NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)1
MỤC LỤC
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN Hoàng Trọng Cư
50 năm Ủy ban Khoa học Nhà nước
Nguyễn Văn Học
Liên kết nghiên cứu với giảng dạy: ý tưởng và thực tiễn
Lê Thành Ý
Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ
Nguyễn Nghĩa
Cơ hội và thách thức đối với đổi mới quản lý khoa học và công nghệ sau khi
nước ta gia nhập WTO
Nguyễn Mạnh Quân
Giả
i pháp chính sách phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học và công
nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế
Bạch Tân Sinh
Tác động của chuyển đổi chính sách KH&CN đến chuyển đổi việc tạo ra và sử
dụng tri thức tại viện NC&TK
Hoàng Ngọc Doanh
3. Le Thanh Y
Support for technology innovation in business firms
4. Nguyen Nghia
Opportunities and challenges for the innovation of science and technology
management in Vietnam after joining WTO
5. Nguyen Manh Quan
Policy solutions for increasing the role of science and technology
intelligentsia during the period of industrialization, modernization and
integration into the world economy
6. Bach Tan Sinh
The impacts of the transmission of science and technology policies on the
transmission of creation and utilization of knowledge at R&D institutions
7. Hoang Ngoc Doanh
Discussion on the amendment of Science and Technology Law in organizing
the implementation of science and technology tasks
INTERNATIONAL EXPERIENCE
8. Hoang Xuan Long
New trends of the linkages between research institutions and universities in
the world
9. Nguyen Thanh Thinh
Innovation oriented planning, science and technology programs in foreign
countries and implications for Vietnam
10. Nguyen Quang Tuan
Experiences of Ph.D education at the University of Toronto
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)4
Chinh kiêm chức Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Hội đồng Chính phủ cử
các thành viên của Uỷ ban Khoa học Nhà nước.
Uỷ ban Khoa học Nhà nước là tiền thân của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
(1965-1990), của Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1990-1992), của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường (1992-2002), của Bộ Khoa học và Công nghệ (2002 - đến nay).
Việc thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước ở thời đi
ểm lúc bấy giờ có ý nghĩa rất quan
trọng.
Uỷ ban Khoa học Nhà nước trở thành cơ quan giúp Chính phủ chủ trì xây dựng nền
Khoa học và công nghệ của đất nước, hoạch định chính sách phát triển khoa học và
công nghệ, đồng thời giúp Chính phủ điều hành mọi hoạt động khoa học và công nghệ
của Nhà nước.
1
Nguyên Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)5
Chính phủ sớm khẳng định vai trò và vị trí của phân hệ quản lý khoa học và công nghệ
trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước.
Uỷ ban Khoa học Nhà nước được thành lập vừa đáp ứng được nguyện vọng vừa động
viên và cổ vũ rất lớn đối với các tổ chức khoa học, các nhà khoa học trong mọi hoạt
động phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quố
c.
Trong giai đoạn ban đầu xây dựng một cơ quan đảm nhận chức năng quản lý nhà nước
về khoa học và công nghệ. Trung ương Đảng và Chính phủ đã dành sự quan tâm đặc
biệt cho Uỷ ban là đã lần lượt cử ba đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị giữ chức chủ nhiệm
Uỷ ban Khoa học Nhà nước: Đồng chí Trường Chinh (4/1958 - 7/1960), đồng chí Võ
1. Về công tác tham mưu khoa học và công nghệ
Trong quá trình hoạt động của mình, Ủy ban đã kiên trì xây dựng được hệ thống
cơ quan quả
n lý KH&CN và hệ thống này càng ngày càng làm sáng tỏ vai trò và vị trí
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)6
then chốt của KH&CN trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận cứ này đã
được ghi nhận trong Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 10
Khóa III và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, điều 37 Hiến pháp năm
1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ trước đến nay, Trung ương Đảng và Chính phủ đề
u giao cho Ủy ban trước đây nay
là Bộ chủ trì chuẩn bị các văn bản về KH&CN. Có thể tìm thấy trong văn ban này ví dụ
trong phần KH&CN trong các văn Kiện Đại hội Đảng; Nghị quyết 157 của Ban Bí thư
về tăng cường công tác KH&CN trong tình hình và nhiệm vụ mới, về công tác phục vụ
cách mạng kỹ thuật thời chiến, về công tác phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến
tranh; Nghị quyết 37 và 26 củ
a Bộ Chính trị về chính sách KH&CN v.v Các văn bản
này có tác dụng chỉ đạo và định hướng mọi hoạt động KH&CN đồng thời giúp các cấp
lãnh đạo ngày càng thấy rõ vai trò của KH&CN trong nhiệm vụ lãnh đạo của mình.
