sáng kiến kinh nghiệm dạy các tính từ so sánh lớp 6 dạng tính từ ngắn có quy tắc - Pdf 24

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
CỦA MAI SỸ
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Dạy các tính từ so sánh lớp 6 - Dạng tính từ ngắn có quy tắc.”
BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
A.Đặt vấn đề.
B. Nội dung nghiên cứu.
I. Mục tiêu chung.
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
1.Khái niệm về tính từ ngắn.
2.Cấu tạo của tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc.
3.Sử dụng các tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc trong câu.
4. Một số bài tập ngữ pháp áp dụng cho các tính từ so sánh- Dạng
ngắn, có quy tắc.
III. Kết quả.
IV. Những hạn chế của đề tài.
V. Bài học kinh nghiệm và những điều kiện để áp dụng đề tài.
C. Kết luận và kiến nghị.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
Ngày nay, việc dạy và học học tiếng Anh theo phương pháp mới, phương pháp
tích cực được thực hiện triệt để trong mọi môi trường giáo dục. Có thể nói tiếng Anh
là môn học đi đầu trong việc đổi mới phương pháp.Với mục đích là giúp cho người
học có được kĩ năng giao tiếp tốt nhất và cũng để cho kết quả của các kì thi được cao
hơn. Nhưng muốn làm được điều đó thì người học phải có được kiến thức ngôn ngữ
phong phú, vững vàng, chỉ có vậy họ mơi tự tin sử dụng ngôn ngữ mình đang có. Ví
như họ muốn miêu tả đặc điểm của nhiều người với nhau, miêu tả nhiều vật có những
đặc điểm khác nhau: Về hình thức, khối lượng, trọng lượng và màu sắc thậm chí cả
đặc điểm về thời gian,về khoảng cách vậy làm thế nào để người học làm tốt được
điều này, có lẽ đây cũng chính là điều tôi trăn trở, rút kinh nghiệm qua nhiều năm

2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
loại tính từ so sánh có quy tắc, chưa sử dụng chúng trong giao tiếp cũng như trong các
bài tập ngữ pháp tương ứng. Kể cả các em học tốt cũng không mấy tự tin khi sử dụng
những tính từ này.
2. Thu thập tài liệu:
Việc thu thập tài liệu cũng là một vấn đề rất quan trọng nó liên quan đến nhiều
bước trong quá trình dạy học, đó chính là các tư liệu liên quan đến các tính từ ngắn có
quy tắc như các tranh ảnh minh hoạ, vật thật và các rư liệu ngữ pháp khác, thậm chí
phải tập vẽ để sử dụng cho một số thao tác nhanh trên lớp, chon lập danh sách những
học sinh có những hình dạng, kích thước phù hợp với bài dạy
3. Quan sát: Qua dự giờ thăm lớp tôi thấy rằng, nhiều đồng nghiệp chưa giúp h/s
hiểu rõ các tính từ so sánh, đăc biệt sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp
cũng như trong các dạng bài tập áp dụng.
Từ xuất phát và những căn cứ trên, tôi quyết định chon sáng kiến "Dạy các tính từ so
sánh dạng ngắn, có quy tắc".
B. NỘI DUNG.
I. MỤC TIÊU CHUNG.
Đề cập đến sáng kiến này, tôi chỉ có mục đích duy nhất là nâng cao chất lượng
bài học về các tính từ so sánh dạng ngắn, có quy tắc. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu
trên, qua bài học h/s phải hiểu rõ thế nào là tính từ ngắn có quy tắc, cấu tạo, cách
dùng và một số baì tập ngữ pháp áp dụng tương ứng.
Nói đến tính từ so sánh là nói đến một loại hình có sự kết hợp từ vựng và ngữ
pháp, bởi nó cũng là một mảng ngữ pháp lớn trong các tài liệu ngữ pháp.,và được
nhắc đến không chỉ ở sách giáo khoa lớp 6 mà còn có cả trong chương trình sách lớp
7,8; nhưng nó có tính nâng cao và mở rộng hơn, lượng bài tập áp dụng đa dạng và
phong phú hơn.Chính vì vậy trong các hoạt động học tập học sinh cần phải giúp các
em phân biệt rõ các loại tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc; đồng thời h/s cũng
phải nắm được mẫu câu căn bản của loại hình này và vận dụng chúng một cách hợp lí
vào các tình huống giao tiếp cũng như một số dạng bài tập ngữ pháp tiêu biểu.

