Xã hội học số 1 (69 ) 2000 41 Mô hình sống chung với gia đình chồng sau khi
kết hôn ở đồng bằng Bắc Bộ và các nhân tố tác động Nguyễn Hữu Minh
Charles Hirschman I. Nơi ở sau khi kết hôn ở Việt Nam: truyền thống và thực trạng
Theo tập tục ở Việt Nam, sau khi kết hôn, những cặp vợ chồng mới thờng ở lại sống
cùng gia đình nhà chồng một thời gian. Đó là cơ sở hình thành nên các gia đình lớn, nhiều thế
hệ. Tuy nhiên, bên cạnh việc mở rộng gia đình bằng cách nhận thêm thành viên mới, cũng
diễn ra quá trình phân giải gia đình lớn ra thành các đơn vị gia đình nhỏ hơn. Sống với gia
đình bố mẹ sau khi kết hôn chỉ là một khoảng thời gian tạm thời đối với các cặp vợ chồng trẻ.
Sự phân giải gia đình xuất hiện ở những thời điểm khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
của mỗi gia đình. Qúa trình này phản ánh phong tục luân chuyển nơi ở sau khi kết hôn của
gia đình Việt Nam trong đó mỗi ngời con trai mới lấy vợ sẽ rời gia đình cha mẹ sau một thời
gian chung sống, chỉ để lại ngời con cả hoặc con út ở lại chăm sóc bố mẹ khi về già (Đỗ Thái
Đồng 1991).
Những điều vừa mô tả giúp chúng ta hình dung, dù là sơ lợc và cần đợc kiểm chứng
bằng thực nghiệm, về cấu trúc gia đình truyền thống. Tuy nhiên những nghiên cứu thực
nghiệm gần đây gợi ý rằng tổ chức gia đình Việt Nam trong thực tế có thể khác biệt so với bức
tranh truyền thống đợc nhiều ngời thừa nhận. Hickey (1964) gợi ý rằng việc sắp xếp nơi ở
của ngời Việt Nam không phải luôn luôn tuân thủ qui tắc sống chung với gia đình nhà
chồng sau khi kết hôn, mà nó phụ thuộc vào khả năng về nhà ở và đất đai. Một số nghiên cứu
khác cho thấy, kiểu gia đình chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn là gia đình hạt nhân, tức là gia
đình chỉ bao gồm bố mẹ và con cái. Ngoài ra, phần lớn trong số những ngời ở với cha mẹ sau
khi kết hôn là sống chung với gia đình chồng (Lê Ngọc Văn 1991; Phí Văn Ba 1991).
vẫn là phổ biến nhất. Kết quả này đúng cho cả mẫu nghiên cứu ở miền Nam và miền Bắc, cả
vùng đô thị và nông thôn.
Mặc dù những phát hiện này cần đợc kiểm chứng ở một phạm vi rộng hơn bởi tính
chất không đại diện của mẫu, kết quả của cuộc điều tra gợi ra rằng sẽ là không hợp lý nếu
ngời ta coi cấu trúc gia đình Việt Nam là sự sao chép hệ thống gia đình Khổng giáo Đông á.
Trái lại cấu trúc gia đình Việt Nam phản ánh ảnh hởng từ cả hai nền văn hóa Đông á và
Đông Nam á. Đáng tiếc là do hạn chế của số liệu các tác giả đã không thể phân tích sâu hơn
mô hình nơi ở sau khi kết hôn. Chúng ta có thể thấy rằng việc đo cấu trúc gia đình vào thời
điểm ngời phỏng vấn còn nhỏ, mặc dù khắc phục đợc một số nhợc điểm của cách đo vào
thời điểm phỏng vấn, vẫn không phản ánh chính xác mức độ phổ biến của mô hình sống
chung với gia đình bố mẹ. Vào lúc ngời phỏng vấn 10 tuổi thì cha mẹ ngời đó đã xây dựng
gia đình ít nhất là 10 năm. Quãng thời gian đó đủ để cho cha mẹ ngời đợc phỏng vấn kịp
tạo dựng một căn hộ riêng và rời khỏi gia đình ông bà. Cũng trong thời gian đó nhiều sự kiện
có thể xảy ra trong gia đình, chẳng hạn ông bà có thể mất, một số anh em của bố mẹ có thể đã
rời đi lập gia đình riêng, v.v. Chính vì vậy tỉ lệ những ngời có sống chung với ông bà và họ
hàng vào lúc còn nhỏ không phản ánh hoàn toàn quá trình mở rộng và phân giải của gia đình
Việt Nam.