Thực tiễn của quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ở nước ta càng chứng minh
các luận cứ khoa học không thể thiếu được trong các quyết định của Đảng và Chính
phủ. Vì vậ
y, để hữu thành và triển khai nhiều công trình trọng điểm quốc gia, Ủy ban
và Bộ đã tổ chức dưới nhiều hình thức để huy động trí tuệ của các nhà khoa học tham
gia xây dựng luận cứ khoa học. Trên cơ sở đó, Ủy ban và Bộ đã tham gia chuẩn bị các
quyết định của Chính phủ với đầy đủ trách nhiệm của một cơ quan tham mưu về
7
khoa học. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý trong hoạt động KH&CN, Nghị định 35-
HĐBT tạo thêm thuận lợi cho các tổ chức khoa học chủ động tạo lập các nguồn vốn và
sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nhu cầu
thị trường.
Đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, mọi hoạt động KH&CN chị
u sự điều chỉnh
của các Luật: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu Trí tuệ, Luật Chuyển giao
Công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng và Sản phẩm
hàng hóa. Ngoài ra còn hình thành các quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ ở cấp
Quốc gia, cấp Bộ và Tỉnh, Thành phố cũng góp phần phong phú và đa dạng trong hoạt
động nhằm thúc đẩy nền KH&CN Việt Nam phát triển ph
ục vụ đắc lực cho phát triển
kinh tế và xã hội.
Cùng với thời gian hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành ở mỗi giai
đoạn lịch sử có giá trị thực tế điều chỉnh dần dần phù hợp với đặc điểm của hoạt động
KH&CN. Song, khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động KH&CN, đòi hỏi tính
pháp lý hết sứ
c chặt chẽ và đồng thời đáp ứng yêu cầu phù hợp với các thông lệ của
khu vực và quốc tế. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tiến hành nghiên cứu để xây dựng một
hệ thống pháp luật từ đạo luật cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và có
tính chất chung nhất của hoạt động KH&CN, đến các chế định pháp luậ
t đảm bảo cho
các luật nói trên phát huy tác dụng trong thực tế.
3. Về cơ cấu tổ chức
Ngoài chức năng quản lý Nhà nước về KH&CN, trong những năm đầu xây dựng cơ
quan, Chính phủ còn giao cho Ủy ban nhiệm vụ "Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên
cứu khoa học trực thuộc Ủy ban để tiến tới thành lập Viện Khoa học Việt Nam" - Thực
hiện chủ trương c
ủa Chính phủ, Ủy ban từng bước đề nghị Chính phủ cho tách dần các
triển nền KH&CN của đất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đất nước.
Việc hình dung đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của Bộ được Chính phủ giao là điều
quyết định mọi hoạt động của công tác quản lý KH&CN tầm vĩ mô. Trên cơ sở phương
hướng và chiến lược phát triển nền KH&CN Vi
ệt Nam ở mỗi giai đoạn, cần xác định
chính xác các nhiệm vụ trọng điểm và quyết định vốn đầu tư thích hợp.
Khối công tác quản lý liên ngành luôn luôn giữ vị trí chủ đạo trong nhiệm vụ của Bộ.
Vì vậy, việc tăng cường và mở rộng tổ chức của các Vụ này là điều quyết định sự thành
công của công tác quản lý của Bộ. Còn những tổ chức không thuộc nhiệm vụ quản lý
của Bộ cần sớm chuyển ra khỏi bộ máy tổ chức của Bộ để đảm bảo sự tập trung xây
dựng tổ chức quản lý theo xu hướng hiện đại.
Trong công tác quản lý KH&CN tầm vĩ mô, sự cần thiết phải tập hợp được trí tuệ của
các nhà khoa học thông qua các tổ chức hội đồng khoa học để làm tư v
ấn cho các quyết
định chuẩn xác của Bộ.
Ở giai đoạn nhập công nghệ là chính thì các nguồn thông tin giữ vị trí quan trọng cho
các quyết định. Trong phòng tư liệu thì kho ca-ta-lô được xem như nguồn cung cấp
thông tin quan trọng nhất cho việc lựa chọn các công nghệ nhập. Vì vậy, Bộ cần định
hướng rõ ràng cho việc xây dựng phòng tư liệu và đầu tư thích đáng để các quyết định
đảm bảo độ chính xác cao.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa I của nước VNDCCH, thông qua ngày 29/4/1958,
về việc thành lập UBKHNN. Công báo số 27/1958, trang 444.
2. Sắc lệnh số 016/SL ngày 4/3/1959 về việc thành lập UBKHNN. Công báo số 9/1959, trang 137.
3. Nghị định số 43/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKHNN, Công
báo số 13 ngày 18/4/1962, trang 189-190.
4. Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 165-NQ/TVQH ngày 11/10/1965 phê chuẩ
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)10
LIÊN KẾT NGHIÊN CỨU VỚI GIẢNG DẠY:
Ý NGHĨA VÀ THỰC TIỄN Nguyễn Văn Học
1Tóm tắt
Vấn đề liên kết Giáo dục - Đại học (GD-ĐH) với KH&CN được đặt ra một cách
nghiêm túc ở nước ta vào đầu những năm 90 sau khi có Nghị định số 35-HĐBT của
Hội đồng Bộ trưởng và sau đó là Quyết định 324 - CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng vào năm 1993. Vào những năm đầu thiên niên kỷ, Luật Khoa học và công
nghệ, Luật Giáo dục, Chi
ến lược phát triển KH&CN Việt nam đến năm 2010, Chiến
lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và các văn bản dưới luật khác đều tập trung
các công cụ chính sách để giải quyết vấn đề liên kết này. Tuy nhiên, cho đến nay,
mối quan hệ đó vẫn được xem là yếu kém cần được khắc phục. Câu hỏi đặt ra là
liệu các chính sách đưa ra đã đúng hay chưa và nguyên nhân gốc rễ của yếu kém
hiện nay là
ở đâu? Bài viết này nhằm góp phần trả lời cho vấn đề nêu trên.
1. Kết hợp giảng dạy với nghiên cứu đối với đội ngũ giáo viên
Tùy thuộc vào lĩnh vực khoa học, cách phối hợp giảng dạy với nghiên cứu sẽ khác
nhau. Đơn giản là vì mỗi lĩnh vực khoa học có đặc thù riêng. Chẳng hạn, với khoa
học tự nhiên và khoa học xã hội, nhu cầu “cơ sở hạ tầ
ng” cho việc nghiên cứu là
hoạch giảng dạy, bao gồm các trình, các giáo án, ôn tập, thảo luận, kiến tập, thực
hành, thí nghiệm v.v Trình duyệt kế hoạch trên và sẵ
n sàng cho việc giảng bài vì
thông thường những giáo viên soạn giáo trình thường được giao nhiệm vụ giảng bài.
Trên thực tế, giảng bài không thuần túy là truyền đạt kiến thức mà còn cần phải giải
quyết các vấn đề lý luận và phương pháp luận sư phạm. Người giảng viên, trước
tiên phải là nhà sư phạm có kỹ năng tương tác với giảng đường, trình bày khúc triết
bài giảng, liên kết các phần khác nhau của các trình sao cho sinh viên tiếp thu tố
i đa
kiến thức một cách hệ thống.
Câu hỏi đặt ra là, liệu có thể giao ngần ấy công việc và kỹ năng cho một nghiên cứu
viên của viện nghiên cứu tương ứng nào đó được không, nhất là một khi anh ta chỉ
chuyên tâm cho công việc nghiên cứu của mình. Câu trả lời có lẽ đã rõ ràng cho
mọi người.
Tuy nhiên, cũng không thể không nói đến những nhà khoa học có tài năng sư phạm
bẩm sinh. Ví dụ, Richard Faiman - nhà vậ
t lý học (đã được giải thưởng Nobel) đã
soạn và giảng một giáo trình vật lý nổi tiếng. Giáo trình này được in bằng nhiều thứ
tiếng khác nhau. Mặc dù vậy, sự nổi tiếng ấy cũng chỉ nói lên một điều là: đó là
trường hợp hiếm gặp, riêng có mà thôi. Chính vì vậy, tại nhiều trường đại học,
giảng viên cho những năm đầu thường là các giảng viên chuyên giảng dạy.
Đi
ều đáng buồn là ở chỗ, các giáo trình cố định ấy thường mang tính bảo thủ cao,
năm này sang năm khác hầu như không thay đổi. Kết quả là, sinh viên những năm
đầu - vốn muốn được biết điều mới lạ lại phải tiếp thu những điều không sát với
thực tế đổi mới của khoa học hiện đại.
