Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
xĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và
chính xác. Những kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ
công trình nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình! Học viên
3
3
4
Chƣơng 1.
5
5
5
10
11
18
24
31
31
34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
- 40
Chƣơng 2. 41
2.1 41
2.2 41
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 41
2.2.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu 42
42
Chƣơng 3.
44
3.1. Địa bàn nghiên cứ - 44
4.1.2. Quan điểm tăng cường công tác GPMB 79
80
4.2.1. Vận dụng linh hoạt các quy định của luật pháp và của tỉnh về
ế của
thành phố Vĩnh Yên 80
82
ế ải
phóng mặt bằng 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
85
,
khiếu kiện của người dân về công tác giải phóng mặt bằng 87
4.2.6. Khuyến khích thành lập các tổ chức tư vấn về giá đất, hỗ trợ
cho công tác GPMB 88
90
92
96
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GPMB
HĐND
KNTC
KT-XH
-
,
- .
-
tổ chức
Đó chính là một trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
.
a
, các
, : “Giải pháp tăng cường công
tác giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trên địa
bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”.
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về giải
phóng mặt bằng; Phân tích kinh nghiệm thực tế và đúc rút bài học kinh
nghiệm trong giải phóng mặt bằng; Đánh giá thực trạng công tác giải phóng
mặt bằng trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Phân tích và nhận
định những điểm mạnh, tồn tại và thách thức trong công tác giải phóng mặt
bằng; Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng trên
địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Mục tiêu cụ thể
-
.
-
Chương 2: Địa bàn và p
Chương 3.
Chương 4: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
NG
Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
quá trình mở rộng, chỉnh trang đô thị diễn ra hết sức mạnh mẽ thì càng có
nhiều yêu cầu bức thiết đặt ra. Một trong những yêu cầu đó là công tác GPMB
để mở mang phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu du lịch, dịch vụ, khu dân cư, mạng lưới giao thông, trường học, bệnh
viện, các công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
và nâng cao đời sống nhân dân… GPMB là điều kiện tiên quyết để dự án
được triển khai và đi đến thành công [6].
Trong khi đó mặt bằng đất đai được sử dụng cho các dự án xây dựng
các công trình không phải có sẵn, không phải hoàn toàn lấy từ đất chưa sử
dụng mà có thể từ các nguồn khác nhau. Như chúng ta đã biết, Nhà nước có
quyền giao đất (trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất) và cho thuê đất (Nhà nước trao quyền sử dụng
xã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia. Các yêu cầu hoàn thiện kết cấu hạ
tầng kỹ thuật (hệ thống cấp thoát nước, hệ thống giao thống, hệ thống tải
điện,…), cơ sở sản xuất (quy hoạch đổng ruộng, khu công nghiệp và mở rộng
đô thị chỉ tranh khu dân cư…) đều dẫn đến giải phóng mặt bằng.
Vấn đề giải phóng mặt bằng là một trong những điều kiện tiên quyết
của phát triển, nếu không xử lý tốt thì sẽ trở thành lực cản - thực tế đầu tiên
mà các nhà phát triển phải vượt qua. Bài học từ các nước phát triển đã chỉ ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
rằng, nếu xem nhẹ công tác giải phóng mặt bằng trong tính toán đầu tư phát
triển thì không chỉ làm gia tăng giá thành mà còn để lại nhiều hậu nặng nề cho
xã hội mà không thể xử lý được bằng tiền. Có thể khẳng định rằng, giải phóng
mặt bằng là một vấn đề không thể né tránh của phát triển mà chính nó là một
yếu tố quyết định đến tiến độ và sự thành công của phát triển, bất kỳ một giải
pháp nào giải quyết khâu giải phóng mặt bằng mà thiếu đồng bộ, không chặt
chẽ đều sẽ để lại những hậu quả tiêu cực.
Trong quá trình phát triển, luôn diễn ra quá trình phân bổ lại đất đai cho
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh. Khi các
ngành sản xuất công nghiệp, giao thông, du lịch, giáo dục, dịch vụ, thương
mại… tăng dần tỷ trọng trong tổng sản phẩm xã hội, trong thu nhập quốc dân
(GDP) thì việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp,
đất làm nhà ở sang đất chuyên dùng sử dụng vào các mục đích công nghiệp,
giao thông, du lịch, thương mại… là điều tất yếu và diễn ra ngày càng mạnh
mẽ. Vấn đề đặ Nhà nước cần lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một
cách khoa học, hợp lý; có sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động xây dựng,
quy hoạch, nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và kinh tế; đồng thời cần có
những chính sách quy định để vừa đảm bảo quyền lợi chung của xã hội lại
vừa đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người có đất bị thu hồi để sử dụng
các nhà quản lý các cấ ất nhiều hoạt động trong tổ chức, cơ quan, doanh
nghiệp được thực hiện theo hình thức dự án. Phương pháp quản lý dự án càng
trở nên quan trọng và nhận được sự chú ý ngày càng tăng trong xã hội. Điều
này một phần do tầm quan trọng của dự án trong việc thực hiện các kế hoạch
phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hộ
:
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO định nghĩa như sau: “Dự án là
một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợ ộng có phối hợp và được
kiể ắt đầu và kết thúc, được tiến hành để ợc một
mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
gian, chi phí và nguồn lực” [19].
