1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Trong hơn 4 thập kỷ qua cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) đã gia tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Liên
hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn này có xu hướng tăng
lên qua các năm, năm 2012 tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn cầu đạt
1.350,926 tỷ USD, trong khi đó vào năm 1970 số lượng vốn này chỉ đạt 13,346 tỷ
USD (tăng gấp 144 lần). Mặt khác, khi so sánh tương quan với giá trị tổng sản phẩm
quốc nội dòng vốn FDI toàn cầu trong 4 thập kỷ qua đã tăng nhanh hơn gấp 6 lần. Đối
với các nước đang phát triển dòng vốn FDI cũng có sự gia tăng rất đáng kể, nếu như ở
thập kỷ 90 dòng vốn FDI vào các nước này chỉ chiếm 29% tổng vốn toàn cầu thì trong
thập kỷ qua con số này đã thay đổi rất nhiều, chiếm đến 46% (UNCTAD, 2013). Điều
này đã cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt dòng vốn FDI trên thế giới hiện nay,
đang dần chuyển sang các nước đang phát triển. Cùng với sự gia tăng về lượng vốn
FDI còn được xem là công cụ quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế của rất
nhiều nước trên thế giới (Wang, 2009). Nhiều chính phủ các nước phát triển cũng như
các nước đang phát triển tin rằng FDI có thể giúp họ vượt qua sự trì trệ trong phát triển
kinh tế và giải quyết nạn đói nghèo (Brooks et al., 2010). Theo Bwalya (2006), FDI có
thể hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thông qua 3 kênh: (i) hỗ trợ vốn (không liên quan
đến nợ nần) nhằm tài trợ đầu tư cho nước thu hút; (ii) nâng cao trình độ kỹ thuật của
nước thu hút và (iii) chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp trong các nước
này. Tầm quan trọng đối với việc gia tăng lượng vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển
kinh tế và xã hội đã dẫn đến sự cạnh tranh lớn giữa các nước, đòi hỏi chính phủ mỗi
quốc gia phải đẩy mạnh xúc tiến và cải thiện môi trường đầu tư. Xu hướng này xuất
hiện không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong quá trình
chuyển đổi kinh tế.
Trên thực tế, xu hướng toàn cầu hóa đã dẫn đến sự dịch chuyển rất lớn nguồn lực
từ nước này sang nước khác, từ khu vực này sang khu vực khác. Trong thế kỷ 21, theo
dự đoán của các nhà kinh tế nguồn lực sẽ chuyển từ các quốc gia phát triển đến các
2
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án
Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, trên cơ sở kết quả tổng quan
của tác giả cho thấy hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu cả về mặt lý
thuyết cũng như thực nghiệm được thực hiện. Các công trình nghiên cứu lý thuyết
nhằm mục đích củng cố và xây dựng khung lý thuyết đối với yếu tố quyết định vị trí
của dòng vốn FDI. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác
định các yếu tố cụ thể ảnh hưởng thu hút hay cản trở dòng vốn này đến nhóm nước,
khu vực hay tại một quốc gia và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI
giữa các địa phương trong một quốc gia. Tuy vậy, vẫn còn khá ít các nghiên cứu thực
nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu hút và phân bố không gian vốn FDI tại Việt Nam. Về
yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI vào Việt Nam, hầu hết trong các nghiên cứu được
tổng kết các tác giả đã sử dụng các biến đại diện và phương pháp nghiên cứu khác
nhau sao cho phù hợp với cơ sở dữ liệu thống kê. Theo đó, kết quả tổng quan phân
thành hai nhóm liên quan đến nguồn dữ liệu thống kê sơ cấp và thứ cấp. Đại diện cho
nhóm thứ nhất liên quan đến dữ liệu thống kê sơ cấp có các nghiên cứu của Hafiz and
Giroud (2004), Lei et al. (2011) và Nguyen et al. (2013). Ngược lại, các nghiên cứu
khác của Parker et al. (2005), Hoang (2006), Hồ Nhựt Quang (2010), Pham (2011),
Nguyen (2011), Hoàng Chí Cương và cộng sự (2013) sử dụng dữ liệu thống kê thứ
cấp. Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương
tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả vì sự hạn về dữ liệu thống kê nên chỉ có 3
nghiên cứu điển hình có liên quan là nghiên cứu của Meyer and Nguyen (2005),
Nguyen et al. (2008) và Dinh (2009).