Dựa vào kết quả nghiên cứu tại Hải Dơng và Hng Yên năm 1993, Goodkind (1997)
nhận xét rằng sống chung với nhà chồng là mô hình sắp xếp nơi ở sau khi kết hôn phổ biến
nhất ở đồng bằng sông Hồng trong suốt 45 năm qua. Tỉ lệ sống chung với nhà chồng giảm
phần nào trong những năm 1960-1974 và 1990-1993 so với thời kỳ 1975-1984. Kết hôn muộn,
hôn nhân tự nguyện, và sống tại vùng đô thị là các nguyên nhân chính làm giảm khả năng
sống chung với gia đình chồng sau khi kết hôn. Theo tác giả, Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 và sự biến đổi kinh tế-xã hội mạnh mẽ sau thời gian đó là yếu tố quan trọng làm giảm tỉ
lệ những ngời sống chung với gia đình chồng trong thời kỳ 1960-1974, còn mức sống tăng lên
trong thời kỳ Đổi Mới là nguyên nhân chính làm giảm tỉ lệ sống chung với gia đình chồng
trong những năm 1990-1993.
Điều dễ đợc mọi ngời thừa nhận là việc tổ chức nơi ở của các gia đình Việt Nam đã
có nhiều thay đổi do tác động của những biến động kinh tế-xã hội và chính trị trong suốt nửa
thế kỷ qua ở Việt Nam. Tuy nhiên sự thay đổi đó diễn ra theo xu hớng nào và những yếu tố
thức giúp đỡ cuộc sống của những ngời già, cho phép các cặp vợ chồng trẻ bớt băn khoăn khi
không thể trực tiếp chăm sóc bố mẹ. Những cơ hội mới tăng thêm thu nhập giúp các gia đình
trẻ sớm xây dựng căn hộ độc lập. Quyền quyết định tăng lên của các cá nhân trong việc sắp
xếp hôn nhân và nơi ăn chốn ở nhờ tác động của công nghiệp hóa cũng là một nguyên nhân
làm giảm khả năng sống với bố mẹ sau khi kết hôn (Kim và đồng nghiệp 1994) cũng nh rút
ngắn thời gian chung sống với bố mẹ sau khi kết hôn (Lavely và Ren 1992).
Công nghiệp hóa làm tăng mức độ cơ động không gian, vì thế các cặp vợ chồng trẻ
càng có ít khả năng sống cùng địa phơng với cha mẹ họ. Theo Freedman và đồng nghiệp
(1994), di c là một nhân tố quan trọng quyết định việc sống chung với cha mẹ sau khi kết
hôn ở Đài Loan. Nghiên cứu của Unger (1993) cũng chỉ ra sự tác động của di c đối với việc
sống chung với cha mẹ, trớc hết làm giảm rồi sau đó làm tăng tỉ lệ những ngời sống chung
với cha mẹ ở các thành phố của Trung Quốc. Trong thập kỷ đầu tiên của nớc Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa những thanh niên di c từ nông thôn ra các thành phố lớn đã không có một
sự lựa chọn nào khác ngoài việc tự mình tạo dựng một nơi ở độc lập khi kết hôn. Tuy nhiên,
đến những năm 1960 và 1970, khi thế hệ di c đầu tiên đã ổn định cuộc sống, lớp con cái họ,
nếu có ý định, hoàn toàn có thể sống chung với cha mẹ.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Mô hình sống chung với gia đình chồng sau khi kết hôn ở đồng bằng Bắc Bộ và
4
4
Tác động của các yếu tố hiện đại hóa đến việc sắp xếp nơi ở sau khi kết hôn đợc thể
hiện rõ ở nhiều nớc châu á. Nghiên cứu ở Nhật Bản chỉ ra rằng những ngời sống ở các
vùng đô thị và những ngời làm các nghề nghiệp hiện đại có ít khả năng sống chung với bố
mẹ sau khi kết hôn hơn những ngời khác (Martin và Tsuya 1994). ở Thái Lan, đa số dân c
đô thị sống trong căn hộ riêng sau khi kết hôn, trong khi đó chỉ một bộ phận nhỏ các cặp vợ
chồng ở nông thôn làm nh vậy.
Tuy nhiên ảnh hởng của các yếu tố hiện đại hóa đến mô hình nơi ở gia đình không
phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau. Nghiên cứu của Chamratrithirong và đồng nghiệp đối
với trờng hợp Thái Lan cho thấy tác động của yếu tố học vấn tơng đối yếu ớt (1986: trang
32). Các yếu tố học vấn và nghề nghiệp của ngời vợ, cùng với yếu tố nơi ở của ngời chồng
trai cả sẽ chăm sóc bố mẹ khi về già và đợc thừa kế các tài sản từ cha mẹ (Martin và Tsuya
1994; Kim và đồng nghiệp 1994). Những phong tục này đợc truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác và trở thành chuẩn hành vi cho mọi ngời. Do vậy, nếu một ngời đã từng sống với
ông bà và họ hàng khi còn nhỏ thì ngời đó dễ chấp nhận mô hình sống chung hơn so với
những ngời cha từng sống chung.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.ac.vn
Nguyễn Hữu Minh & Charler Hirschman
4
5
Do sự chi phối của những phong tục trong xã hội, các yếu tố về tuổi tác, sức khỏe của
cha mẹ cũng nh việc cha mẹ còn song toàn hay không vào thời điểm kết hôn trở nên rất
quan trọng đối với quyết định của các cặp vợ chồng về cách sắp xếp cuộc sống. Cha mẹ đã già
hoặc chỉ một ngời còn sống thờng có nhu cầu giúp đỡ cao hơn, do đó ngời con có nhiều khả
năng sống chung và sống chung lâu dài với cha mẹ hơn so với những ngời ở các gia đình
khác. Đặc biệt, đối với những ngời chỉ còn cha hoặc mẹ vào thời điểm kết hôn và không còn
anh chị em sống cùng, việc rời khỏi gia đình sau khi kết hôn thờng rất dễ bị quy thành hành
vi bất hiếu với cha mẹ.
Tiếp tục sống với cha mẹ sau khi kết hôn và việc tách khỏi gia đình gốc để tạo dựng
căn hộ độc lập là hai khía cạnh khác nhau của cách thức tổ chức cuộc sống mặc dù chúng có
liên hệ chặt chẽ với nhau. Những yếu tố quyết định việc ở lại với gia đình gốc sau khi kết hôn
không nhất thiết là có ảnh hởng đáng kể đến độ dài thời gian sống chung. Chẳng hạn, với
phong tục luân chuyển nơi ở sau khi kết hôn tại một số nớc châu á, vị thế con trai cả hay
con trai út có thể không quan trọng đối với việc ở lại một thời gian với cha mẹ sau khi kết
hôn, nhngvị thế đó lại có thể đóng vai trò quyết định đối với khoảng thời gian ngời đó tiếp
tục sống với cha mẹ. Kết quả nghiên cứu của Freedman và đồng nghiệp (1994) cho thấy vị thế
di c vào thời điểm kết hôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định việc sống chung với cha mẹ
chồng vì nó liên quan đến khả năng sống cùng một địa phơng của những ngời con và cha
mẹ họ. Tuy nhiên yếu tố di c không hề tác động đáng kể đến độ dài thời gian sống chung với
cha mẹ chồng.
