Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Trong tiến trình đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã dành sự
quan tâm đặc biệt của mình vào xoá đói, giảm nghèo. Mục tiêu này đang thực hiện bởi
nhiều chương trình lớn của Chính phủ, trong những năm qua cùng với sự chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường, nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng: Nền kinh tế
tiếp tục phát triển, xã hội ổn định, quan hệ ngoại giao mở rộng, tạo được những tiền đề cơ
bản để đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước. Song cùng với quá trình phát
triển đó, bên cạnh sự tăng thu nhập của số đông dân cư vẫn tồn tại một bộ phận người
nghèo khổ. Mặt khác, do tác động của cơ chế thị trường, sự tăng trưởng kinh tế thường đi
đôi với sự phân hoá giàu nghèo, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và có xu hướng
ngày càng gia tăng.
Trước thực trạng đó đã đặt ra nhiều nhiệm vụ đối với Đảng và Nhà nước bên cạnh
việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước còn phải quan tâm tới công cuộc xoá đói giảm nghèo (XĐGN).
Giải quyết vấn đề nghèo đói là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng
và Nhà nước ta. Tại Hội nghị đánh giá Chương trình Mục tiêu quốc gia về XĐGN tháng
10 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Xoá đói giảm nghèo là một nhiệm vụ
chiến lược lâu dài của Đảng, Nhà nước và toàn dân, là trách nhiệm xã hội của mọi cấp,
mọi ngành, mọi tổ chức; nó thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Xoá đói giảm nghèo
có ý nghĩa kinh tế xã hội, chính trị và nhân văn sâu sắc”.
Nhằm cụ thể hóa chủ trương này của Đảng và Nhà nước, thời gian qua các Bộ,
Ngành đã trình Chính phủ ban hành một hệ thống cơ chế, chính sách và giải pháp để
giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ sản xuất và các dịch vụ xã hội cơ bản,
để tạo cho họ có cơ hội thuận lợi tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo và trở nên khá giả,
giàu có. Một trong những chính sách và giải pháp quan trọng đó là chính sách tín dụng
ưu đãi đối với hộ nghèo.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngày 04 tháng 10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/QĐ-
lý luận và thực tiễn trong hoạt động tín dụng.
- Phương pháp duy vật lịch sử được áp dụng khi xem xét đánh giá thực trạng hoạt
động tín dụng đối với hộ nghèo của PGD NHCSXH huyện Giao Thuỷ có gắn với các
điều kiện lịch sử nhất định.
- Phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng được sử dụng trong quá trình nghiên
cứu: Đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp kết hợp với quan sát thực tế
để làm rõ đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại PGD NHCSXH
huyện Giao Thuỷ
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại
PGD NHCSXH huyện Giao Thuỷ
Bài viết của em còn nhiều thiếu xót em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn Th.S
Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI
VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH
1.1 Đói nghèo và sự cần thiết phải giảm đói nghèo
1.1.1 Đói nghèo và hậu quả của đói nghèo
1.1.1.1. Khái niệm người nghèo:
Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay từng
vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất
để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ
bản của con người về: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự
khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào
thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao đời
sống của các hộ gia đình nghèo.
+ Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn
sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung, tự cấp là chính, thường sống ở những nơi hẻo lánh,
giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin, con cái thất học… Những khó
khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh
doanh dẫn đến năng suất thấp, không hiệu quả.
+ Do sinh đẻ nhiều, sức khoẻ yếu, không đủ sức làm kinh tế. Bình quân nhân
khẩu lớn nhưng lao động ít.
+ Đất đai canh tác ít, thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng,
mắc các tệ nạn xã hội. Mặt khác do hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều người dân bị
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị goá phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ,
khoẻ có khả năng đảm nhiệm những công việc nặng nhọc.
+ Gặp những rủi ro trong cuộc sống, người nghèo thường sống ở những nơi hẻo
lánh xa trung tâm, thời tiết khắc nghiệt, nơi mà thường xuyên xảy ra hạn hán, lũ lụt, dịch
bệnh… Cũng chính do thường sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn mà
hàng hoá của họ sản xuất ra thường bị bán rẻ (do chi phí giao thông) hoặc không bán
được, chất lượng hàng hoá giảm sút do lưu thông không kịp thời.
- Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách:
Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các
khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm
ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách trong giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai,
định canh, định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế…
- Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội:
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động đến sản xuất nông nghiệp của các hộ
gia đình nghèo, ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch
bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn,
- Bất bình đẳng xã hội: quy luật từ sự đói nghèo dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm
trọng nó đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, hố ngăn cách giầu
nghèo ngày càng tăng, phát sinh tệ nạn cho vay nặng lãi và bán sản phẩm trước kỳ thu
hoạch của các hộ nông dân.
- Phá huỷ môi trường: từ nghèo đói con người sẽ huỷ hoại và khai thác rừng bừa
bãi làm ô nhiễm môi trường sinh thái.
- Nguy cơ mất ổn định xã hội và phát triển bền vững: thiếu vốn, thiếu việc làm
nảy sinh các tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển, gia tăng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Thực trạng hộ nghèo ở Việt Nam:
- Chuẩn mực phân loại hộ nghèo đói:
Chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo hoặc tiêu chuẩn nghèo) là công cụ để
phân biệt người nghèo và người không nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập
hoặc chi tiêu.
Những người được coi là người nghèo khi mức sống của họ được đo qua thu nhập
(hoặc chi tiêu) thấp hơn một mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo.
Những người có mức thu nhập (hoặc chi tiêu) ở trên chuẩn này là người không nghèo.
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo
đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của chính phủ tới nghèo đói; cho
phép so sánh nghèo đói theo thời gian; tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám
sát chi tiêu xã hội theo hưóng có lợi cho người nghèo. Ngoài ra còn định hướng chính
sách hướng vào người nghèo để cải thiện vị thế của họ như: xây dựng các chính sách hỗ
trợ người nghèo theo các nguyên nhân nghèo đói khác nhau, xây dựng các chính sách hỗ
trợ giảm nghèo theo vùng, tình trạng việc làm, văn hoá, giới tính.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều thước đo khác nhau, tuỳ vào từng điều kiện cụ
thể mà các quốc gia có thể lựa chọn để sử dụng cho mình phương pháp xác định cho phù
hợp.
Chỉ tiêu đánh giá về đói nghèo của Việt Nam là lấy thu nhập bình quân đầu
người một tháng (hoặc năm) được đo bằng giá trị hay hiện vật quy đổi bằng lương thực
Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo, nhiều chỉ tiêu kinh tế
bình quân đầu người còn ở mức thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Phần lớn hộ nghèo tập
trung ở nông thôn (chiếm 80% số hộ nghèo là các hộ nông dân) và thường rơi vào các
nhóm hộ độc canh cây lúa, sản xuất tự cung tự cấp, thiếu tư liệu sản xuất, thiếu lao động,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiếu việc làm hoặc việc làm kém hiệu quả, thu nhập thấp, không có khả năng tích luỹ để
tái sản xuất giản đơn.
Việt Nam thuộc nhóm các nước nghèo của thế giới, tỷ lệ hộ đói nghèo khá cao.
Nếu tính theo chuẩn đói nghèo của Việt Nam năm 2002 còn khoảng 2,4 triệu hộ nghèo,
chiếm tỷ lệ 14% tổng số hộ toàn quốc. Theo chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn
2006 - 2010 thì tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 22% tương đương với 4 triệu hộ nghèo.
- Đặc điểm cơ bản người nghèo ở Việt Nam:
Những người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống khác hẳn với
những khách hàng khác thể hiện:
+ Những người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp
thường bó gọn trong làng, xã…
+ Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh. Vì vậy,
người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề và
chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường. Do đó, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp,
chưa tạo ra được sản phẩm hàng hoá và đối tượng sản xuất kinh doanh thường hay thay
đổi.
+ Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hoá của người nghèo
cũng tác động tới nhu cầu tín dụng.
Khoảng cách giữa ngân hàng và nơi người nghèo sinh sống đang là trở ngại,
người nghèo thường sinh sống ở những nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém.
Người nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu hoặc
những ngành nghề thủ công, buôn bán nhỏ. Do vậy, nhu cầu sử dụng vốn của người
nghèo mang tính thời vụ.