Rõ ràng là, muốn có một giáo trình tốt, người soạn ph
ải có tri thức khoa học tương
hợp với thực tế phát triển của lĩnh vực khoa học hiện tại. Giáo trình hiện đại phải là
giáo trình có hơi thở của thành tựu khoa học hiện đại. Liệu một giảng viên chuyên
Thực tế cho thấy, chức phận của nghiên cứu viên thật không ít hơn chút nào so với
một giảng viên. Nếu như giảng viên phải lên kế hoạch giảng dạy thì nghiên cứu
viên cũng phải có kế hoạch nghiên cứu: thiế
t bị và mua sắm thiết bị khoa học, lắp
đặt, thử nghiệm, làm việc trên thiết bị khoa học, chuẩn bị các đơn đặt hàng, yêu cầu
phối hợp, viết báo cáo, viết báo, hội thảo khoa học, đào tạo hướng nghiệp, hướng
dẫn nghiên cứu sinh v.v Chưa kể đến những chuyện riêng tư điều mà trong mỗi
người chúng ta đều có. Vấn đề là ở chỗ, liệu ta có thể
“gắn” thêm một vài chức
phận giảng dạy vào tổ hợp công việc của anh ta không? Về nguyên tắc có thể được
trong trường hợp anh ta cảm thấy điều đó là cần thiết. Trách nhiệm của các nhà
hoạch định chính sách là đưa ra công cụ chính sách làm cho các nhà khoa học luôn
thấy đó là cần thiết xét theo khía cạnh quy trình nghiên cứu cũng như các lợi ích mà
anh ta nhận được nếu kết hợp công tác nghiên cứu với giảng dạ
y. Đi trước một
bước, cần nhấn mạnh rằng, các công cụ “bắt buộc” đều không dẫn đến các kết quả
mong đợi trong vấn đề này.
Bài học rút ra là: nếu một người có quá nhiều chức phận thì thời gian dành cho việc
thực hiện chúng sẽ luôn được phân bố ngay cả khi chúng ta giao thêm chức phận
thuộc ưu tiên cần thiết của anh ta. Trong trường hợp nghiên cứu viên, các chức phận
bổ sung có th
ể là: giảng một số trình trong trường đại học (chính thức hoặc tự
nguyện), thuyết trình trong các hội thảo, biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tham
gia xây dựng các bộ môn đào tạo tại các cơ sở nghiên cứu, tham gia các hội đồng
tham vấn v.v
Khi xây dựng các biện pháp thúc đẩy liên kết nghiên cứu với giảng dạy, không thể
không xem xét sức ép giảng dạy của giảng viên. Đây là vấn đề quan trọng trong tổ
chức hoạt
động liên kết.
Thứ nhất, sức ép giảng dạy của giáo viên. Như đã nói mục 1 trên đây, chức phận
ước có nền giáo dục tiên tiến,
người ta áp dụng các trình mô - đun gồm 3-4 tiết giảng. Trình học kiểu này có nhiều
ưu việt so với cách tiếp cận cũ: đáp ứng nhu cầu đổi mới nhanh chương trình giảng
dạy; cho phép tổ chức quá trình giảng dạy theo đó giảng viên truyền đạt những gì
biết rõ nhất; cho phép nhanh chóng đưa vào bài giảng những gì mới nhất trong lĩnh
vực khoa học tương ứng; cuối cùng, cho phép mời các chuyên gia bên ngoài (viện
nghiên cứu) xây dựng trình và giảng bài theo trình đ
ã xây dựng.
Đề mục của trình mô - đun có thể mở và rộng hơn nhiều so với trình trong kế hoạch
giảng dạy. Điều này giúp cho việc lựa chọn các trình học tự nguyện đồng thời cũng
tạo điều kiện để các nhà khoa học tham gia vào quá trình giảng dạy theo cách đổi
mới.
3. Một số giải pháp
3.1. Phương án tối đa: xây dựng hệ thống giáo dục theo quan điể
m của chính sách
đổi mới (viết gọn giáo dục đổi mới).
Giáo dục đổi mới là vấn đề phức tạp gắn liền với chính sách đổi mới và hệ thống
đổi mới quốc gia. Trong bài viết này không thể trình bày hết các ý tưởng cụ thể, vì
vậy sẽ có một nghiên cứu riêng cho phương án này. Tuy nhiên, cũng cần trình bày
ngắn gọn về phương án này.
Giáo dục đổi mới là hệ thống giáo dục m
ới có mục tiêu hình thành và phát triển
năng lực đổi mới với nghĩa là tìm ra các giải pháp hành động trong môi trường cạnh
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)14
tranh luôn thay đổi và văn hóa đổi mới của đất nước. Đơn giản là vì đổi mới không
thuần túy là hiện tượng kỹ thuật mà là hiện tượng xã hội.
dạy tối ưu nhất mà các nước tiên tiến đã và đang áp dụng, theo đó sinh viên có 50%
thời gian để tự học, thầy giáo có 50%
để dành cho công tác nghiên cứu.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta, vấn đề kiểm soát học sinh trong thời gian tự
học tập là rất khó khăn xét theo khía cạnh chủ quan và khách quan như đã phân tích
trên đây. Ngoài việc giao bài cho học sinh đọc, thu hoạch, thảo luận, tự đánh giá
cho điểm, tại các nước trên, người ta còn thu hút sinh viên vào nghiên cứu khoa học
và đưa ra các giải có giá trị để khuyến khích, tuyển trọn các công trình này.
Giảm giờ dạy và học sẽ
kéo theo việc soạn lại giáo trình, tập trung hóa cao độ đến
đối tượng môn học: học những gì sau này cần, không thể “ôm hết những gì không
thể ôm được”.
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)15
b) Cơ chế khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu và nghiên cứu viên tham
gia giảng dạy
Trước hết, cần dành một khoản kinh phí từ ngân sách cho các trường tổ chức
nghiên cứu. Kinh nghiệm các nước chuyển đổi cho thấy, việc này được tổ chức
dưới dạng mô chương trình mục tiêu nhằm:
• Phát triển các nghiên cứu cơ bản trong trường và các viện trực thuộc (nhất là
các viện chuyên nghiên cứu lý thuyết);
• Đả
m bảo giao lưu, tương tác giữa các trường và viện thông qua việc thỉnh giảng
hoặc kết hợp nghiên cứu, các đội điều tra, khảo sát phối hợp nghiên cứu viên
của viện, giảng viên và sinh viên v.v
• Xây dựng các cơ sở thí nghiệm dùng chung cho thầy, trò, nghiên cứu viên của
viện, nghiên cứu sinh và những người có nhu cầu khác.
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. L. Nhekhoroxeva. Xây dựng hệ thống đa lớp đào tạo chuyên gia cho hoạt động đổi
mới : vấn đề và phương thức giải quyết. Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo quốc tế
lần thứ X về “Các vấn đề và triển vọng phát triển kinh tế theo hướng đổi mới”, Kiep -
Moskva - Simpheropol, 2006.
2. I.I. Ignatov. Hỗ trợ phát triển các tập thể nghiên cứu-giảng dạy tại các trường
đạị học
Hoa kỳ, Almanax Khoa hoc - Đổi mới - Đào tạo 2007, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Chính
trị và Pháp luật trong lĩnh vực KHKT, Liên bang Nga.
3. V.V. Borixov. Liên kết đào tạo với khoa học, triết lý và phương thức thực hiện.
Almanax Khoa hoc - Đổi mới - Đào tạo 2007, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Chính trị và
Pháp luật trong lĩnh vực KHKT, Liên bang Nga.
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)17
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Lê Thành Ý
1
Tóm tắt
Đổi mới công nghệ doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong thực hiện những
Trên một thế kỷ trước đây, khi phân tích khái niệm kinh tế xã hội (KT-XH), Các
Mác đã từng dự báo, đến một lúc nào đó, khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Ngày nay, với sự ra đời của nền kinh tế tri thức, đi
ều tiên đoán của Mác đã
trở thành hiện thực và sự thay đổi của nền kinh tế tri thức đang tạo ra bước ngoặt
trong lịch sử nhân loại. Nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế được dẫn dắt
bởi tri thức và công nghệ cao, gắn với hệ thống kỹ thuật hiện đại, có cấu trúc không
1
TS, nguyên nghiên cứu viên chính của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)18
gian toàn cầu với tỷ trọng sản phẩm tri thức (cốt vật chất) chiếm trên 50% trong cơ
cấu GDP. Với nội hàm của kinh tế tri thức, công nghệ và trí tuệ con người sẽ là lực
lượng sản xuất hàng đầu, có vai trò quyết định; đó chính là lợi thế quan trọng của
thời đại.