III. giả thuyết, nguồn số liệu, và phơng pháp phân tích
trởng thành (từ nay viết tắt là khu vực cha mẹ làm việc); loại hình gia đình gốc khi cá nhân
trởng thành, sống theo đằng bố hay theo đằng mẹ (từ nay viết tắt là loại hình gia đình gốc);
tôn giáo của gia đình gốc; học vấn của vợ/chồng khi kết hôn (viết tắt là học vấn của vợ/chồng);
nghề nghiệp của vợ/chồng khi kết hôn (viết tắt là nghề nghiệp của vợ/chồng); nghề nghiệp của
vợ và chồng; kiểu kết hôn; tuổi kết hôn; cha mẹ chồng còn sống hay mất; tuổi tối thiểu của
cha mẹ chồng; số anh chị em của chồng; con trai cả trong gia đình; con trai út trong gia đình;
ngời chồng đã từng di c. Các biến số độc lập đều là biến số loại [categorical variable]. Phân
loại của các biến số độc lập đợc thể hiện cụ thể trong các Bảng 1, 2.
Để bảo đảm trật tự nhân quả của các biến độc lập và biến phụ thuộc, tất cả các biến
độc lập đều đo đặc trng của cá nhân (hoặc vợ/chồng) vào thời điểm kết hôn, ngoại trừ biến số
ngời chồng đã từng di c tính vào thời điểm phỏng vấn. Nh đã trình bày, một trong
những yếu tố quan trọng nhất quyết định việc sống chung là nơi ở của cá nhân vào lúc kết
hôn có gần nơi ở của cha mẹ hay không. Những ngời con làm việc xa cha mẹ và kết hôn tại
nơi làm việc sẽ khó có thể sống cùng cha mẹ sau khi kết hôn. Đáng tiếc là chúng tôi không có
thông tin về nơi ở của cá nhân tại thời điểm kết hôn mà chỉ có thông tin về nơi sinh và nơi ở
hiện tại. Chúng tôi sử dụng biến số ngời chồng đã từng di c nh một phép đo xấp xỉ khả
năng di c của cá nhân vào thời điểm kết hôn. Trong khi biến số này có thể đo một cách gần
đúng khả năng di c của những ngời mới kết hôn, nó có thể sai lệch nhất định với khả năng
di c của những ngời kết hôn đã lâu. Tuy nhiên, theo chúng tôi việc sử dụng biến số trên sẽ
không làm thay đổi đáng kể kết quả nghiên cứu so với biến số ngời chồng đã từng di c đo
vào thời điểm kết hôn.
Biến số lớp thế hệ kết hôn đợc sử dụng nh một chỉ báo về sự biến đổi lịch sử của
khuôn mẫu sắp xếp nơi ở sau khi kết hôn. Để tránh những sai lệch trong kết quả nghiên cứu
chúng tôi không đa vào mẫu phân tích những ngời kết hôn trớc năm 1956
1
.
Các phân tích nhị biến đợc thực hiện bằng việc so sánh tỉ lệ sống chung với gia đình
chồng sau khi kết hôn cũng nh tỉ lệ sống chung với gia đình chồng lâu hơn 3 năm, theo các
lớp thế hệ kết hôn và theo các chỉ báo kinh tế-xã hội, văn hóa và nhân khẩu. Tiếp đó chúng
tôi kiểm tra khả năng tác động đồng thời của hai hay nhiều biến số độc lập lên khả năng sống
lớp thế hệ kết hôn và các chỉ báo kinh tế-xã hội đợc trình bày trên Bảng 1.
Điều hết sức ấn tợng là tỉ lệ sống chung với gia đình chồng sau khi kết hôn là rất
cao: khoảng 80 phần trăm đối với cả nam giới và phụ nữ. Tỉ lệ này gần nh không thay đổi
cho cả hai giới trong suốt vài thập kỷ.
Mối quan hệ giả thuyết giữa các yếu tố hiện đại hóa và mô hình sống chung với nhà
chồng sau khi kết hôn thể hiện rõ ràng qua Bảng 1. Tỉ lệ sống chung với nhà chồng là thấp
nhất ở các nhóm có học vấn lớp 10 trở lên, những ngời làm nghề phi nông nghiệp, những
ngời kết hôn ở tuổi 25 trở lên, và những ngời có chồng từng sống xa quê hơng. Mối quan
hệ này đợc giữ khá ổn định qua thời gian. Đáng chú ý là việc sống chung với nhà chồng
dờng nh không phải là kết quả thuần tuý sự tác động của nghề nghiệp của mỗi cá nhân mà
là do sự kết hợp nghề nghiệp của cả hai vợ chồng. Điều này gợi ý rằng mức độ gần gũi với nhà
của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong việc dự đoán khả năng sống chung với gia đình
chồng bởi lẽ trong trờng hợp cả hai vợ chồng làm nghề phi nông nghiệp họ thờng sống cách
xa nhà cha mẹ hơn so với trờng hợp cả hai vợ chồng làm nghề nông (đặc biệt đối với những
ngời sinh ra ở vùng nông thôn).