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là xác định các yếu tố ảnh hưởng thu hút
dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI
giữa các địa phương tại Việt Nam. Cụ thể luận án tập trung trả lời 2 câu hỏi nghiên
cứu chính sau:
(WB) và Tổ chức Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD).
(4) Cuối cùng, để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI
giữa các địa phương tại Việt Nam, dữ liệu của 63 tỉnh/thành phố tại Việt Nam trong
4
5
giai đoạn 2005-2013 đã được sử dụng. Cụ thể các dữ liệu có liên quan bao gồm: Vốn
đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tốc độ gia tăng Chỉ số giá tiêu dùng so với kỳ
trước, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá
hiện hành), Chỉ số phát triển GDP, Dân cư thành thị, Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp
của địa phương, Lao động làm việc trong các ngành kinh tế của địa phương, Số học
sinh trung cấp chuyên nghiệp, Số điện thoại cố định. Nguồn dữ liệu được trích dẫn từ
số liệu Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và Niên giám thống kê của các
tỉnh/thành phố.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính đã được sử dụng trong phân tích đánh giá của
các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay. Theo đó, quá
trình nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua việc sử dụng phương pháp
thống kê, từ đó diễn giải, đánh giá đối tượng nghiên cứu và đặc biệt sử dụng phương
pháp chuyên gia nhằm phỏng vấn lấy ý kiến từ các chuyên gia để hoàn chỉnh bảng câu
hỏi phục vụ cho giai đoạn nghiên cứu sau. Sau khi tiến hành nghiên cứu sơ bộ nhằm
thiết lập bảng câu hỏi, quá trình nghiên cứu chính thức được thực hiện theo hai công
đoạn. Một là, tiến hành điều tra khảo sát tại các doanh nghiệp FDI theo mẫu tính toán
thuận tiện. Hai là, với dữ liệu thu thập được trong quá trình điều tra, tác giả đã tính
toán các kết quả thống kê mô tả nhằm phản ánh đánh giá của các nhà đầu tư về môi
trường đầu tư Việt Nam hiện nay.
- Đối với nội dung phân tích các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam: với
mục đích lựa chọn phương pháp ước lượng đạt kết quả kiểm định không chệch, vững
và hiệu quả, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn sử dụng là phương pháp ước
phương nhỏ nhất (OLS)
Hồi quy theo phương pháp ước lượng bình
phương nhỏ nhất tổng quát (GLS)
Hồi quy theo phương pháp GMM sai phân
Thực hiện Sargan test và Arellano-Bond test nhằm
kiểm định tính phù hợp
Kiểm định các giả thuyết đưa ra
Hiệu ứng tác động cố định và đặc điểm
dữ liệu bảng T nhỏ và N lớn
7
Hình 1: Trình tự thực hiện phương pháp nghiên cứu đối với mô hình các yếu tố
ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tự mô phỏng)
- Cuối cùng, lập luận như đối với trường hợp Việt Nam nói chung mô hình nghiên
cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa
phương tại Việt Nam cũng được xác định là mô hình hồi quy dữ liệu bảng động. Do
đó, phương pháp nghiên cứu để ước lượng và kiểm định các giả thuyết đưa ra liên
quan đến các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại
Việt Nam sẽ được thực hiện tương tự.
6. Tính mới và đóng góp của luận án
Trên cơ sở tổng quan các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng thu
hút dòng vốn FDI vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI
7
8
giữa các địa phương tại Việt Nam, đây không phải là vấn đề mới và đã được một số
tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu chưa tiến hành kiểm
định các vi phạm liên quan đến hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và biến
nội sinh, chủ yếu chỉ dừng lại ở phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS)
nên kết quả ước lượng chưa đáng tin cậy. Đặc biệt, chưa có mô hình nghiên cứu nào
- Cung cấp bằng chứng thực tế về đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với
môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay.
- Xác định mô hình đặc trưng đối với các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI
vào Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa
phương tại Việt Nam. Kết quả cho thấy quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam không những bị chi phối bởi thông tin hiện tại mà còn bị chi phối bởi thông
tin quá khứ của các yếu tố ảnh hưởng.
- Dựa trên kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM sai phân, có 3
trong 6 giả thuyết đưa ra liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào Việt
Nam có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 10%. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài
đến Việt Nam là vì tác động khung chính sách, động cơ tìm kiếm thị trường và động
cơ tìm kiếm tài nguyên.
- Đối với các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương
tại Việt Nam, kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng GMM sai phân đối với
dữ liệu hiện tại và quá khứ đã không đủ cơ sở bác bỏ 4 trong 5 giả thuyết đưa ra, liên
quan đến chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm
thị trường, động cơ tìm kiếm hiệu quả, và hiệu ứng tích tụ FDI. Các biến được kiểm
định có ý nghĩa thống kê bao gồm tỷ lệ lạm phát, dân cư thành thị, lực lượng lao động,
số học sinh trung cấp chuyên nghiệp và các biến giả phản ánh hiệu ứng tích tụ đối với
thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích một số gợi ý chính sách nhằm cải
thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề xuất.
- Cuối cùng, việc dựa trên dữ liệu bảng của các nước ASIA 24 để phân tích các
yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn FDI vào Việt Nam nên kết quả nghiên cứu không những
9
10
có thể cho thấy được động cơ của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam mà còn có thể
so sánh tương đồng với các quốc gia khác trong khu vực. Vì vậy kết quả nghiên cứu
Trong chương này luận án đã đưa ra các giả thuyết cần kiểm định nhằm xác định
các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam. Trên cơ sở đó, xây dựng
mô hình lý thuyết cũng như mô hình nghiên cứu thực nghiệm kết hợp với các phương
pháp hồi quy khác nhau nhằm đưa ra kết quả kiểm định đáng tin cậy và hiệu quả nhất.
Vì hạn chế về dữ liệu của Việt Nam nên dữ liệu của các nước ASIA 24 (Việt Nam và
23 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á khác) đã được sử dụng cho mục
tiêu nghiên cứu này.
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng phân bố không gian vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Kế thừa kết quả phân tích trong chương 3, để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
phân bố không gian vốn FDI giữa các địa phương tại Việt Nam luận án đã đưa ra 5 giả
thuyết cần kiểm định. Nhìn chung, kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng sai
phân GMM đã ủng hộ 4 trong 5 giả thuyết đưa ra liên quan đến chất lượng điều hành
kinh tế của chính quyền địa phương, động cơ tìm kiếm thị trường, động cơ tìm kiếm
hiệu quả và hiệu ứng tích tụ FDI. Liên quan giả thuyết 5, biến FDI_1 được kiểm định
không có ý nghĩa thống kê trong tác động lên biến phụ thuộc FDI ngay tại mức ý nghĩa
10%.
Chương 5: Hàm ý chính sách
Từ kết quả đạt được trong quá trình phân tích chương 2, 3 và 4, trong chương 5
một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư cũng như tăng cường thu
hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cấp độ quốc gia và địa phương đã được đề
xuất.
11
12
CHƯƠNG 1:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI: LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
1.1. Giới thiệu
Trên nền tảng lý thuyết về yếu tố quyết định vị trí FDI tác giả đã tiến hành thống
cấu tổ chức của các MNEs. Cụ thể, “Các tập đoàn đa quốc gia là các công ty lớn tổ
chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được
lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ được dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu
thụ”.
Lý thuyết đã chỉ ra rằng FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác
giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút (ví dụ, Dunning, 1981, 1988;
UNCTAD, 2006). Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra
có thể chung qui là do ảnh hưởng của các yếu tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo
của nước thu hút. Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động lực thúc
đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tiềm năng hơn
hay tăng hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn… ở nước thu hút. Sau đây
là bảng mô tả các yếu tố “đẩy” và “kéo” dẫn đến xu hướng đầu tư của FDI.
Bảng 1.1: Yếu tố điều kiện “Đẩy – Kéo” của FDI
Yếu tố “Đẩy” - Nước chủ đầu tư Yếu tố “Kéo” - Nước thu hút
1. Thị trường
và Thương
mại
Thị trường nước chủ đầu tư hạn
chế buộc công ty phải tìm kiếm một
thị trường mới.
Thị trường lớn và phát triển là
điều kiện tốt để thu hút các nhà đầu
tư.
2. Chi phí
sản xuất
Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào
như nguồn tài nguyên, chi phí lao
động cao gây ra xu hướng đầu tư ra
nước ngoài.
Nguồn lực tài nguyên sẵn có, chi
trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài
nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp
hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và
ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài. Nước
chủ đầu tư, tốt hơn hết, nên mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng
hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong
khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả. Cuối
cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng
vốn FDI trong tương lai. Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân
nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI.