Thành công trong nỗ lực công nghiệp hóa nhanh ở các quốc gia Đông Á là biết tận
dụng lợi thế củ
a nước đi sau để vượt qua logic "tuần tự" về bước đi để thể hiện sự
"nhảy vọt về cơ cấu". Việc rút ngắn thời gian CNH theo những bước chuyển tuần tự
là cách làm phổ biến, còn "nhảy vọt cơ cấu" chỉ diễn ra khi có sự chuyển hóa công
nghệ lớn, từ thời đại công nghệ này sang thời đại công nghệ khác. Thế giới ngày
nay đang chuy
ển từ cơ khí, điện tử sang công nghệ cao, mở ra cơ hội chưa từng có
cho những nền kinh tế đi sau để thực hiện những bước "nhảy vọt" trong thu hẹp
khoảng cách phát triển. Cơ hội này chỉ có thể thực hiện thành công khi tiềm lực của
mỗi quốc gia với chủ thể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có đủ năng lực
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)19
Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII (tháng 2 năm 1996) đã ra Nghị quyết
về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH. Đối với
phát triển công nghệ, nghị quyết chỉ ra "Lấy ứng dụng chuyển giao công nghệ là
chính, tạo khả năng lựa chọn, thích nghi và làm chủ công nghệ nhập, đi thẳng vào
công nghệ tiên tiến nhất, trước hết ở những ngành, những l
ĩnh vực có tác động chi
phối nến kinh tế quốc dân, những ngành có giá trị gia tăng cao, ngành công nghiệp
mới xây dựng, ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Đồng thời, đổi mới
công nghệ từng phần, hiện đại hóa từng khâu đối với những lĩnh vực còn cơ sở vật
chất - kỹ thuật và sản xuất còn hiệu quả". Trên lĩnh vự
c công nghệ cao nghị quyết
xác định "Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ cao như công nghệ
thông tin, công nghệ sinh hoc, công nghệ vật liệu mới làm nhanh chóng hiện đại
hóa công nghệ trong các ngành kinh tế quốc dân và tạo ra các ngành công nghiệp
mũi nhọn có giá trị gia tăng cao ". Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
KH&CN, Nghị quyết đã đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm tạo lập thị tr
ường
cho KH&CN; chính sách đổi mới với cán bộ KH&CN; tăng cường đầu tư cho phát
triển KH&CN từ nhiều nguồn, xã hội hóa hoạt động KH&CN; tăng cường kiểm
soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm; tăng cường hợp tác quốc tế; đổi
mới tổ chức quản lý hoạt động KH&CN và tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ
cập kiến thức KH&CN. Nét nổi bật c
ủa những giải pháp là hướng vào ưu tiên cho
đổi mới công nghệ doanh nghiệp, gắn hoạt động nghiên cứu đào tạo với sản xuất
kinh doanh, tư vấn và chuyển giao công nghệ.
3. Một số kết quả nổi bật trong hoạt động đổi mới công ngh
ệ doanh nghiệp
Phân tích xu thế đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam, viện Nghiên
cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, việc hiện đại hóa dây truyền
công nghệ doanh nghiệp đã có những chuyển biến đáng kể; nếu những năm 1970, tỷ
lệ hiện đại hóa công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước ở mức 8,6% thì sau
những năm 1990 đạt được 60%, còn tại những doanh nghiệp tư nhân t
ỷ lệ đã lên
46,5%. Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế thể hiện ở bảng 1
Bảng 1. Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ trong doanh nghiệp (%)
Thời gian
Loại doanh nghiệp
Thập niên
1970
Thập niên
1980
Thập niên
1990
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp có vốn đầu tư NN
8,6
9,3
13,6
42
48,8
12,6
60
nước ngoài, tiếp đó là doanh nghiệp nhà nước khu vực doanh nghiệp tư nhân có
mức độ thấp nhất.
Những năm gần đây, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò
quan trọng trong chuyển giao công nghệ và kỹ nă
ng quản lý, đã tạo sức ép thúc đẩy
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)21
doanh nghiệp trong nước phải ứng dụng tiến bộ công nghệ. Vào năm 2002, trong
khoảng 200 nghìn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện, gần 90% là của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Tuần tin KT-XH số 7 ngày 10 tháng 6 năm
2008 TT Thông tin & Dự báo KT-XH Quốc gia trang 14). Những khảo sát thực hiện
tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy, nhu cầu công nghệ và chuyển giao công
nghệ diễn ra chủ yếu ở khố
i doanh nghiệp liên doanh hoặc có vốn đầu tư nước
ngoài. Trong khi các doanh nghiệp quốc doanh chỉ đầu tư với mức bình quân
khoảng 10 triệu USD hàng năm thì liên doanh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đầu tư bình quân từ 150 đến 200 triệu USD, thậm chí đến 1.200 triệu
USD/năm với những hình thức chuyển giao chủ yếu là công ty mẹ ở nước ngoài
giao cho các công ty con (Tài liệu đã dẫn). Với mức chuyển hóa nhanh công nghệ
từ nước ngoài, nhìn chung trình độ quản lý và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong nước đã ngày một chuyển biến, nâng cao.