Tác động của các yếu tố văn hóa và nhân khẩu nh loại hình gia đình gốc, con trai
cả, số lợng anh chị em, không đợc thể hiện rõ qua phân tích hai biến. Trong số các yếu tố
còn lại, kiểu kết hôn và tôn giáo gia đình gốc có quan hệ khá lỏng lẻo với khả năng sống
chung. Các kết quả này cho thấy việc sống chung với nhà chồng có thể phụ thuộc nhiều hơn
vào tính khả thi
so với khả năng có thể và sự mong muốn sống chung.
Trong mô hình phân tích đa biến các biến số nghề nghiệp của vợ và chồng và tuổi
kết hôn đã đợc nhóm loại lại. Biến số ngời chồng đã từng di c không đợc đa vào mô
hình phân tích vì có mối liên hệ chặt với biến số nghề nghiệp của vợ và chồng. Các biến số
đợc đa vào mô hình phân tích đa biến là: Lớp thế hệ kết hôn; Khu vực cha mẹ làm việc; Loại
hình gia đình gốc; Tôn giáo gia đình gốc; Học vấn của ngời đợc hỏi; Học vấn của vợ/chồng;
Nghề nghiệp của hai vợ chồng; Kiểu kết hôn; Tuổi kết hôn; Tuổi cha mẹ chồng; Số anh chị em
bên chồng; và Thứ tự sinh của chồng (con cả hay không phải con cả). Kết quả phân tích đa
biến về ảnh hởng của các yếu tố kinh tế-xã hội đến khả năng sống chung với gia đình chồng
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
sống chung với gia đình nhà chồng. Mối quan hệ phức tạp trong gia đình đông anh chị em có
thể khiến cho cặp vợ chồng mới mong muốn rời nhà cha mẹ sau vài năm sống tạm thời. Đông
anh chị em chia sẻ trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già cũng làm cho những ngời rời đi đỡ áy
náy hơn.
Tỉ lệ nam và nữ trả lời có sống chung với nhà chồng hơn 3 năm phân theo các lớp thế
hệ kết hôn và các chỉ báo kinh tế-xã hội, văn hóa khác đợc trình bày trên Bảng 2. Tính
chung, trong số những ngời có sống chung với cha mẹ chồng sau khi kết hôn có khoảng 50
phần trăm tiếp tục sống cho đến hơn 3 năm. Kết quả này trùng hợp với phong tục luân
chuyển nơi ở sau khi kết hôn ở vùng đồng bằng sông Hồng. Rốt cuộc chỉ có một số ít ngời
con trai sau khi xây dựng gia đình tiếp tục sống lâu dài với cha mẹ.
Có sự giảm dần tỉ lệ sống chung với gia đình chồng lâu hơn 3 năm qua các lớp thế
hệ kết hôn, đặc biệt là sau năm 1975. Xu hớng này thể hiện rõ ở tất cả các nhóm xã hội.