Theo Trịnh Quốc Thắng, dự án được định nghĩa như sau: “Dự án là sự
chi phí tiề ể thực hiện một kế ằm mục đích cho ra một
sản phẩm duy nhất” [24].
Theo Tiến sỹ Ben Obinero Uwakenh trường Đại học Cincinnati - Mỹ
“Dự án là sự nỗ lự ợc tiến hành để ột sản phẩm hoặc
dịch vụ duy nhất”. ạm thời bở ời gian bắt đầu và kết thúc, duy
nhất vì các sản phẩm, dịch vụ đều khác nhau [24].
ứa
:
Nếu xét về mặt hình thứ ột tập hồ sơ tài liệu trình
bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch
để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong
tương lai.
Nếu xét về mặt nộ ột tập hợp các hoạt động có
liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định
tiến độ thi công các công trình cũng như chi phí cho dự án, có khi gây ra thiệt
hại không nhỏ trong đầu tư xây dựng. Ví dụ một dự án dự kiến hoàn thành
trước tháng 5 nhưng do giải phóng mặt bằng chậm, kéo dài nên việc xây dựng
phải tiến hành vào tháng 11 khi thời tiết mưa bão gây khó khăn cho công tác
thi công cũng như tập trung vốn, lao động, công nghệ cho dự án này cũng như
ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án khác. (3) Giải phóng mặt bằng thực hiện
tốt sẽ giảm chi phí cho việc giải tỏa đền bù, có điều kiện tập trung vốn đầu tư
cho các công trình khác. Giải phóng mặt bằng kéo dài dẫn đến chi phí bồi
thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến sự quay vòng vốn
chậm gây khó khăn cho các chủ đầu tư. Đặc biệt, các chủ đầu tư trong nước là
đơn vị vừa và nhỏ có nguồn vốn hạn hẹp thì hiệu quả sử dụng đồng vốn là rất
quan trọng để đảm bảo tận dụng cơ hội đấu thầu của các công trình khác.
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội , giải phóng
mặt bằng là một mặt của phát triển, có liên quan chặt chẽ đến quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Nếu công tác giải phóng mặt bằng không được thực hiện
tốt sẽ kéo theo dự án bị treo, dẫn đến chất lượng công trình giảm, các mục
tiêu ban đầu không thực hiện được, từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách
Nhà nước. Mặt khác,khi giải quyết không thỏa đáng quyền, lợi ích hợp pháp
của người có đất bị thu hồi sẽ dễ dàng nổ ra những khiếu kiện, đặc biệt là
những khiếu kiện tập thể, ảnh hưởng đến chính trị.
1.1.3.
Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 đã quy định
“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
điều 18 quy định “Các tổ chức cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu
dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.
bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư
116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
NĐ 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất; Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định 188/2004/NĐ-CP
ngày 16/11/2004 của chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá
các loại đất; Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
về phương pháp xác định giá đất và khung các loại đất; Thông tư 69/2006/TT-
BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính về sửa đổi bổ sung thông tư số
116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-
BTC-BTN&MT ngày 31 tháng 01 năm 2008 của Bộ Tài chính - Bộ tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai [14]; [13]; [11]; [10], [24], [26].
Các Nghị định và Thông tư nêu trên đã quy định cụ thể ồi thường,
hỗ trợ, tái đinh cư, giải phóng mặt bằng như sau:
Quy định những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế,
trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp đối với những trường hợp nhà đầu
tư thỏa thuận với người sử dụng đất.
Quy định về phạm vi, loại đất để tính bồi thường: Quy định về giải
quyết các trường hợp đang sử dụng đất những không co một trong các giấy tờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
15
nghiệp…; đồng thời Nghị định cũng quy định việc lập Quỹ phát triển đất trên
cơ sở trích từ 30 đến 50% nguồn thu hàng năm từ tiền sử dụng đất, đấu giá
quyền sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, phát triển khu tái định cư
nhằm đảm bảo vai trò của Nhà nước trong việc ổn định xã hội thông qua
chính sách điều tiết tài nguyên đất đai sẽ góp phần làm hài hóa các lợi ích
giữa Nhà nước và các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Nhà nước có thể chủ động mua lại diện tích đất của các doanh nghiệp thuộc
diện phải được di dời ra khỏi các đô thị do quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi
trường để bổ sung vào quỹ đất phục vụ vì mục tiêu chính sách xã hội [17].
Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Luật Đất đai năm
2003 đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, giải phóng
mặt bằng hiện nay.
Về việc thực hiện thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng: Nhà
nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích như xây dựng khu
công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy
định của Chính phủ, đối với các dự án sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển
nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng giá trị chuyển quyền sử
dụng đất của tổ chức, gia đình, cá nhân mà Nhà nước không thực hiện thủ tục
thu hồi đất. Như vậy, Nhà nước hạn chế các trường hợp mà Nhà nước bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư và khuyến khích các nhà đầu tư thỏa thuận với
người sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 1993 quy định chỉ thu hồi đất khi đã có dự án đầu tư
cụ thể, Luật Đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất,
bồi thường giải phóng mặt bằng sau khi đã quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
được công bố hoặc khi có dự án đầu tư có như cầu dử dụng đất phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên