Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH yên hòa vĩnh phúc - Pdf 24

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 3
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1
HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 6
1.1.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 7
1.1.1.Khái quát về NHCSXH 7
1.1.2.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 9
1.2.Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 22
1.2.1.Khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 23
1.2.2.Chỉ tiêu đánh giá 24
1.3.Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
28
1.3.1.Nhân tố chủ quan 28
1.3.2.Nhân tố khách quan 29
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH PHÙ CỪ- VĨNH
PHÚC 34
2.1. Khái quát về Phòng Giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc 35
2.2. Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch
NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc 37
2.2.1. Thực trạng tín dụng đối với hộ nghèo 37
2.2.2. Phân tích hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 42
2.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng Giao
dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc 54
2.3.1. Kết quả 54
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 64

KHKT Khoa học kỹ thuật
NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN Ngân hàng nhà nước
NS&VSMT Nước sạch & vệ sinh môi trường
TB&XH Thương binh & Xã hội
TH Thực hiện
TK&VV Tiết kiệm & vay vốn
TSH Tổng số hộ
TT Trồng trọt
UBND Ủy ban nhân dân
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
XKLĐ Xuất khẩu lao động
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu:
Bảng 2.1: Số liệu về hộ nghèo và cận nghèo năm 2010 và năm 2011 38
Bảng 2.2: Nguồn vốn của Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa 41
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay theo các chương trình qua các năm 43
Bảng 2.4 : Mục đích sử dụng vốn vay của hộ nghèo 46
Bảng 2.5: Tỷ lệ các hộ sử dụng vốn cho các mục đích phân theo trình độ
giáo dục 47
Bảng 2.6: Phân chia các hộ theo đối tượng trước khi vay vốn
và sau khi vay vốn (vay từ năm 2010 trở về trước) 48
Bảng 2.7: Phân chia các hộ tại các xã theo đối tượng trước và sau khi vay vốn (các
hộ vay từ 2010 trở về trước) 49
Bảng 2.8: Các hộ phân theo đối tượng trước và sau vay vốn (vay 2011) 50
Bảng 2.10: Phân chia các hộ theo đối tượng trước và sau vay vốn
(vay năm 2011, 2012) 51
Bảng 2.12: Các hộ phân theo đối tượng trước và sau vay vốn (vay 2012) 52
Bảng 2.13: Phân chia các hộ theo đối tượng trước khi vay vốn 52
Bảng 2.15: Thu nhập bình quân của các hộ trước và sau khi vay vốn 55

cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa
cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa.
Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn. Trong khi nền văn minh thế
giới đã đạt được những thành tựu to lớn về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng
đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì
thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói. Hàng tỷ người,
thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát. Thiệt thòi lớn nhất là
trẻ em, hằng ngày có gần 100 triệu trẻ em thiếu ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ
sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc
biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng
trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường.
Sau hơn 25 năm đổi mới Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song Việt
Nam vẫn là
một

nước
được xếp vào diện nghèo trên thế giới, thu nhập bình
quân đầu người thấp, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế còn cao, phát triển kinh tế
xã hội giữa các vùng, các khu vực ngày càng có sự chênh lệnh.
Thực tế những năm qua cho thấy công tác XĐGN đã được thực hiện
bằng nhiều hình thức, đặc biệt là công tác XĐGN ở khu vực miền núi,
nông thôn, hải đảo. Bằng chứng là đã có rất nhiều Chương trình, dự án lớn được
triển khai nhằm giảm nhanh tỷ lệ nghèo như: Chương trình 135 về đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất; Chương trình 134 hỗ trợ xoá nhà tạm, khai hoang
ruộng; Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; chương trình trợ giá giống, trợ cước
1
vận chuyển phân bón, hỗ trợ tiêu thụ nông sản; chương trình 120 đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng riêng cho các xã biên giới… Các chương trình trên bước đầu đã mang lại
hiệu quả góp phần vào cải thiện cuộc sống giúp XĐGN. Tuy nhiên, các nguồn vốn
trên đã bộc lộ nhiều hạn chế: các nguồn vốn là