Nhìn chung không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm có đặc trng kinh tế-xã hội và nhân
khẩu khác nhau về tỉ lệ sống chung với gia đình chồng lâu hơn 3 năm, ngoại trừ đối với chỉ
báo tuổi kết hôn và số lợng anh chị em của chồng. 2
Để tránh khó khăn đối với một số độc giả cha đợc làm quen với các kỹ thuật phân tích đa biến chúng tôi không trình
bày kết quả cụ thể các mô hình phân tích đa biến thuộc phần IV và V trong bài này. Độc giả nào quan tâm đến vấn đề
này xin liên hệ trực tiếp với tác giả Nguyễn Hữu Minh, Viện Xã hội học, Hà Nội.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.ac.vn
Nguyễn Hữu Minh & Charler Hirschman
4
9
Bảng 1: Tỉ lệ những ngời sống chung với gia đình chồng sau khi kết hôn theo lớp thế hệ kết hôn
và theo các biến số chọn lọc khác (Điều tra lịch đại Việt Nam 1995)
a
Nam
Không sống với bên bố
Từng sống với bên bố
Tôn giáo gia đình gốc
Thiên chúa giáo
Không phải TCG
Học vấn
Lớp 0-5
Lớp 6-9
Lớp 10 và cao hơn
Nghề nghiệp
Nông nghiệp
Không phải NN
Nghề nghiệp hai vợ chồng
Cả hai làm nông nghiệp
Vợ/chồng làm NN
Cả hai làm phi NN
Kiểu kết hôn
Hôn nhân sắp xếp
Hôn nhân tự nguyện
Tuổi kết hôn
<= 20
21-22
23-24
>=25
Di c của chồng
Cha từng di c
Đã từng di c
83
94*
46*
83
71
90
82
53*
82*
86
56*
76
81
78
81
83*
75
91
79
82
57
80
80
78
84
74
79
81
70
79
79
86
77
80
85
63
89
71
89
92
54
86
82
90
74
93
70
93
82
64
90
84
90
93
92
75
91
47
84
85
85
87
83
88
90 (1230)
45 (295)
81 (883)
81 (617)
80 (474)
82 (536)
81 (515)
83 (745)
79 (757)
79
81
50*
78
83
86
77
81
73
0*
85
93
51
91
93
51
88
75
87
74
70
56 79
82
51
81
77
89
77
90
83
58
87
73
91
59
93
81
56
89
82
89
87
81
58
80 (1489)
83 (1117)
73 (363)
81 (860)
80 (626)
90 (251)
78 (1238)
86 (254)
Nam
Năm kết hôn
Nữ
Năm kết hôn
Các biến số độc lập
1956
-60
1961
-75
1976
-85
1986
-95
Tổng
%(N)
1956
-60
1961
-75
1976
-85
1986
-95
Tổng
%(N)
Tổng
Khu vực cha mẹ làm việc
Không phải nhà nớc
Nhà nớc
23-24
>=25
Cha mẹ chồng còn sống
Cả hai cha mẹ còn sống
Cha hoặc mẹ đã mất
Tuổi cha mẹ chồng
54 hoặc ít hơn
55 hoặc nhiều hơn
Chồng là con trai cả
Chồng không là con cả
Chồng là con cả
Chồng là con trai út
Chồng không là con út
Chồng là con út
Số anh chị em chồng
0-3
4-5
6 hoặc nhiều hơn
68
64
100*
68
68
77
69
67*
70
58*
80*
60
59
81*
57
64
49
64
40
64
70
57
62
57
60
64
38
48
31
48
44
46
46
47
47
43
51
45
58
53
41
39
43
57
39
55
46
46
43
70
50
34
43
41
54
37
47
42
49
42
48
51
44
39
50 (1.092)
50 (916)
51 (175)
53 (537)
48 (552)
54 (448)
48 (917)
61 (165)
62 (327)
50 (397)
39 (368)
68
66
100*
78
57
50*
75
64
100* 69
67*
66
71*
80*
65
70
59
66
58
62
64
60
61
60
73
56
39*
62
57 47
47
46
49
43
40
38
43
23*
45
36
42
43
41
53
36
44
41
43
43
38
37
39
54
50 (1.047)
51 (815)
48 (227)
hoặc mẹ còn sống tại thời điểm rời nhà cha mẹ.