Những tư liệu công bố cho thấy, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài liên tục gia tăng, đã từ 21 vạn người năm 1995 lên 37,9 vạn năm
2000, tăng gấp 2,5 lần và cuối năm 2007 đã lên chừng 1,13 triệu người (Tài liệu đã
dẫn
). Lực lượng lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp được tiếp cận với công
độ hỗ trợ của nhà nước cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ được thực
hiện ở bảng số 3
Bảng 3. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP
Năm Số đề
nghị
Số được
hỗ trợ
Tỷ lệ hỗ
trợ %
Kinh phí
hỗ trợ(tr.đ)
Kinh phí
thực
hiện(tr.đ)
Tỷ lệ hỗ
trợ%
DN nhà
nước%
DN
nước
ngoài%
2002 66 12 18,2 8.880 79.953 11,1 58,3 41,7
2003 65 26 40 25.640 311.143 8,2 61,5 38,5
2004 114 21 18,4 17.450 91.776 19,0 71,4 28,6
2005 75 21 28 21.200 117.861 18 66,7 33,3
2006 81 14 17,3 18.213 149.000 12,2 35,7 64,3
2007 83 17 20,5 14.436 65.912 29 17,7 82,3
Tổng 484 111 22,9 105.819 815.645 13 54,1 45,9
Từ trái sang cột 4 là tỷ lệ đề nghị được hỗ trợ, còn cột 7 là tỷ lệ kinh phí hỗ trợ thực
hiện)
tiêu chuẩn hóa, tạo ra những khác biệt để nâng cao thương hiệu ngành hàng, uy tín
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Số 15 (12/2008)23
công ty ( bằng tiến bộ KH&CN) đã làm rõ vai trò mở đường của cơ chế và chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Tại hội nghị sơ kết việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ tiến hành gần đây,
hầu hết ý kiến đều cho rằng, thực hiện Nghị định 119 đã góp phần nâng cao nhận
thức doanh nghiệp về vai trò KH&CN trong sản xuất kinh doanh,
đây là biện pháp
"kích cầu" để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nâng cao trình độ công nghệ. Thực thi
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh
tế. Từ thành công đạt được, nhiều doanh nghiệp đã tự tin hơn để sẵn sàng tiếp tục
các chương trình dự án để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh (Bộ
KH&CN 2008)
4. Những hạn chế trong hỗ
trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ
Quá trình đổi mới công nghệ nước ta đã làm mức độ hiện đại, tính chất đồng bộ
trong các dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp chuyển hóa tích cực. Đổi
mới công nghệ doanh nghiệp đã góp phần thay đổi bộ mặt nền kinh tế với mức tăng
trưởng ngày một cao và cơ cấu kinh tế đã thay đổi theo hướng CNH, HĐH. Tuy
nhiên, cùng với làn sóng đầu tư nước ngoài gia tăng, năng lực quản lý điều hành
giới hạn năng lực công nghệ bất cập đã đặt doanh nghiệp nội địa trước nhiều thách
thức, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn của nhà nước để nâng cao năng lực trong quá
trình hội nhập.
Trong cạnh tranh phát triển, mục đích của các nhà đầu tư và hoạt động doanh
nghiệp đều hướng theo lợi nhuận. Những ngành, lĩnh vực có tỷ trọng sinh lời cao
thường thu hút được nhiều vốn đầu tư. Ở nước ta, đầu tư nước ngoài tập trung chủ
dân cư gần cụm công nghiệp.