dắt cho các hoạt động tiếp theo.
2/Cấu tạo các tính từ so sánh - Dạng ngắn, có quy .
- Mục tiêu cần đạt của phần này là học sinh phải phân biệt được cấu tạo của các
tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc, tương ứng với bốn quy tắc của nó, đồng thời
luyện tập nó như những từ vựng thông thường.
Adjectives
tall
easy
happy
good
4
small
expensive
cold
big
late
hot
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
- Học sinh cũng nắm được hai loại so sánh của tính từ nói chung và tính từ
dạng ngắn có quy tắc nói riêng. Đó là : Các tính từ so sánh hơn và các tính từ so sánh
hơn nhất.
- Kĩ thuật được sử dụng chủ ở đây là trực quan sinh động, phương tiện được
dùng là những bức tranh vẽ cây cối hoặc các động vật có đặc điểm kích thước, trong
lượng khác nhau, một số loại quả có hình thức to nhỏ khác nhau, thậm chí tôi còn
phải vẽ thêm một số hình phác hoạ đơn giản mà không kiếm được phương tiện trực
quan bên ngoài, thêm vào đó tôi còn phải sắp xếp, chọn một số em h/s có hình dạng
béo gầy, cao thấp khác nhau, cho các em ngồi gần một chỗ để tiện cho việc luyện tập,
mục đích là để các em quan sát đặc điểm một cách rõ nét, Ngoài ra tôi đã dùng các thẻ
từ cho các tính từ trừu tượng( Ví dụ như tính từ: large, long, cold, hot ). Mục đích
của việc sử dụng phong phú loại hình trực quan như vậy là vì tôi muốn tạo màu sắc,

ấy. Thông qua việc nghe các mẫu câu gợi mở, dẫn dăt của tôi các em phần nào hiểu
được cách dùng của chúng.
Small : Với tính từ này, tôi đưa ra ba quả cam có độ lớn nhỏ khác nhau và
đưa quả cam có kích thước lớn nhất lên trước lớp và nói" This orange is small" và đưa
ra quả cam có kích thước trung bình và nói" This is smaller" khi đó h/s sẽ thấy ngay
phần tiếng việt của "smaller"(nhỏ hơn) tương tự với từ "smallest" được nói với quả
cam nhỏ nhất. Tôi cũng đã sử dụng một số h/s để các em luyện tập từ này, cách làm
tương tự với các dạng của từ "tall" nói trên, nhưng ở đây tôi không nói hết câu mà để
các em tự nói ra các tính từ phù hợp: Eg. Nam is , Lam is , Cường is
the
Hot : Với từ này, tôi đã dùng ba thẻ từ có tên ba thành phố, đại diện cho ba
miền khí hậu: Hà nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh sau đó ra đưa ra thẻ mang tên
"Hà nội" để nói " Hà Nội is hot" , tiếp tục đưa ra thẻ về "Huế" và nói là " Huế is
hotter", tương tự tôi đã làm với từ " hottest" với thẻ còn lại. Tất nhiên qua hiểu biết,
các em cũng dễ dàng nhận ra nghĩa của hai từ so sánh này.
Large : Với từ này, tôi đã vẽ ba thửa ruộng hình vuông có diện tích khác nhau
lên bảng, ghi rõ số liệu về diện tích( Tượng chưng: 1000 m2(A), 2000 m2(B), 3000
m2(C)) vào đó và chỉ vào hình vuông có số liệu nhỏ nhất nói"It is large" và hình có
diện tích nhỏ hơn tôi nói" It is larger" tiếp với từ "largest".
wide : Với từ này, tôi sử dụng ba vật thật trong lớp học : Bàn học sinh , Bàn
giáo viên, bảng . ( Tôi đã quan sát thấy ba vật này có diện tích bề mặt khác nhau,
trong đó Bàn học sinh hẹp nhất và Bảng rộng nhất). Tôi chỉ vào Bàn học sinh nói
"This table is wide" và chỉ vào Bàn giáo viên nói"This is wider" , còn chỉ vào Bảng
nói "This is the widest". Tất nhiên khi chỉ vào các đồ vật này, tôi đã thẻ hiện để các
em hiểu là tôi đang muốn chúng miêu tả bề mặt của các đồ vật đó. Và bằng cách đó
học sinh dễ dàng nhận ra phần tiếng việt của hai từ so sánh này.
Big : Với từ này, tôi phóng to ba bức tranh trong sách để dạy. Tôi đã chỉ
vào bức tranh có khách sạn nhỏ nhất nói" This hotel is big", bức tranh có khách sạn
lớn hơn nói" This hotel is bigger " và bức tranh có khách sạn lớn nhất nói "This hotel
is the biggest "