Theo Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua
ngày 29-2-1987 có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”,
“đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy
nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do
nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt
Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở
nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan”.
14
15
1.3. Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế
Trong quá khứ đã có rất nhiều nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa FDI và tăng
trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh
tế là khá phổ biến. FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hai hướng: trực tiếp và gián
tiếp, trong đó tác động gián tiếp của FDI đến tăng trưởng kinh tế còn gọi là tác động
lan tỏa. Các nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp và cách tiếp cận vấn đề khác
nhau. Một số nghiên cứu đề cập việc đo lường tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế nói chung theo cách tác động trực tiếp, trong khi những nghiên cứu khác lại tập
trung nghiên cứu tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất, thương mại quốc tế,
et al. (1996); Hansen and Rand (2006); Blalock and Gertler (2008).
1.3.2. Tác động của FDI đối với thương mại quốc tế
Nhiều công ty đa quốc gia đạt được hiệu quả kinh doanh thông qua việc quảng
cáo, tiếp thị và bán các sản phẩm sử dụng thương hiệu uy tín. Nó tạo điều kiện thuận
lợi cho việc gia nhập của các công ty này vào thị trường nước ngoài. Ngày nay, sản
phẩm sản xuất ra phải đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế mới theo quy định của WTO,
tuy nhiên hầu hết các sản phẩm từ các nước đang phát triển không đáp ứng các tiêu
chuẩn này. Vai trò của FDI rất quan trọng trong việc giúp đỡ các nước đang phát triển
đạt được các tiêu chuẩn quốc tế cần thiết để cạnh tranh trong thị trường toàn cầu và
cũng để nâng cao chất lượng sản xuất trong nước.
Một số nghiên cứu đã điều tra mối quan hệ giữa FDI và thương mại quốc tế. Chen
and Chang (1995) tìm thấy mối quan hệ tốt giữa vốn FDI vào Trung Quốc và xuất
khẩu của Trung Quốc. Aitken et al. (1997) nhấn mạnh tác động tốt của các công ty đa
quốc gia đến các công ty địa phương thông qua lợi ích nhận được từ quá trình cung
cấp các dịch vụ cho các công ty đa quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông
tin và phân phối. Đối với Thái Lan, quốc gia này đã đạt được tăng trưởng bình quân
hàng năm 12,6% từ năm 1989 đến năm 1992, thành tựu này không thể không nói đến
sự đóng góp của các công ty đa quốc gia trong việc thúc đẩy xuất khẩu, đặc biệt là
trong các sản phẩm điện tử (Hoekman et al., 1996). Lutz et al. (2003) kiểm tra hiệu
ứng lan tỏa của FDI lên xuất khẩu và kết quả nghiên cứu đã không tìm thấy bất kỳ
bằng chứng nào về tác động lan tỏa xuất khẩu từ FDI. Đối với Việt Nam, trong nghiên
16
17
cứu của Anwara and Nguyen (2011) từ dữ liệu bảng của 19 đối tác thương mại lớn của
Việt Nam trong giai đoạn 1990-2007 cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu,
nhập khẩu và dòng vốn FDI. Theo đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã góp phần gia
tăng đáng kể cho cả hoạt động xuất khẩu lẫn nhập khẩu.
Những nghiên cứu khác đã tập trung vào nghiên cứu tác động của FDI vào tăng
trưởng kinh tế bằng cách nghiên cứu chiến lược phát triển ở nước đó là chiến lược
FDI đến tăng trưởng kinh tế. Vai trò của FDI thể hiện khác nhau giữa các quốc gia, có
thể là tốt, xấu, hoặc không đáng kể. Tác động này tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, thể
chế và công nghệ trong nền kinh tế của nước chủ nhà. Ngay cả trong một quốc gia, kết
luận vẫn chưa rõ ràng đối với các khoảng thời gian khác nhau trong quá trình quan sát
và phạm vi nghiên cứu. Tuy nhiên, nhìn chung dòng vốn FDI luôn được xem là một
yếu tố quan trọng có tác dụng hỗ trợ nguồn lực về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý,
xuất khẩu… đặc biệt, tác động lan tỏa đã góp phần rất lớn trong tăng trưởng và phát
triển kinh tế các quốc gia đang phát triển.