phối và theo dõi phương thức sử dụng vốn của các hộ gia đình. Hoạt động của
Phòng giao dịch NHCSXH có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của
các hộ gia đình, giúp các hộ gia đình thuộc nhóm nghèo, gia đình khó khăn có thể
tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng năng suất,
tăng thu nhập, giúp các hộ gia đình thoát nghèo và nâng cao phúc lợi xã hội.
Sau 15 năm đổi mới và phát triển, Huyện Yên Hòa đã đạt được một số thành
tựu tiêu biểu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng phù hợp, tỷ lệ nghèo giảm từ 15,82% năm 2010 xuống còn 12% năm 2011.
Như vậy, có thể thấy tỷ lệ nghèo vẫn ở mức khá cao, các cấp chính quyền, ban
ngành, đoàn thể cần có những chính sách, biện pháp phối hợp hiệu quả để giảm tỷ
lệ nghèo. Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công cuộc phát triển
kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa-
Vĩnh Phúc- một trong những phòng giao dịch của chi nhánh NHCSXH Vĩnh Phúc
cũng đã và đang thực hiện những mục tiêu, chính sách mà UBND, HĐNH huyện
Yên Hòa, Chi nhánh NHCSXH Vĩnh Phúc đề ra với sự cố gắng cao nhất. Đề tài:
“Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH
Yên Hòa- Vĩnh Phúc” sẽ giúp giải đáp các câu hỏi như: Tác động của tín dụng ưu
đãi của NHCSXH đối với hộ nghèo tới XĐGN như thế nào? Các yếu tố nào ảnh
hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo? Những mô hình tín dụng ưu đãi đối
với hộ nghèo trên thế giới, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam là gì? Thực trạng
hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa như thế
nào? Giải pháp để nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là gì?
Nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:
Mở đầu
Chương 1: Tín dụng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao
dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc
3
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc

quả tín dụng đối với hộ nghèo được rất nhiều sinh viên đại học, học viên và
các nghiên cứu sinh lựa chọn. Đề tài có thể nghiên cứu về hiệu quả của ngân
hàng chính sách Nhà nước, Chi nhánh ngân hàng chính sách trên địa bàn các
tỉnh và Phòng giao dich ở các huyện. Tiêu biểu như luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Văn Châu – Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh- Đại học Thái
Nguyên “Ảnh hưởng tín dụng ưu đãi tại
Ngân

hàng
Chính sách xã hội đến
giảm tỷ lệ nghèo tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang"; Khóa luận “Nâng cao
chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Mỹ
Hào” – Đại học Kinh tế Quốc dân. Tuy nhiên, các đề tài chỉ dừng lại ở việc thống
kê mô tả ảnh hưởng của tín dụng ưu đãi đến giảm tỷ lệ nghèo mà chưa đánh giá,
phân tích được tác động cụ thể của các yếu tố đặc biệt là tác động của nguồn vốn
ưu đãi đối với thu nhập của hộ nghèo.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý luận: trên cơ sở phân tích các nguồn
tài liệu, thực hiện phân tích lý thuyết thành các mặt, bộ phận, những mối quan
hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác những khía cạnh
khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp thu thập thông tin
theo một hệ thống câu hỏi cụ thể thông qua trò chuyện trao đổi với người được
khảo sát, hỏi và trả lời trên giấy. Có hai loại câu hỏi: câu hỏi mở và câu hỏi
đóng. Câu hỏi mở là câu hỏi mà yêu cầu người được nghiên cứu phải tự mình
biểu đạt trả lời cho những câu hỏi đặt ra. Câu hỏi đóng là câu hỏi mà người
được hỏi chọn một trong những câu trả lời cho sẵn. Điều tra bằng bảng hỏi
nhằm khai thác một số vấn đề chi tiết, những số liệu cụ thể, hỗ trợ quá trình

NHCSXH là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động không vì mục
đích lợi nhuận mà vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế ổn định xã hội,
từng bước đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Đó là tính ưu việt và cũng là điểm khác biệt của NHCSXH với các Ngân hàng thương
mại. Sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín
dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tạo
điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước; hộ nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện gần gũi với các cơ quan công
quyền ở địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn.
NHCSXH còn là thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế: Hiệp hội tín
dụng nông nghiệp nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) từ năm 2006;
Hiệp hội Ngân hàng Phục vụ người nghèo (BWTP) từ năm 2007; Phong trào tín
dụng vi mô toàn cầu (MCS) từ năm 1997. Ngoài ra, NHCSXH còn hợp tác với các
tổ chức tài chính và phát triển quốc tế (Chính phủ, phi Chính phủ) như: WB, ADB,
AFD, JBIC, KFW, USAID, DFID, AusAID, DANIDA, thu hút vốn đầu tư hàng
nghìn tỷ đồng. Hiện nay, NHCSXH đang hỗ trợ kỹ thuật cho Ngân hàng Chính sách
CHDCND Lào (NAYOBY).
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) có chức năng:
7
- Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và
tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết
kiệm trong cộng đồng người nghèo.
- Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các
giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết
kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà nước.
- Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không
hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các
tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và
nước ngoài.
- Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài

Theo Word Bank: "Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ,
không được đến trường, không biết đọc, biết viết, không có việc làm, lo sợ cho cuộc
sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do".
* Nghèo tương đối: Là sự thỏa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của
con người như cơm ăn chưa ngon, quần áo mặc chưa đẹp, nhà ở chưa khang trang
hoặc có sự so sánh người này với người khác hay giữa
vùng

này
với vùng khác.
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào
hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung
cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
* Nghèo tuyệt đối: Là sự không thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con
người để duy trì cuộc sống như cơm ăn chưa no, áo không đủ mặc, nhà cửa
không che được mưa nắng.
Cựu giám đốc Ngân hàng Thế giới, Robert McNamra đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
9
độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt
đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của
cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài
nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-xã
hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các
nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. Đây chính cách
định nghĩa nghèo theo tình trạng sống. Theo đó, ngoài thu nhập khi định nghĩa
“nghèo con người” cần lưu ý đến những khía cạnh khác như: cơ hội đào tạo, mức

hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2011.
b. Đặc điểm của hộ nghèo
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh: Mặc dù Việt
Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tuy
nhiên cũng cần thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh. Thu
nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp danh mức nghèo, do vậy chỉ cần
những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo
và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo. Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp.
Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của
những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những
đột

biến
của mỗi
gia đình và cộng đồng. Nhiều gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo
nhưng vẫn giáp danh với ngưỡng nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập
cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo. Tính mùa vụ trong sản xuất
nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo.
Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn: Đa số người
nghèo sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng
sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán)
11
khiến cho các điều kiện sinh sống. Đặc biệt, sự kém phát triển về cơ sở hạ tầng
của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác.
Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người cứu trợ đột
xuất hàng
năm


mua, khuyến khích sản xuất phát triển. Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của
chiến lược phát triển xã
hội


Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và
công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000,
189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố mục tiêu Thiên niên kỷ và
cam kết
đạt

được
tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015. Đây là sự
đồng thuận chưa từng có của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức
quan trọng toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như cam kết chung về việc giải quyết
những thách thức này. Trong 8 mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ của liên Hợp
quốc mà Việt Nam cam kết thực hiện trong đó có mục tiêu về nghèo đói Hiện
đang được Đảng và Nhà nước ta thực hiện rất tích cực và Việt Nam cam kết
phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành các mục tiêu của Liên Hợp Quốc trong đó
có chỉ
tiêu giảm nghèo.
Hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý do của sự đói
nghèo có thể

khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước có thể tăng trưởng nhưng
nếu không có chính sách và chương trình riêng về XĐGN thì các hộ gia đình nghèo
không thể thoát khỏi đói nghèo được.
Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính

được tính ưu việt của nó chúng ta hãy đi tìm hiểu vai trò của kênh tín
dụng ưu
đãi của NHCSXH đối với hộ nông dân nghèo.
1.1.2.2.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
a. Khái niệm và đặc trưng
Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi
trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người
cho vay. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá
nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối
lượng giá
trị hay hiện vật cho một
cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn
và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng
hóa.
Trong
điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa
tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan.
14
Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho
những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất
trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng
nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau
chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng. Tín dụng đối với
người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác
với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những
yếu tố cơ bản sau:
* Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người
nghèo đói có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động
vì mục tiêu XĐGN, không vì mục đích lợi nhuận.
* Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất

kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do điều kiện
tự nhiên bất thuận lợi, do
không được đầu tư, do thiếu vốn Trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất
của những người nông dân là tiết kiệm cần cù, nhưng tiết kiệm, tích lũy thấp do
thu nhập bấp bênh, nguyên nhân chính của nghèo đói là do không có vốn để tổ
chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh doanh. Vì vậy, vốn đối với họ là điều
kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói
nghèo. Nhờ nguồn vốn của Ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được
KHKT, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng
nhờ vay vốn mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư.
Khi có vốn trong tay, với bản chất cần cù của người nông dân, bằng chính
sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón,
cây con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh tạo ra năng xuất và sản
phẩm hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
Thứ hai, vốn của NHCSXH tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay
nặng lãi, nên hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn. Những người nghèo
đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản xuất hoặc để duy trì cho cuộc
sống họ là những người chịu sự bóc lột bằng thóc hoặc bằng tiền nhiều nhất của
nạn cho vay nặng lãi hiện nay. Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay
16
người nghèo với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có
thị trường hoạt động.
Thứ ba, vốn tín dụng của NHCSXH giúp người nghèo nâng cao kiến thức
tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường. Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu
tư cho sản xuất kinh doanh để XĐGN, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và
lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề
gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao. Để làm được điều đó họ phải
tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ

17
việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa
các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền đã có tác dụng:
- Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh
tế ở địa phương.
- Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của
mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản

kinh tế của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay
vốn.
- Thông qua các tổ tương trợ tạo điều kiện để những người vay vốn có cùng
hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau tăng cường
tình làng, nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đồi với Đảng, Nhà nước.
Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn, an
ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra
được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội và nông thôn.
c. Kinh nghiệm một số nước và bài học với Việt Nam
• Bangladesh:
Tại Bangladesh, ngân hàng Grameen (GB) là ngân hàng chuyên phục vụ
người nghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo. Để phát triển, GB phải tự bù đắp các chi
phí hoạt động. Như vậy, GB hoạt động như các ngân hàng thương mại khác
không được bao cấp từ phía Chính phủ. GB thực hiện cơ chế lãi suất thực dương,
do vậy lãi suất cho vay tới các thành viên luôn cao hơn lãi suất trên thị trường. GB
cho vay tới các thành viên thông qua nhóm tiết kiệm và vay vốn. GB cho vay
không áp dụng biện pháp thế chấp tài sản mà
chỉ

cần
tín chấp qua các nhóm tiết
kiệm và vay vốn. Thủ tục vay vốn của GB rất đơn giản và thuận tiện, người vay

nhận. Đây là ngân hàng thương mại quốc doanh, được Chính phủ thành lập và cấp
100% vốn tự có ban đầu. BPM chú trọng cho vay trung và dài hạn theo các dự án
và các chương trình đặc biệt. Ngoài ra BPM còn cho vay hộ nông dân nghèo thông
qua các tổ chức tín dụng trung và dài hạn theo các dự án và các chương trình đặc
biệt. Ngoài ra, ngân hàng còn có cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tố
chức tín dụng trung gian khác như: Ngân hàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng.
Ngoài ra, Chính phủ còn buộc các ngân hàng thương mại khác
phải

gửi
20,5% số
tiền huy động được vào ngân hàng trung ương (trong đó có 3% dự trữ bắt buộc) để
19
làm vốn cho vay đối với nông nghiệp - nông thôn. BPM không phải gửi tiền dự trữ
bắt buộc ở ngân hàng trưng ương và không phải nộp thuế cho Nhà nước.
• Ấn Độ
Việc cấp tín dụng cho người nghèo thông qua NHNo có các chi nhánh tận
cấp huyện. Việc giải ngân tín dụng ưu đãi được thực hiện thông qua “Tổ vay tự
lực”, mỗi tổ có số thành viên từ 10-20 người, tất cả đến từ các gia đình khác nhau,
đa số là phụ nữ nghèo. Hàng tháng, các thành viên phải nộp một số tiền nhất định
để làm quỹ, số tiền bao nhiêu là do các thành viên tự thỏa thuận. Thông thường số
tiền ban đầu từ 10-20 Rupi (khoảng 20-40 US Cent). Tiền tiết kiệm của các tổ viên
được thu vào ngày tháng cụ thể ( thường là ngày thứ 10 của tháng). Số tiền này
được gửi vào tài khoản tiết kiệm của NHTM (thường là NHNo). Hiện nay NHNo
Ấn Độ đóng vai trò là tổ chức xúc tiến tự lực và hỗ trợ thành lập và quản lý các tổ
chức này. Tổ chức tài chính vi mô đã thực hiện rất nhiều chương trình khác nhau
đối với công tác xây dựng năng lực đối với Phụ nữ. Phụ nữ được đào tạo để thảo
luận nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến họ và nơi sinh sống.
• Bài học đối với Việt Nam
Từ thực tế ở một số nước trên thế giới, với lợi thế của người đi sau, Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status