn là ở lĩnh vực may mặc với các loại sản phẩm cơ bản: Quần áo
sơmi, áo Jacket, áo khoác các loại, quần áo trẻ em…
10
CÔNG TY
Xí
nghiệp
I
Xí
Kho công ty
- Kinh doanh, xuất nhập khẩu các mặt hàng công nghệ thực phẩm,
công nghiệp tiêu dùng, trang thiết bị văn phòng, nông lâm, hải sản, thủ
công,mỹ nghệ.
- Kinh doanh các sản phẩm vật liệu điện, điện tử, cao su, ôtô, xe máy,
mỹ phẩm, rượu, kinh doanh nhà đất, cho thuê văn phòng.
- Kinh doanh kho vận, kho ngoại quan, kinh doanh khách sạn, nhà
hàng, vận tải, du lịch lữ hành trong nước.
- Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật.
1.5. Kết quả sản xuất kinh doanh Công ty trong thời gian qua
STT Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009
So sánh
2009/2008
Tr.đồng Tr.đồng ( %)
1 Doanh thu 235.000 250.000 106
2 Chi phí 230.000 244.300 106
3 LN trước thuế 5.000 5.700 114
4 Thuế TNDN(32%) 1.600 1.824 124
5 LN sau thuế 3.400 3.876 124
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty)
Do được đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc sản xuất nên sản lượng
sản xuất ra tăng lên, đồng thời cũng do chất lượng sản phẩm đã được nâng
lên đáng kể nên công ty cũng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn vì thế mà
doanh thu của công ty đều tăng lên qua các năm. Năm 2010 tăng so với năm
2009 là 6%. Ngoài ra, chi phí của công ty qua các năm cũng có xu hướng
tăng lên và tăng bình quân khoảng 6% gần bằng tốc độ tăng của doanh thu.
Lợi nhuận sau thuế năm năm 2010 tăng 14% so với năm2009.
Như vậy trong 2 năm gần đây, ta có thể thấy khả năng đi đúng hướng
của công ty trong việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở
nghiệp, tổng doanh thu, mua vải nội bộ trong Tổng Công ty…Và các chỉ tiêu
hiệu quả như lợi nhuận, các khoản nộp Ngân sách…
Năm 2010 Tổng công ty giao cho Công ty: Giá trị sản xuất công
nghiệp là 135 tỷ, Tổng doanh thu 245 tỷ, mua vải nội bộ trong Tổng Công ty
12
là 400.000 m trong đó mua vải của Công ty nhuộm Yên Mỹ 100.000 m. Lợi
nhuận là 10 tỷ, các khoản nộp ngân sách 1.958 triệu đồng.
- Chỉ tiêu hướng dẫn: Là các chỉ tiêu như Kim ngạch xuất khẩu, nhập
khẩu, số lượng các sản phẩm sản xuất chủ yếu.
- Chỉ tiêu thi đua: Là chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh.
2.2.2. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu và dự báo thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
lớn mạnh thì phải lấy thị trường là trung tâm cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, thị trường chính là nơi quyết định sản xuất cái gì ? Sản xuất
như thế nào ? Sản xuất cho ai ? Do vậy nghiên cứu thị trường là công việc
cần thiết đầu tiên đối với bất cứ doanh nghiệp nào trong quá trình kinh
doanh. Một doanh nghiệp không thể khai thác hết tiềm năng của mình cũng
như không thoả mãn tốt được nhu cầu của khách hàng nếu không có được
đầy đủ các thông tin chính xác về thị trường. Vì vậy nghiên cứu thị trường là
khâu quan trọng đầu tiên làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng năm của Công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa
và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.Thông qua việc nghiên cứu thị
trường Công ty sẽ nắm được những thông tin về giá cả, tình hình cung cầu
sản phẩm mà Công ty sản xuất để đề ra những phương án chiến lược và lập
kế hoạch kinh doanh cho Công ty. Và Công ty cổ phần may Thăng Long
cũng phải tuân thủ qui luật này nếu muốn tồn tại và phát triển. Hằng năm
công ty thường tiến hành nghiên cứu thị trường trước để làm căn cứ cho việc
lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong năm. Cụ thể là hằng năm Công ty đều
phải xem xét tác động của cả yếu tố chủ quan và khách quan như dự báo tình
hình phát triển kinh tế của Việt Nam, nhu cầu thời trang của người dân thay
Vì vậy hàng năm để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh thì Công ty đều
phải tiến hành nghiên cứu và dự báo cả thị trường trong nước và thị trường
nước ngoài, điều tra nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, khai thác tốt
thông tin trên mạng để kịp thời cập nhật các thay đổi trong xu hướng tiêu
dùng và thời trang của khách hàng … để từ đó lập kế hoạch sản xuất cho
từng mặt hàng phù hợp.
2.2.3. Căn cứ vào năng lực hiện có của Công ty
14