* Số lợng các trờng hợp thuộc nhóm này nhỏ hơn 20
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.ac.vn
Nguyễn Hữu Minh & Charler Hirschman
5
1
Tuy nhiên, những mối quan hệ bộc lộ qua mô hình phân tích hai biến chỉ có tính chất
gợi ý. Tác động của một vài yếu tố đến độ dài thời gian sống chung với cha mẹ chồng có thể bị
ảnh hởng của những yếu tố khác. Tỉ lệ sống chung với cha mẹ chồng lâu hơn 3 năm cao hơn
ở những ngời có học vấn cao so với những ngời có học vấn thấp có thể là do những ngời
học vấn cao có ít anh chị em hơn. Vì vậy chúng tôi sử dụng mô hình phân tích đa biến để
kiểm tra tác động độc lập của từng yếu tố đến độ dài thời gian sống chung với cha mẹ chồng
trên cơ sở tính đến các yếu tố khác. Các biến số đa vào mô hình phân tích đa biến là: Lớp thế
hệ kết hôn; Khu vực cha mẹ làm việc; Loại hình gia đình gốc; Tôn giáo gia đình gốc; Học vấn
của ngời đợc hỏi; Học vấn của vợ, chồng; Nghề nghiệp của hai vợ chồng; Kiểu kết hôn; Tuổi
kết hôn; Cha mẹ chồng có còn sống lúc ngời đợc hỏi kết hôn; Tuổi cha mẹ chồng; Số anh chị
em bên chồng; và Thứ tự sinh của chồng (con cả hay không phải con cả).
Nhìn chung, trái với sự ổn định của tỉ lệ sống chung với cha mẹ chồng sau khi kết
hôn, có xu hớng giảm đáng kể tỉ lệ nam và nữ sống chung với nhà chồng với thời gian lâu
hơn 3 năm trong vòng 40 năm qua. Mức độ giảm có chậm lại trong những năm 1961-1975 có
lẽ bởi vì khi nam giới đợc huy động vào cuộc chiến tranh và các nhiệm vụ xã hội khác của
đất nớc, phụ nữ thờng đợc động viên đảm nhiệm chăm sóc gia đình chồng. Xu hớng đông
anh chị em hơn của ngời chồng vào thời điểm kết hôn trong những năm gần đây do kết quả
của giảm tỉ lệ tử vong, cũng nh xu hớng kết hôn muộn là những yếu tố cơ bản lý giải cho sự
biến đổi lịch sử rút ngắn thời gian sống chung với nhà chồng.
Học vấn của ngời chồng, tuổi kết hôn, tuổi cha mẹ chồng, ngời chồng là con trai cả,
và số lợng anh chị em của ngời chồng, là những yếu tố quan trọng nhất quyết định độ dài
thời gian sống chung với nhà chồng. Các yếu tố này tác động theo những hớng khác nhau.
Phù hợp với các giả thuyết đã nêu, những ngời kết hôn sớm, tuổi cha mẹ chồng nhiều hơn
54, ngời chồng là con trai cả
chiến tranh. Kết quả này trùng hợp với những phát hiện khác trong các nớc láng giềng rằng,
song song với sự duy trì khuôn mẫu sống chung với nhà chồng, độ dài của thời gian sống
chung ngày càng rút ngắn hơn (Lavely và Ren 1992; Weinstein và đồng nghiệp 1994;
Freedman và đồng nghiệp 1994). Những yếu tố chủ yếu quyết định việc rút ngắn độ dài thời
gian sống chung là: kết hôn muộn của nam và nữ; ngời chồng có nhiều anh chị em; tuổi của
cha mẹ chồng; và ngời chồng là con trai cả.
Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận những khía cạnh khác biệt giữa hai quá trình mở
rộng và phân giải gia đình. Việc sống chung trong những năm đầu có thể do nhu cầu hỗ trợ từ
phía những cặp vợ chồng mới kết hôn, trong khi đó chung sống lâu dài với cha mẹ phản ánh
nhiều hơn nhu cầu giúp đỡ của các bậc cha mẹ khi đến tuổi già. Vì thế tác động của các yếu tố
kinh tế-xã hội, nhân khẩu, và văn hóa đến hai khía cạnh này là rất khác nhau. Sự mở rộng
các loại hình nghề nghiệp phi nông nghiệp không tác động đáng kể đến việc rút ngắn độ dài
của thời gian sống chung mặc dù đó là nhân tố quan trọng nhất giảm khả năng chung sống
với cha mẹ chồng sau khi kết hôn. Sự kỳ vọng của xã hội đối với ngời con trai cả sẽ sống
chung lâu dài với cha mẹ thể hiện rất rõ ràng, trong khi đó không có sự khác biệt giữa con cả
và những ngời con trai khác về khả năng sống chung.