1.1.2. Sự cần thiết phải giảm đói nghèo:
trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhất là các quốc gia nghèo càng có yêu cầu bức
thiết hơn. Vì chính bản thân việc đói, nghèo là một bất lợi lớn cho việc phát triển kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhưng nếu phát triển kinh tế thiếu bền vững và thực hiện chính xã hội thiếu công bằng
thì sẽ dẫn đến việc tỷ lệ nghèo tăng lên đáng kể. Tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện để
giảm thiểu sự nghèo khó của một quốc gia. Thực tế trong vòng một trăm năm trở lại đây,
tỷ trọng phát triển kinh tế thế giới tăng lên với tốc độ cao gấp nhiều lần so với các thế kỷ
trước đó, nhưng tỷ lệ người nghèo cũng tăng lên không ít. Đã có hơn một tỷ người sống
trên trái đất này là nghèo khó. Do vậy, trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các
quốc gia đều quan tâm đến việc giảm thiểu sự đói, nghèo.
Đói, nghèo thường là nguyên nhân xảy ra bất ổn định xã hội, xung đột giai cấp,
xung đột chính trị. Là nhân tố tác động ngược lại quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế - xã hội. Vì thế, hầu hết các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, mặc dù có
những thể chế chính trị xã hội khác nhau nhưng đều có mục tiêu chung đó là làm thế nào
để giảm thiểu tình trạng đói, nghèo, ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế, làm cho quốc gia
mình, dân tộc mình giàu có hơn. Xoá đói giảm nghèo đóng một vai trò quan trọng cần
thiết.
Hơn nữa, trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối
quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo.
Ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền
vững. Tuy nhiên trong mối quan hệ này, giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ
thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế.
1.2. Hiệu quả tín dụng của NHCSXH đối với hộ nghèo:
1.2.1. Ngân hàng Chính sách xã hội:
1.2.1.1. Tổ chức, bộ máy, mục tiêu hoạt động của NHCSXH:
* Tổ chức của NHCSXH gồm:
- Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội.
- Có 64 chi nhánh đặt tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có Sở giao
dịch và Trung tâm đào tạo đặt tại Hà Nội.
- Phòng giao dịch đặt tại các huyện, quận, thành phố thuộc Chi nhánh NHCSXH
cấp tỉnh nơi không có Chi nhánh NHCSXH. Phòng giao dịch có con dấu. Điều hành
Phòng giao dịch là Giám đốc.
* Mục tiêu hoạt động của NHCSXH:
Ngân hàng Chính sách xã hội là một định chế tài chính của Nhà nước, được thành
lập theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ.
NHCSXH hoạt động vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi
nhuận được Nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu 5.000 tỷ đồng và cấp bổ sung hàng năm
phù hợp với quy mô hoạt động, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán, không
phải dự trữ bắt buộc và không phải nộp thuế cho ngân sách Nhà nước.
Nhiệm vụ của NHCSXH là sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy
động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi để sản xuất kinh
doanh, tạo việc làm, cải tạo đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
về xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
1.2.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHCSXH:
- NHCSXH huy động vốn theo kế hoạch hàng năm được Chính phủ phê duyệt để
tạo lập nguồn vốn cho vay.
- Nhận vốn uỷ thác của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài
chính tín dụng, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính
phủ, các cá nhân trong và ngoài nước để cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng
chính sách khác.
- Cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo quy định
của Chính phủ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
1.2.1.3. Tín dụng đối với người nghèo:
* Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người nghèo:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo, cung cấp vốn tín dụng ngân hàng cho
người nghèo vay, luôn đóng một vai trò quan trọng, cần thiết trong việc giúp đỡ về tài
những hộ nghèo rất nặng nề. Khi có nguồn vốn tín dụng cho người nghèo đến với những
hộ nghèo đã giải toả phần lớn các áp lực về tài chính. Nhất là khi hộ nghèo vay vốn bị rủi
ro bất khả kháng, tuỳ mức độ thiệt hại, Nhà nước có chính sách xử lý gia hạn nợ, giãn
nợ, khoanh hoặc xoá nợ. Như vậy, hộ nghèo không bị áp lực tâm lý về khoản nợ không
trả được do rủi ro khách quan. Mặt khác nguồn vốn tín dụng đối với người nghèo cho
vay với lãi suất ưu đãi cũng đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi thường xảy
ra trước đây ở các vùng nông thôn.
Vốn tín dụng ngân hàng dành cho người nghèo góp phần tạo nhiều cơ hội việc
làm cho người nghèo: vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần tạo việc làm cho nhiều
lao động, phát huy tiềm năng sẵn có của những hộ gia đình nghèo. Diện tích đất sản xuất
nông nghiệp trên đầu người hiện nay ở các vùng nông thôn của nhiều nước quá thấp.
Trong khi đó, số lao động ở nông thôn ngày càng tăng, sản xuất thuần nông trên thời gian
làm việc của một lao động trong năm gom lại chỉ khoảng 100 ngày. Còn hơn 2/3 thời
gian lao động trong năm của nông dân là nông nhà, thất nghiệp. Tình trạng thất nghiệp
diễn ra khá phổ biến ở các vùng nông thôn. Đặc biệt hộ nghèo thường là những gia đình
đông con, không có việc làm, thu nhập thấp không đảm bảo chi tiêu, là gánh nặng trong
cuộc sống. Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở
nông thôn, như chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời
sống cũng như thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống. Nhờ vậy đã giải quyết việc
làm cho nhiều chục vạn lao động, giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn, tận dụng lao
động để khai thác ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho
người nghèo tự vận động, phát huy tính nhân bản, vượt qua khó khăn, nghèo đói hoà
nhập dần dần vào cơ chế kinh tế thị trường.
Vốn tín dụng cho người nghèo góp phần nâng cao thu nhập của hộ nghèo: vốn
cung ứng cho người nghèo thông qua hình thức tín dụng đã góp phần tạo cơ hội cho
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người nghèo tăng thu nhập, nâng cao đời sống và giúp nhiều vạn hộ nghèo vượt qua
ngưỡng đói nghèo.
* Các hình thức cho vay:
- Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa từ nguồn vốn KFW (Ngân hàng Tái thiết
Đức).
- Cho vay dự án trồng rừng thương mại tại 4 tỉnh miền trung là Thừa Thiên Huế,
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
- Cho vay một số đối tượng khác cho các chính sách phát triển nông nghiệp, nông
thôn theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ và các chương trình tín dụng chính sách uỷ
thác từ tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
* Lãi suất cho vay:
NHCSXH cho vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay của các Ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng khác và áp dụng cùng một mức lãi suất cho tất cả các
loại cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.
Hiện nay, lãi suất cho vay của NHCSXH đối với hộ nghèo từ 01/01/2006 là
0,65%/tháng.
Trong đó có một số đối tượng chính sách được vay với mức lãi suất thấp hơn
gồm:
+ Người nghèo ở vùng III và các xã đặc biệt khó khăn là 0,6%/tháng.
+ Người vay vốn là người tàn tật vay vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm là
0,5%/tháng.
+ Cho vay nhà ở các hộ dân vùng ngập lũ thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu
Long là 0,25%/tháng.
Ngoài lãi suất cho vay, hộ nghèo vay vốn không phải trả thêm bất kỳ một khoản
phí nào khác.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lãi suất cho vay từ nguồn vốn do chi nhánh NHCSXH nhận uỷ thác của chính
quyền địa phương, của tổ chức và cá nhân trong, ngoài nước thực hiện theo hợp đồng uỷ
thác.
* Quy mô tín dụng:
Trong năm năm NHCSXH đã cho vay hộ nghèo với tổng doanh số là 14.785 tỷ
11.698 tỷ đồng chiếm 78,6 % tổng dư nợ, cho vay ngắn hạn chỉ chiếm 21,4 % tổng dư
nợ. Dư nợ cho vay hộ nghèo phân theo vùng kinh tế như sau:
Biểu số 02: Dư nợ cho vay hộ nghèo theo vùng kinh tế các năm 2005-2008
Đơn vị tính : Tỷ đồng, 1000 hộ
TT Vùng kinh tế Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
1 Vùng Miền núi và Trung du phía bắc 2.080 2.371 2.980 3.777
2 Vùng Đồng bằng sông Hồng 1.335 1.514 1.999 2.382
3 Vùng Khu Bốn cũ 1.313 1.577 2.121 2.456
4 Vùng Duyên hải Miền trung 795 1.018 1.435 1.776
5 Vùng Tây Nguyên 303 342 693 1.020
6 Vùng Đông Nam bộ 350 395 713 1.035
7 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 846 1.032 1.668 2.445
(Nguồn: Ngân hàng Chính sách xã hội)
Dư nợ phân theo ngành kinh tế: nguồn vốn của NHCSXH đầu tư vào ngành nông
nghiệp là chủ yếu chiếm hơn 82% đầu tư vào các ngành khác chiếm tỷ trọng nhỏ.
1.2.2. Hiệu quả tín dụng đối với người nghèo:
1.2.2.1. Khái niệm: hiệu quả trên phương diện Ngân hàng, hiệu quả tín dụng
đối với người nghèo:
* Hiệu quả trên phương diện Ngân hàng:
Theo lý thuyết kinh tế tiền tệ, tín dụng ngân hàng thương mại được khái niệm như
là hoạt động thường xuyên của những tổ chức trung gian tài chính, thường là các ngân
hàng thương mại. Đó là việc nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng
dịch vụ ngân hàng. Trong đó nghiệp vụ cho vay là chủ yếu và đem lại phần lớn lợi nhuận
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh; điều kiện cho vay dễ dàng hơn (không phải thế chấp tài sản, thủ tục đơn giản) và
có chính sách xử lý khi gặp rủi ro khách quan.
Tín dụng ngân hàng đối với người nghèo có đặc điểm khác biệt hơn so với tín
dụng ngân hàng thương mại đó là:
- Mục đích hoạt động của tín dụng ngân hàng đối với người nghèo không vì mục
tiêu lợi nhuận mà là góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm
nghèo.
- Đối tượng vay vốn là hộ nghèo, các tổ chức kinh tế và các hộ sản xuất kinh
doanh thuộc khu vực nghèo, vùng nghèo.
- Được ưu đãi về điều kiện vay vốn như: không phải thế chấp tài sản, được miễn
các khoản lệ phí khi vay vốn.
- Lãi suất cho vay được áp dụng theo mức lãi suất cho vay ưu đãi do Nhà nước
quy định theo từng thời kỳ.
- Được Nhà nước hỗ trợ xử lý khi gặp những rủi ro khách quan.
1.2.2.2. Các tiêu chí phản ánh hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo:
* Trên phương diện hoạt động của NHCSXH:
Sau khi có Nghị định của Chính phủ và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
được sự giúp đỡ của các chuyên gia tư vấn thuộc 9 Bộ, Ngành, cơ quan quản lý Nhà
nước và các tổ chức chính trị xã hội, trong khoảng thời gian ngắn NHCSXH đã thiết lập
một hệ thống các quy chế điều hành, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ, đồng bộ, đảm
bảo cho NHCSXH triển khai các hoạt động theo đúng yêu cầu, nội dung chính sách tín
dụng của Nhà nước đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Được sự quan
tâm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của cấp uỷ và chính quyền các
địa phương, sự phối hợp có hiệu quả của các Bộ, Ngành liên quan, của các tổ chức chính
trị xã hội; NHCSXH sau hơn 6 năm hoạt động đã tạo ra thế và lực đảm bảo tiếp tục nối
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PGD NHCSXH HUYỆN GIAO
THUỶ
2.1. Thực trạng hộ nghèo ở huyện Giao Thuỷ:
Giao Thuỷ là một huyện đồng bằng ven biển nằm phía Đông của tỉnh Nam Định,
có diện tích tự nhiên 232,5 km
2
, trong đó 10.050 ha đất nông nghiệp, 32 km bờ biển,
3.580 ha mặt nước nuôi trồng thuỷ, hải sản.
Toàn huyện có 20 xã và 2 thị trấn, dân số trên 200 nghìn người trong đó dân số
nông thôn là 194 nghìn người (chiếm 97%), dân số thị trấn 6 nghìn người (chiếm 3%)
với 115 nghìn lao động (chiếm 55% dân số). Điều kiện tự nhiên nơi đây thuận lợi cho
việc phát triển đa dạng các ngành nghề: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt
thuỷ, hải sản, làm muối, nước mắm…
Trong những năm gần đây, nhờ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, định
hướng phát triển kinh tế của địa phương nông nghiệp nông thôn huyện Giao Thuỷ đã có
bước chuyển biến, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh
thần, nhiều hộ gia đình đã xây dựng được nhà cửa khang trang, sắm sửa được những tiện
nghi đắt tiền. Tuy nhiên, qua điều tra tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giai đoạn 2006-2010
của Giao Thuỷ vẫn còn 6.565 hộ chiếm tỷ lệ 12,32% so với tổng dân số. Nhận thức rõ
tầm quan trọng của việc xoá đói giảm nghèo, vì vậy trong Nghị quyết lần thứ 22 của Đại
Hội Đảng bộ huyện Giao Thuỷ quán triệt: “Tích cực đổi mới cơ cấu lao động xã hội, tạo
nhiều việc làm cho lao động phổ thông, giảm tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Tích cực thực
hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2010 xuống còn
7%. Tăng tỷ lệ hộ giàu, cải thiện đời sống của nhân dân…”
Qua nghiên cứu tình hình cụ thể trên địa bàn huyện Giao Thuỷ thì hộ nghèo chủ
yếu do những nguyên nhân sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368