Nâng cao hiệu quả xã hội của tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quảng Uyên – tỉnh Cao Bằng - Pdf 25

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
TK & VV : Tổ tiết kiệm và vay vốn
CT – XH : Tổ chức Chính trị - Xã hội
UBND : Ủy ban Nhân dân
ODA : Nguồn vốn viện trợ không hoàn lại
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Nghèo đói là một vấn đề của xã hội và nó mang tính toàn cầu. Những năm
gần đây, nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước nên nền kinh tế tăng
trưởng nhanh, do đó mà đại bộ phận đời sống nhân dân đã được tăng lên một cách
rõ rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là dân cư ở vùng núi, nông
thôn, vùng xâu vùng xa…vẫn phải chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những
điều kiện tối thiểu của cuộc sống. Hiện nay, một vấn đề mà cả xã hội cần quan tâm
là sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra mạnh. Chính vì lý do đó chương trình xóa
đói giảm nghèo là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu của chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Có nhiều nguyên nhân để dẫn đến tình trạng nghèo đói, trong đó có một
nguyên nhân quan trọng là: người dân thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Do đó,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định tín dụng Ngân hàng là một cầu nối không thể
thiếu trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo
của Việt Nam.
Xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, vào ngày 04/10/2002; Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 131/TTg về việc thành lập Ngân hàng
chính sách xã hội, trên cơ sở tổ chức lại của Ngân hàng phục vụ người nghèo trước
đây để thực hiện nhiệm vụ cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách
khác. Chính là sự cụ thể hóa chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về xây
dựng một loại hình Ngân hàng chính sách thực sự là công cụ xóa đói giảm nghèo
hữu hiệu.
Đặc biệt là xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc

thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên bài chuyên đề không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để
bài chuyên đề được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI.
1.1. Tổng quan về Ngân hàng chính sách xã hội.
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng chính sách là tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì lợi
nhuận, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi, vì mục tiêu chủ yếu là
xóa đói giảm nghèo.
1.1.2. Chức năng và vai trò của Ngân hàng chính sách xã hội
 Ngân hàng chính sách xã hội có chức năng:
- Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và
tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết
kiệm trong cộng đồng người nghèo.
- Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các
giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết
kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước.
- Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không
hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ
chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước.
- Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài
nước.
- Ngân hàng chính sách xã hội có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ
thống liên Ngân hàng trong nước.
- Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện các dịch vụ Ngân hàng về
thanh toán và ngân quỹ:
+ Cung ứng các phương tiện thanh toán.

nước, là công cụ để triển khai các chính sách, chế độ an sinh xã hội nên vốn của
Ngân hàng là vốn Nhà nước.
Từ khi thành lập, việc thi hành những chính sách tín dụng ưu đãi đã mang lại
hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo thêm việc làm
mới, nâng cao tỷ lệ nông dân được sử dụng nước sạch, môi trường nông thôn được
cải thiện, tạo điều kiện cho sinh viên nghèo yên tâm học tập.
Ngân hàng chính sách xã hội đã giúp hộ nghèo thay đổi tư duy, tập dượt cho
hộ nghèo làm quen với việc sử dụng vốn tín dụng, vốn vay và trả nợ sòng phẳng.
Ngân hàng chính sách xã hội là chỗ dựa cho vay hỗ trợ hộ nghèo và các đối
tượng chính sách khác.
Ngân hàng chính sách xã hội có vai trò đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất và tiêu
dùng của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác là những người không có khả
năng tiếp cận nguồn vốn vay của Ngân hàng thương mại. Việc cấp tín dụng ưu đãi
của Ngân hàng chính sách xã hội tạo được hiệu quả hơn so với phương thức cấp
phát vốn cho việc chuyển tải vốn theo phương thức cho vay có hoàn trả nên người
vay vốn tính toán hiệu quả khi sử dụng vốn vay, vốn được sử dụng quay vòng nhiều
lần, giúp nhiều người được hưởng lợi.
Ngân hàng chính sách xã hội đã góp phần thực hiện chủ trương tách tín dụng
chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, tạo động lực cho sự phát triển của hệ thống
Ngân hàng trong giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Vậy, Ngân hàng chính sách xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc là cầu nối
đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng
chính sách khác; tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước; hộ nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện gần
4
gũi với các cơ quan công quyền ở địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và
hiểu dân hơn.
 Đối tượng phục vụ
- Hộ nghèo: gồm các hộ nghèo theo quy định của Chính phủ theo từng thời
kỳ đi vay vốn để sản xuất kinh doanh tiến tới thoát khỏi đói nghèo.

trong nước và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Chính phủ và ủy ban nhân
dân các cấp để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
1.1.4. Cơ chế tài chính của Ngân hàng chính sách xã hội
5
Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức của Nhà nước hoạt động vì mục
tiêu xóa đói giảm nghèo không vì mục đích lợi nhuận; là đơn vị hạch toán tập trung
toàn hệ thống; tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật; thực hiện
bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn và bảo đảm bù đắp các chi phí rủi ro hoạt động
tín dụng theo các điều khoản quy định.
Để có thể thực hiện cho vay đối với các đối tượng chính sách theo lãi suất ưu
đãi, Ngân hàng chính sách xã hội được áp dụng cơ chế tài chính riêng khác với các
Ngân hàng thương mại khác như: Ngân hàng chính sách xã hội không phải tham gia
bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước bằng 0%; được
miễn thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước. Theo những quy định nêu
trên thì Ngân hàng chính sách xã hội được hưởng một chế độ ưu đãi, trên cơ sở đó
hạ lãi suất cho vay, nhưng thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm
về mặt tài chính.
Ngân hàng chính sách xã hội trả phí dịch vụ cho đơn vị nhận làm dịch vụ ủy
thác theo sự thỏa thuận của hai bên trên cơ sở định mức do Nhà nước quy định.
1.2. Tín dụng đối với hộ nghèo.
1.2.1. Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo (Chuẩn
nghèo hiện hành theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011
của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011-2015). Là diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo tiêu chuẩn nghèo và các nguyên nhân
dẫn đến đói nghèo thay đổi tùy theo thời gian và theo địa phương.
1.2.2. Căn cứ để phân chia hộ nghèo ở Việt Nam và Thế giới
a. Ở Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo từ năm 1993 đến cuối

mua địa phương thì được coi là rất nghèo.Trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ
năm 2000, các thành viên của Liên Hiệp Quốc đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm
2015 là giảm một nửa số người có thu nhập ít hơn 1 đôla Mỹ.
Tuy nhiên, ở các quốc gia khac nhau thì cách xác định ranh giới nghèo có
khác nhau như: từ 2USD cho châu Mỹ La Tinh và Caribean, 4USD cho những nước
Đông Âu, cho đến 14,40USD là cho các nước công nghiệp (chương trình Phát triển
Liên Hiệp Quốc năm 1997).
1.2.3. Khái quát tình trạng nghèo đói ở Việt Nam.
Thành tựu từ khi đổi mới đã ảnh hưởng ngày càng sâu rộng tới mọi mặt của
đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng và bước
vào một giai đoạn phát triển mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển tiến tới phát triển
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới.
Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam còn khá cao. Theo chuẩn nghèo của chương trình
xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm
24,7% tổng số hộ trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn.
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh.
Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn
lực rất hạn chế ( đất đai, lao động, vốn ), thu nhập của những người nghèo rất bấp
7
bênh và rất dễ bị tổn thương trước những biến động của mỗi gia đình và cộng đồng.
Nhiều gia đình tuy thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh với ngưỡng
nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống
ngưỡng nghèo. Tính vụ mùa trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho
người nghèo. Chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến hộ rơi
xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo.
Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn.
Đa số người nghèo sống ở các vùng có tài nguyên nghèo nàn, điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, miền trung do sự
biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hãn) ảnh hưởng đến điều kiện sinh sống. Đặc