Đồng hành với xu thế củ
a nhà đầu tư nước ngoài, việc thu hút đầu tư nước ngoài
diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh, thành và trong từng lĩnh vực kinh tế. Khuynh
hướng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến thực thi chính sách đổi mới công nghệ
doanh nghiệp. Trên 20 năm qua, đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có xu hướng tập
trung vào một số tỉnh, thành phố lớn. Trong khi 10 đơn vị dẫn đầu đã thâu tóm trên
80% số dự án vớ
i 82,1% tổng vốn đăng ký và 82,7% vốn thực hiện thì ở 10 tỉnh,
thành thuộc nhóm cuối bảng, số dự án chỉ có 0,44%, vốn đăng ký chiếm 0,16% và
chừng 0,27% tổng vốn thực hiện (Tuần tin KT-XH số 7 ngày 10 tháng 6 năm 2008
của Trung tâm Thông tin&Dự báo KT-XH Quốc gia). Cùng với phân hóa thu hút
đầu tư nước ngoài, mức độ biến động của doanh nghiệp dân doanh (đó là khu vực
ngươi dân kinh doanh ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài) cũng khá khác nhau.
Trong giai đoạn 2005-2006 tốp 10 tỉnh dẫn đầu thu hút FĐI có mức tăng doanh
nghiệp dân doanh từ 46,6% đến 60,2%, thì ở 10 tỉnh cuối bảng, số lượng doanh
nghiệp dân doanh lại giảm từ 6,8% xuống còn 4,7% so với tổng số doanh nghiệp
dân doanh cả nước. Nhiều địa phương thu hút FĐI thấp đã rơi vào vòng "luẩn quẩn"
đầu tư phát triển thấp, nguồn lực địa phương hạn chế, không phát triể
n được hạ tầng,
lại càng khó có thể hỗ trợ được doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Đây đang là bài
toán khó giải cần có sự hỗ trợ cụ thể từ tầm chính sách quốc gia.
Nhìn nhận vai trò Nhà nước trong đổi mới công nghệ doanh nghiệp, các nhà nghiên
cứu cho rằng, trong nhiều hoạt động, Nhà nước không nên chỉ quan tâm đến khuôn
khổ luật pháp, mà còn cần có những hỗ trợ cụ thể về tài chính. Công nghệ
thay thế ở
các doanh nghiệp cần đươc đánh giá cả về kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Do thiếu
thông tin thị trường công nghệ, doanh nghiệp vấp phải nhiều khó khăn, lúng túng
trong lựa chọn phương án công nghệ tối ưu và thủ tục để chuyển giao công nghệ.
Trên thực tế, các cơ quan thông tin công nghệ nhà nước thường làm nhiệm vụ thu
phổ biến chưa sâu, rộng và ở khía cạnh khác, trong cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp và tổ chức thực hiện cũng còn nhiều việc cần bàn để có giải pháp thúc đẩy
mạnh mẽ hơn.
Phân tích tình hình thực hiện Nghị định 119, các nhà nghiên cứu có chung nhận xét,
kể t
ừ năm 2003 đến nay, mức độ đề xuất, số nhiệm vụ được hỗ trợ và tổng kinh phí
được hỗ trợ có xu thế giảm dần. Điều quan ngại là, Nghị định 119 mở ra khả năng
cấp kinh phí hỗ trợ đến 30% tổng chi phí thực hiện, song tổng mức hỗ trợ thời gian
qua mới đạt 13%. Một giới hạn khác là Nghị định 119 chưa có sự hưở
ng ứng từ
phía các doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế hoặc tổng công ty. Có thể vì giới hạn
này nên trong hỗ trợ doanh nghiệp chưa tạo được chuyển biến cơ bản về trình độ
công nghệ của các ngành hay lĩnh vực lớn. Hầu hết những đề xuất chủ yếu là từ
phía những doanh nghiệp có vốn pháp định nhỏ, khó đáp ứng được vốn đối ứng t
ự
có nên chỉ nhận được sự hỗ trợ không nhiều. Kết quả nghiên cứu đổi mới thường
chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, ít có ý nghĩa lâu dài trong chiến lược kinh doanh
doanh nghiệp.
5. Vấn đề đặt ra nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ
Muốn đổi mới công nghệ doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi
hàng đầu. Nhân lực KH&CN trong đổ
i mới công nghệ nước ta đang là một rào cản
lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. So với các nước công nghiệp
mới trong khu vực, tỷ lệ lao động được đào tạo ở Việt Nam chỉ bằng 1/3. Tính đến
năm 2007, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt khoảng 23%. Trong số này, những
người được đào tạo dài hạn chiếm khoảng 25%. S
ự thiên lệch trong đào tạo, nặng lý
thuyết, yếu về kỹ năng phân tích thực tiễn và thiếu sự tham vấn của các ngành kinh
tế đã buộc các nhà tuyển dụng phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung đang là hạn chế
gắn đào tạo với sản xuất và thị trường lao động. Thực tế diễn ra cùng với mức giới