Cấu trúc gia đình Việt Nam không phản ánh mô hình sống theo đằng bố nếu nó đợc
đo vào thời điểm hiện tại hoặc vào thời điểm ngời đợc phỏng vấn còn nhỏ. Tuy nhiên, nếu
chúng ta sử dụng phép đo sống chung với gia đình chồng sau khi kết hôn thì cấu trúc gia
đình Việt Nam không khác với khuôn mẫu chung đo đợc ở các xã hội Đông á. Kết quả khác
nhau giữa hai phép đo này có thể đợc giải thích bằng phong tục luân chuyển nơi ở sau khi
kết hôn. Theo phong tục này những ngời con trai trẻ hơn sẽ lần lợt rời nhà cha mẹ để tạo
dựng hộ gia đình riêng, chỉ để lại một ngời con trai (thờng là con trai cả) sống lâu dài cùng
cha mẹ và chăm sóc cha mẹ già. Phong tục này hầu nh không thay đổi ở đồng bằng sông
Hồng trong suốt bốn thập kỷ qua bất kể những biến động dữ dội về kinh tế-xã hội. Xét về mặt
tổ chức nơi ở, có thể coi gia đình Việt Nam thuộc loại hình mà chúng tôi tạm gọi là 3 thế hệ
không đầy đủ theo đằng bố trong đó chỉ có một ngời con trai cùng với gia đình riêng của anh
ta ở lại cùng với cha mẹ [stem family].
Kết quả nghiên cứu bớc đầu
4
nguồn đời sống tình cảm và nguồn hỗ trợ kinh tế cho cả các bậc cha mẹ và những ngời con
mới xây dựng gia đình. Các thành quả kinh tế của chính sách nhà nớc và quá trình công
nghiệp hóa sẽ giúp những cặp vợ chồng mới cới có nhiều khả năng độc lập hơn trong các
quyết định về hôn nhân và sắp xếp nơi ở của mình. Những thành quả đó cũng tạo điều kiện
để ngời già có thể sống thoải mái hơn cho dù không đợc sự trợ giúp từ con cái. Tuy nhiên
quá trình xác lập một mô hình mới về sắp xếp nơi ở đòi hỏi bao nhiêu thời gian nữa vẫn còn là
một câu hỏi để mở.
Tài liệu trích dẫn
1. Chamratrithirong, Aphichat; S. Philip Morgan; and Ronald R. Rindfuss 1986. When to marry and
Where to Live? A Sociological Study of Post-nuptial Residence and Age of Marriage Among Central
Thai Women. IPSR publication number 102, September.
2. Dixon, Ruth 1971. Explaining Cross-cultural Variation in Age at Marriage and Proportions never
Marrying. Population Studies, Vol. 25, No. 2. Pp. 215-234.
3. Đỗ Thái Đồng 1991. Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam. Trong Tơng
Lai và Rita Liljestrom (đồng chủ biên): Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam. Nhà
xuất bản Khoa học xã hội. Hà Nội. Trang 71-84.
4. Freedman, Ronald; Arland Thornton; and Li-Shou Yang 1994. Determinants of Co-residence in
Extended Households. Trong Thornton, Arland and Hui-Sheng Lin (eds): Social Change and The
Family in Taiwan. The University of Chicago Press. Pp. 335-358.
5. Goode, William J. 1982. The Family. Second edition. Prentice-hall Foundations of Modern Sociology
Series.
6. Goodkind, Daniel 1997. Post-marital Residence Patterns Amidst Socialist Transformation in a
Northern Province of Vietnam, 1948-1993. Paper presented at the Annual Meeting of the
Association for Asian Studies, Chicago. 1997.
7. Hickey, Gerald Cannon 1964. Village in Vietnam. Yale University Press.
8. Hirschman, Charles and Vu Manh Loi 1996. Family and Household Structure in Vietnam: Some
Glimpses from a Recent Survey. Pacific Affairs, Vol. 69, No. 2, Summer. Pp. 229-249.
9. Kim, Nam-Il; Soon Choi; and Insook Han Park 1994. Rural Family and Community Life in South