1.4. Lý thuyết về yếu tố quyết định vị trí của FDI
1.4.1. Ở cấp độ quốc gia
Các lý thuyết về đầu tư nước ngoài được đề xuất chủ yếu thông qua việc quan sát
quá trình đầu tư nước ngoài của các công ty Hoa Kỳ, các công ty Nhật Bản và các
công ty đa quốc gia từ các nước phát triển khác kể từ cuối Thế chiến thứ II, và sự xuất
hiện của các công ty đa quốc gia ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây.
Về bản chất, các lý thuyết đưa ra nhằm cố gắng trả lời các câu hỏi sau đây: Thứ nhất,
tại sao doanh nghiệp lựa chọn chuyển hoạt động của mình đến một nước khác? Thứ
hai, tại sao họ chọn làm điều này thay vì xuất khẩu hoặc cấp giấy phép? Cuối cùng, tại
sao họ chọn một vị trí trong một khu vực cụ thể? Sự phát triển theo trình tự thời gian
của các lý thuyết được thảo luận trong các nội dung ở phần sau.
1.4.1.1. Lý thuyết thương mại quốc tế (International Trade Theory)
Mô hình lý thuyết đầu tiên giải thích hoạt động đầu tư nước ngoài dựa trên lý
thuyết thương mại quốc tế là mô hình Heckscher-Ohlin do Heckscher (1919) và Bertil
Ohlin (1933) xây dựng. Theo Lancaster (1957, p 19) "lần đầu tiên mô hình Heckscher-
Ohlin đã cung cấp một phân tích phù hợp các yếu tố thị trường vào lý thuyết thương
mại quốc tế". Đây là mô hình cân bằng tổng thể nhằm xác định lợi thế so sánh của một
18
19
quốc gia. Mô hình dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng gì trên cơ
sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia, đồng thời mô hình đưa ra kết luận sau:
Sản lượng
Xuất khẩu
Sản xuất
Nhập khẩu
Sản phẩm mới
Sản phẩm chín muồi
Sản phẩm đạt êu chuẩn
Quốc gia có ít lợi thế
Tiêu dùng
Sản lượng
Xuất khẩu
Sản xuất
Nhập khẩu
Sản phẩm mới Sản phẩm chín muồi
Sản phẩm đạt êu chuẩn
Quốc gia có nhiều lợi thế
20
lý giải sự thay đổi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp
của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm" sau
đó đến các nước "bắt chước muộn".
Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước
phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác. Nhưng khi sản phẩm mới đã
được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản phẩm bắt đầu được sản xuất ở
các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước
phát minh ra nó. Trên cơ sở nền tảng lý thuyết được đưa ra ta có thể mô phỏng lý
thuyết vòng đời sản phẩm theo mô hình sau:
Hình 1.1: Mô hình mô phỏng lý thuyết vòng đời của sản phẩm
(Nguồn: Tác giả tự mô phỏng)
1.4.1.4. Lý thuyết nội bộ hoá (Internalization Theory)
Lý thuyết nội bộ hoá do Buckley và Casson đưa ra năm 1976, lý thuyết này dựa
tại có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong tương lai. Bổ sung lợi thế về quyền sở
hữu và lợi thế nội bộ hóa, Dunning đưa thêm vào mô hình lợi thế về vị trí cụ thể (L).
Lợi thế vị trí cụ thể hàm ý rằng các công ty cần phải thu được lợi ích từ việc đầu tư tại
một vị trí ở nước ngoài, nếu không họ sẽ không cần phải thực hiện đầu tư ra nước
ngoài.
Tóm lại, mô hình OLI nhấn mạnh rằng một công ty nên đầu tư ra nước ngoài khi
có lợi thế sở hữu, cần phải nội bộ hóa trong công ty và thu được lợi ích từ vị trí ở nước
ngoài, cụ thể được thể hiện trong bảng 1.2.
21
22
Bảng 1.2: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế
Khuôn khổ Mô hình OLI
1. Lợi thế quyền sở hữu (O)
- Vốn
- Công nghệ
- Khả năng quản lý và tổ chức
- Khả năng ếp thị
- Hiệp đồng các nền kinh tế
2. Yếu tố quyết định Lợi thế vị trí (L)
- Ổn định chính trị
- Chính sách của chính phủ về ưu đãi và khuyến khích đầu tư
- Cơ sở hạ tầng
- Khuôn khổ thể chế (thương mại, pháp lý, quan liêu)
- Lao động giá rẻ và có tay nghề cao
- Quy mô thị trường và khả năng tăng trưởng
- Điều kiện kinh tế vĩ mô
- Tài nguyên thiên nhiên
3. Lợi thế nội bộ hóa (I)
- Để giảm chi phí giao dịch
Theo Rugman and Verbeke (2001), mô hình OLI của Dunning được xem là khuôn
khổ khái niệm hàng đầu trong phân tích các yếu tố quyết định vị trí FDI thông qua hai
đóng góp quan trọng. Một là, lợi thế cạnh tranh về vị trí của các nước là khác nhau.