có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, con số này không
phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng
do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo) và do suy
giảm kinh tế. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay gồm những hộ có mức
thu nhập bình quân từ 200.000 - 260.000đồng/người/tháng.
Đầu năm 2010, Nghị quyết 30a/2008/NQ – CP ban hành ngày 27/12/2008 của
Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện
nghèo đã được triển khai thực hiện thời gian qua, tất cả các ngành, các cấp đã vào cuộc
với tinh thần khẩn trương: Vừa tổ chức tuyên truyền, quán triệt các chính sách của Nhà
nước đến tận các làng xã và người dân được thụ hưởng, vừa tiến hành xây dựng các
chương trình hỗ trợ giảm nghèo cho từng huyện, vừa tranh thủ ứng vốn thực hiện ngay
những việc có thể làm được mà không chờ đến khi phê duyệt xong chương trình. Một
trong những nhiệm vụ Chính phủ đặt ra trong năm 2009 phải hoàn thành đó là: Cùng
với việc thực hiện một số chính sách mới theo Nghị quyết 30a, các địa phương phải tập
trung hoàn thành mục tiêu hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ –TTg
ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Với nguyên tắc: Người dân tự làm với sự
tham gia hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng; việc thanh, quyết toán phải đơn giản: cán
bộ xã, thôn xác nhận công trình đã hoàn thành và ký nhận phần vốn ngân sách cấp;
không phải đấu thầu xây dựng và kiểm tra hóa đơn chứng từ.
Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo
tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo
được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả
nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010.
1.2.4. Nguyên nhân gây ra nghèo đói
Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều các nhóm yếu tố, nhưng chung quy
lại thì có thể chia nguyên nhân nghèo đói của nước ta theo các nhóm sau:
a. Nhóm nguyên nhân từ bản thân người nghèo.
• Thiếu vốn sản xuất: theo các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân
chủ yếu nhất. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém,

1.2.5. Đặc tính của người nghèo ở Việt Nam.
Người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống khác hẳn so với
các khách hàng khác như:
• Người nghèo đa số là tập trung nhiều ở nông thôn, vùng miền núi cao,
cuộc sống còn nhiều khó khăn và làm nộng nghiệp là chủ yếu. Do đó, hộ thường sử
dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp hoặc các ngành nghề thủ công buốn bán nhỏ,
nên nhu cầu cầu vốn thường mang tính thời vụ.
• Người nghèo thường mang mặc cảm tự ti, họ ít giao tiếp và phạm vi giao
tiếp hẹp. Do đó mà bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh
doanh. Chính vì vậy, họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang
ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường. Cho nên sản xuất mang
tính tự cung tự cấp, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa và đối tượng sản xuất kinh
doanh thường thay đổi.
10
• Khoảng cách giữa nơi người nghèo sống và ngân hàng cũng gây ra trở
ngại lớn, nơi người nghèo sinh sống thường có điều kiện cơ sở hạ tầng yếu kém.
• Những truyền thống văn hóa, những phong tục tập quán cũng ít nhiều tác
động tới nhu cầu tín dụng của hộ nghèo.
1.2.6. Sự cần thiết phải hỗ trợ vốn cho hộ nghèo.
Nghèo đói là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và nó tồn tại ở
mọi quốc gia; đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát
điểm là nước nông nghiệp lạc hậu thì tình trạng nghèo đói càng không tránh khỏi.
Như vậy, hỗ trợ hộ nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói giảm nghèo sẽ
hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế. Hộ nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm
tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển. Vì vậy, quan điểm của chiến lược
phát triển xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và
công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh.
Vậy, hỗ trợ hộ nghèo là một điều cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ nguyên

• Nguyên tắc cho vay: cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn
để hoạt động sản xuất kinh doanh. Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác
định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hoặc do
địa phương công bố trong từng thời kỳ. Thực hiện cho vay có hoàn trả cả gốc và lãi
theo kỳ hạn đã thỏa thuận.
• Điều kiện: tùy theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, từng địa phương
khac nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế. Nhưng một điều
kiện cơ bản của tín dụng đối với hộ nghèo là: Khi được vay vốn không cần phải thế
chấp tài sản.
 Nguồn vốn tín dụng đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội.
Nguồn vốn tín dụng ưu đãi là nguồn vốn được động viên từ trong và ngoài nước để
cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phát triển sản xuất
kinh doanh dịch vụ, tạo việc làm, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc
gia về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
Nguồn tín dụng ưu đãi gồm:
- Nguồn từ ngân sách Nhà nước.
+ Vốn điều lệ.
+ Vốn cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và chính sách xã hội khác.
+ Ủy ban nhân dân các cấp được trích một phần từ nguồn tăng thu, tiết kiệm
chi ngân sách địa phương hàng năm để tăng nguồn vốn cho vay xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn.
+ Vốn ODA được Chính phủ giao.
- Vốn huy động:
+ Tiền gửi tự nguyện không lấy lãi của các tổ chức và cá nhân trong, ngoài nước.
+ Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các
giấy tờ có giá khác.
+ Huy động tiền gửi tiết kiệm trong các hộ nghèo.
- Vốn đi vay:
+ Vay của các tổ chức tài chính, trong nước và ngoài nước.
+ Vay Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay tiết kiệm Bưu điện.

nghèo có sức lao động, có điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh nhưng thiếu vốn,
khi vay phải có khả năng trả được vốn và lãi.
Vốn vay từ Ngân hàng phải được sử dụng đúng mục đích, mau sắm vật tư
thiết bị, giống cây trồng và vật nuôi, thanh toán các dịch vụ phục vụ việc sản xuất
kinh doanh, làm các ngành nghề thủ công, chi phí cho việc nuôi trồng đánh bắt thủy
hải sản, góp phần thực hiện các dự án hợp tác sản xuất kinh doanh được các cấp
thẩm quyền phê duyệt, giải quyết một phần nhu cầu tất yếu về nhà ở, công trình
nước sạch, điện thắp sáng, phục vụ học tập.
Việc lập danh sách hộ nghèo trên thực tế còn mang tính tương đối và có sự
khác nhau về chuẩn mực hộ nghèo ở từng địa phương. Nguyên nhân là do cộng
13
đồng dân cư địa phương tự thực hiện việc lập danh sách và còn phụ thuộc vào điều
kiện cụ thể của từng địa phương.
 Loại cho vay, thời hạn cho vay và mức cho vay.
Loại cho vay: gồm có cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn. Cho vay ngắn
hạn là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng, áp dụng cho các khoản vay vào việc
chăn nuối gia súc và gia cầm, trồng hoa màu, cây lương thực ngắn ngày có thời hạn
sinh trưởng dưới 12 tháng, chi phí cho việc kinh doanh dịch vụ nhỏ. Vay trung hạn
là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, áp dụng cho những khoản
vay được sử dụng vào việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, mua thiết bị máy
móc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh, phương tiện vận tải, nuôi trồng thủy hải
sản, chăn nuôi gia súc sinh sản, lấy lông, lấy sữa…
Thời hạn cho vay: bên cho vay là Ngân hàng chính sách xã hội và bên đi vay
là các hộ nghèo thỏa thuận về thời hạn cho vay căn cứ vào mục đích sử dụng vốn,
chu của việc sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của hộ đi vay.
Mức cho vay: được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, nguồn vốn tự có
và khả năng trả nợ của hộ vay, mỗi hộ vay có thể vay nhiều lần nhưng tỏng dư nợ
không được vượt quá dư nợ cho vay tối đa với một hộ nghèo được quy định theo
từng thời kỳ.
 Phương thức cho vay:

vay vốn.
- Bước 2: Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét hộ được vay và lập danh sách hộ
nghèo đề nghị vay vốn gửi lên Ban xóa đói giảm nghèo và Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Bước 3: Ban xóa đói giảm nghèo và Ủy ban nhân dân cấp xã duyệt và
chuyển danh sách lên ngân hàng.
- Bước 4: Ngân hàng xét duyệt và thông báo danh sách các hộ được vay,
lịch giải ngân, địa điểm giải ngân tới Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Bước 5: Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo kết quả phê duyệt của ngân
hàng đến tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn.
- Bước 6: Tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn thông báo cho hộ vay biết kết quả
phê duyệt của ngân hàng, thời gian,địa điểm giải ngân vốn đến các hộ được vay vốn.
- Bước 7: Ngân hàng cùng tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn giải ngấn đến
từng hộ gia đình được vay vốn.
• Cho vay gián tiếp
Là phương thức cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức tín dụng, tổ chức
chính trị- xã hội. Với phương thức cho vay này, vốn vay không được chuyển trực
tiếp từ ngân hàng đến người nghèo mà chuyển từ ngân hàng đến các tổ chức tín
dụng, tổ chức chính trị nhận ủy thác,và các tổ chức này có trách nhiệm chuyển giao
vốn tới tay các hộ nghèo. Các tổ chức chính trị- xã hội làm nhiệm vụ ủy thác cho
Ngân hàng chính sách xã hội có nhiệm vụ là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân,
thông qua tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Tổ tiết kiệm và vay vốn
tại cơ sở, có điều kiện trực tiếp làm dịch vụ ủy thác tín dụng đến khách hàng. Các tổ
chức chính trị- xã hội như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đã tận dụng được bộ máy của tổ chức này hàng
vạn người, tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý, tạo điều kiện lồng ghép có hiệu quả
chương trình tín dụng với các chương trình văn hóa, xã hội. Phương thức cho vay
qua ủy thác mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm là do:
Thứ nhất, các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị- xã hội có nhiều lợi thế hơn
so với Ngân hàng chính sách xã hội vì sẵn có mạng lưới hoạt động khắp các xã,
phường, thôn, bản….

sản xuất kinh doanh là chìa khóa để người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói. Do
không đáp ứng đủ nhu cầu vốn, nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn, làm không
đủ ăn, phải đi làm thuê, vay vốn với lãi suất cao, cầm cố ruộng đất mong đảm bảo
được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ rơi vào tình trạng nghèo đói
vẫn rất cao. Mặt khác, do thiếu kiến thức làm ăn nên các hộ nghèo chậm đổi mới
phương thức, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản
phẩm sản xuất ra kém hiệu quả. Thiếu kiến tức và kỹ thuật là một lực cản lớn nhất
hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ gia đình nghèo. Khi giải quyết được
vốn cho người nghèo có tác dụng hiệu quả thiết thực.
16
1.3.2.1. Nguồn vốn tín dụng cho hộ nghèo tạo động lực để người nghèo vượt
qua khó khăn.
Bản chất của những người nông dân là cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm. nhưng do
thiếu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, thiếu kiến thức. Do đó mà hệ lụy của
việc thiếu vốn là làm cho hộ nghèo có tâm lý chán nản không chăm chỉ sản xuất,
tăng gia làm cho cuộc sống trở nên khó khăn, nạn thất học gia tăng, trình độ dân trí
suy giảm.
Vì vậy, nguồn vốn đối với hộ nghèo là điều kiện tiên quyết, là động lực cổ
vũ hộ nghèo vượt qua khó khăn để họ thoát khỏi đói nghèo. Khi có vốn trong tay,
với bản chất cần cù chăm chỉ, với chính sức lao động của mình thì người nghèo sẽ
có điều kiện mua sắm vật tư, trang thiết bị, phân bón, giống cây trồng để phục vụ
sản xuất kinh doanh, thực hiện thâm canh tạo ra năng suất và sản phẩm của hàng
hóa cao hơn, qua đó làm tăng thu nhập và cải thiện được cuộc sống của hộ nghèo.
1.3.2.2. Giúp cho hộ nghèo không phải vay vốn với lãi suất cao, làm tăng
hiệu quả hoạt động kinh tế.
Điều kiện cuộc sống khó khăn, nếu hộ nghèo vay vốn để chi dùng cho sản
xuất hoặc duy trì cho cuộc sống của hộ với một lãi suất cao thì điều đó là quá sức
đối với các hộ nghèo. Chính vì vậy, nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội
cho các hộ nghèo vay với lãi suất thấp, nguồn vốn tín dụng đến tận tay người nghèo
làm cho họ yên tâm sản xuất, hàng tháng không phải lo lắng kiếm tiền để trả lãi. Do

qua các quy định về nghiệp vụ cụ thể như việc bình xét công khai những người
được vay vốn, việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo sự phối hợp chặt chẽ
giữa các tổ chức chính trị xã hội, cấp ủy chính quyền đã có tác dụng:
• Tăng cường được hiệu lực của cấp ủy chính quyền trong ban lãnh đạo, chỉ
đạo kinh tế ở địa phương.
• Tạo ra được sự gắn bó giữa các hội viên, đoàn viên trong tổ chức hội,
đoàn thể của mình thông qua việc hưỡng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh
nghiệm quản lý kinh tế, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn.
• Thông qua các tổ tương trợ tạo điều kiện để những người vay vốn có cùng
hoàn cảnh, nêu cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đoàn kết,
tạo niềm tin ở dân đơi với Đảng và Nhà nước.
• Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn,
an ninh, trật tự an toàn xã hội được thực hiện tốt, những mặt tiêu cực được hạn chế,
tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn.
1.4. Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo.
1.4.1. Khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo.
Hiệu quả tín dụng là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh
tế, chính trị xã hội và ta có thể hiểu hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là sự thỏa mãn
nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể là Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích
kinh tế mà xã hội thu được đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Về mặt kinh tế:
• Tín dụng hộ nghèo giúp cho người nghèo thoát khỏi nghèo đói sau một
quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo, cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập ở
trên chuẩn nghèo. Góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói, phục vụ cho sự phát triển và lưu
18
thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác các tiềm năng
trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối
quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
• Giúp cho người nghèo xác định rã trách nhiệm của mình trong quan hệ
vay mượn, khuyến khích người nghèo sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh

hộ nghèo được vay vốn trên tổng số hộ nghèo đói theo chuẩn nghèo mà Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội công bố.
Tỷ lệ hộ Tổng số hộ nghèo được vay vốn
nghèo được = x 100
19
vay vốn Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách
c. Số tiền vay bình quân một hộ:
Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho một hộ ngày càng tăng lên hay giảm
xuống, điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực tế của các hộ
nghèo hay không.
Số tiền cho vay Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo
bình quân =
một hộ Tổng số hộ còn dư nợ đến thời điểm báo cáo
d. Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói:
Là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với
hộ nghèo. Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu
người trong hộ cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong danh
sách hộ đói nghèo.
Tổng số hộ
nghèo đã thoát
khỏi ngưỡng
nghèo
=
Số hộ nghèo
trong danh
sách đầu kỳ
-
Số hộ
nghèo trong
danh sách

20
nghèo cũng trong danh sách được vay vốn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
tín dụng đối với hộ nghèo.
 Phương thức đầu tư chưa phong phú dẫn đến việc sử dụng vốn vay sai mục
đích, nguồn vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư vốn.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HUYỆN QUẢNG UYÊN- CHI NHÁNH TỈNH CAO BẰNG.
2.1. Tổng quan về phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện
Quảng Uyên – tỉnh Cao Bằng.
2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Quảng Uyên – tỉnh
Cao Bằng.
21
Quảng Uyên là một huyện miền núi nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Cao
Bằng, cách thị xã Cao Bằng 37km theo đường số 3. Phía Đông tiếp giáp với huyện
Hạ Lang và Trùng Khánh, phía nam giáp với huyện Phục Hòa có cửa khẩu quốc tế
Tà Lùng, phía Bắc giáp với huyện Trà Lĩnh, phía Tây giáp với huyện Thạch An. Do
Quảng Uyên là huyện miền núi nên điều kiện kinh tế khó khăn, giao thông chưa
được thuận tiện, cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi vừa
thiếu lại vừa xuống cấp nghiêm trọng, trong khi đó lại luôn bị ảnh hưởng bởi thiên,
dịch bệnh nên đến nay vẫn là huyện nghèo của tỉnh.
Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 250.1km
2
, với tổng dân số là
42.874 người trong đó hơn 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, đây cũng
chính là lực lượng đông đảo góp phần vào sự phát triển của địa phương.
Quảng Uyên với đặc trưng là đồi núi, tài nguyên đất phong phú,nguồn nước
tương đối dồi dào, khí hậu thuận lợi tạo điều kiện phát triển ngành nông nghiệp. Địa
hình đồi gò, núi cao, thung lũng xen kẽ, nên phù hợp trồng các loại cây công nghiệp
ngắn ngày, chất đất trong vùng thích hợp cho việc phát triển cây mía, cây lạc. Ngoài

đạt 440 ha với sản lượng 432 tấn.
• Lâm nghiệp: diện tích khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã giao khoán đến từng
hộ gia đình chăm sóc bảo vệ, công tác phòng chống cháy rừng đã được triển khai
kịp thời.
Mặc dù kinh tế địa phương đã bớt khó khăn, nhưng số hộ nghèo vẫn còn ở
mức cao. Nhu cầu vốn cho các hộ nghèo vẫn còn rất lớn, bởi các hộ nghèo muốn
thoát nghèo thì động lực chủ yếu là vốn sản xuất kinh doanh. Đây là một yêu cầu
đòi hỏi và đồng thời là gánh nặng của Ngân hàng chính sách xã hội nói riêng và
toàn huyện nói chung, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo của địa phương.
2.1.2. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng chính sách xã hội
Thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ – CP của Chính phủ và Quyết định số
131/2002/NĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng chính sách xã hội được
thành lập nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ
chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo. Đây là sự nỗ lực rất lớn của Chính phủ
Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Đến nay
Ngân hàng chính sách xã hội đã được tổ chức thành một hệ thống từ Trung ương
đến địa phương cấp xã. Toàn quốc hiện có 65 chi nhánh cấp tỉnh và sở giao dịch,
23

Trích đoạn Kết quả hoạt động tín dụng tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quảng uyên. Biện pháp trong việc xử lý các rủi ro tín dụng và sai sót của cán bộ trong Ngân hàng. Các giải pháp khác. Kiến nghị với cơ quan Nhà nước các cấp. Kiến nghị với Ngân hàng chính sách xã hội các cấp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status