Đóng góp thứ hai của mô hình OLI cho phép xác định ba động cơ khác nhau của FDI:
tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên, tìm kiếm thị trường, và tìm kiếm hiệu quả. (1) Tìm
kiếm tài nguyên: đầu tư nước ngoài xảy ra khi các công ty xác định vị trí quốc gia có
nguồn tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn, ví dụ như khoáng sản, các sản phẩm nông
nghiệp… (2) Tìm kiếm thị trường: các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm thị
trường tiêu thụ, nó có tác dụng thay thế nhập khẩu và hỗ trợ hoạt động thương mại
trong nước. (3) Tìm kiếm hiệu quả: đầu tư nước ngoài được thực hiện để thúc đẩy
chuyên môn hóa nguồn lực hiện có bao gồm lao động, tài sản ở trong nước và nước
ngoài của các công ty đa quốc gia hiệu quả hơn. Đây là loại hình đầu tư nhằm hợp lý
hóa hoạt động các công ty đa quốc gia và xu hướng chuyên môn hóa các chi nhánh
trong mạng lưới nội bộ của các công ty này (Dunning, 2000; Rugman and Verbeke,
2001).
Trên thực tế mô hình OLI của Dunning đã được sử dụng rộng rãi như là một
khuôn khổ lý thuyết toàn diện trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định yếu tố
quyết định vị trí FDI cũng như giải thích các hoạt động của các công ty bên ngoài ranh
giới quốc gia. Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên nhằm hỗ trợ khuôn khổ lý thuyết OLI
được thực hiện bởi Dunning and Queen (1981). Mẫu nghiên cứu bao gồm 81 công ty
23
24
đa quốc gia từ 22 quốc gia và 1.025 khách sạn nước ngoài. Kết quả nghiên cứu đã
cung cấp thông tin hữu ích trong giải thích lý do tham gia của các công ty nước ngoài
trong ngành công nghiệp, trong đó lợi thế sở hữu được xác định có ảnh hưởng lớn đến
các quyết định của họ. Năm 2001, cũng trên khuôn khổ mô hình lý thuyết OLI, Galán
and Benito cũng đạt được kết quả nghiên cứu tương tự về lợi thế sở hữu như Dunning
and Queen khi kiểm tra mẫu 103 công ty đa quốc gia Tây Ban Nha. Dựa trên cơ sở mô
hình lý thuyết OLI, Driffield (2002) đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn
III. Yếu tố kinh doanh thuận lợi
• Xúc ến đầu tư (bao gồm cả hoạt động xúc ến và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư);
• Ưu đãi đầu tư;
• Chi phí phức tạp (liên quan đến tham nhũng, hiệu quả hành chính, vv);
• Tiện nghi xã hội (trường học song ngữ, chất lượng cuộc sống, vv.);
• Dịch vụ sau khi đầu tư.
Các hình thức FDI dựa Yếu tố kinh tế
trên động cơ của nước sở tại
• Qui mô thị trường và thu nhập
bình quân đầu người;
A.Tìm kiếm • Tăng trưởng thị trường;
thị trường• Gia nhập vào thị trường khu vực
và toàn cầu;
• Ưu đãi người êu dùng;
• Cấu trúc của thị trường.
• Nguồn nguyên liệu;
B. Tìm kiếm• Chi phí lao động thấp;
tài nguyên/tài sản• Lao động lành nghề;
• Công nghệ;
• Cơ sở hạ tầng.
• Chi phí các nguồn lực và tài sản
C. Tìm kiếmđược liệt kê theo B, điều chỉnh
hiệu quảcho năng suất lao động;
• Chi phí đầu vào khác (chi phí vận
chuyển, truyền thông, sản phẩm
trung gian);
• Thỏa thuận hiệp ước hội nhập khu
vực thuận lợi cho việc thành lập
mạng lưới khu vực của MNEs.
.