Q 3 large large large
wide wider widest
Q 4 easy easier Easiest
Sau khi hoàn thiện bảng này, tôi đã nhận xét từng nhóm, chữa cho các em, nhất
là những từ các em bổ sung. ở đây tôi không viết những từ được bổ sung lên bảng với
mục đích phát huy khả năng sáng tạo của các em khác trong những luyện tập tiếp theo
có thể có liên quan với những từ đó.
3/Cách dùng các tính từ so sánh - Dạng ngắn, có quy tắc trong câu.
7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
- Mục đích của phần này là học sinh phải hiểu cách dùng thông qua các mẫu
câu cũng như biết vận dụng các tính từ so sánh kể trên vào các tình huống giao tiếp .
- Tôi đã chia ra hai loại mẫu câu chính cho các em vận dụng: Câu dùng các tính
từ so sánh khi không có đối tượng so sánh và câu sử dụng các tính từ so sánh có đối
tượng so sánh.
- Hình thức phat triển như sau:
Tôi đã đưa ra mẫu câu trước( Mỗi mẫu câu tương ứng với một ví dụ), cho các
em đọc mẫu câu đồng thanh rồi cho một vài cá nhân đọc trước lớp. Sau đó cho các em
ghạch chân các tính từ so sánh xuất hiện, gạch chân đẵc điểm làm nên mẫu câu đó,
như từ " than " xuất hiện trong câu so sánh hơn, mạo từ " the " và trạng ngữ chỉ cái
chung : of us, of them, in my class, in our group là đặc điểm của câu so sánh hơn
nhất.
- Về phương tiện giúp các em trong quá trình thực hành cũng là các phương
tiện đã được sử dụng ở phần trên.
Cần nhấn mạnh thêm là trong quá trình thực hành, tôi luôn cho các em bắt đầu
bằng mẫu câu với tính từ dạng nguyên để làm nền cho các mẫu câu so sánh và mỗi
tính từ khi đưa ra thưc hành đều được nói theo hai hình thức là đồng thanh và cá nhân
trong đó đồng thanh thực hiện từng câu một theo chỉ dẫn của g/v, còn thực hiện cá
nhân thì các em phải nói để tả cho cả ba đặc điểm của tranh hoặc vật
a/ Với mẫu câu không có đối tượng so sánh: Vớ loại mẫu câu này, tôi đồng

Eg. Nam is a small student.
Lam is a smaller student.
Cương is the smallest student.
Or Nam is small.
Lam is smaller.
Cương is the smallest.
Eg. ( Big) Cũng với cách thức sử dụng tranh như phần dạy từ, em đã thực hành từ
này như sau:
P 1( A): It is a big hotel.
P 2(B) : It is a bigger hotel.
P 3(C): It is the biggest hotel.
Or A is big.
B is bigger.
C is the biggest.
Với tình huống chọn học sinh, tôi cho ba học sinh có hình phù hợp đứng trước lớp,
các em khác quan sát, thực hành theo mẫu.
Eg. Nam is a big student.
Lam is a bigger student.
Cường is the biggest student.
Or Nam is big.
Lam is bigger.
Cường is the biggest.
Eg. (hot) Với từ này, Tôi sử dụng ba thẻ tên của ba thành phố trên và cho học sinh
thực hành.
Hình thức làm như sau: Tôi đưa thẻ ra trước lớp và nói ra tên các thành phố
trên thẻ và học sinh sẽ đồng thanh nói theo thành các câu nhận xét về đặc điểm thời
tiết nóng dần từ địa danh Hà Nội, Huế đến Thành Phố Hồ Chí Minh. Sau đó cho các
em đứng lên làm cá nhân trước lớp.
9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7

The desk is wider.
The board is the widest.
Eg. (Easy) Với từ này, tôi gắn ba thẻ(A, B, C) có phép tính đơn giản đã dùng
ở trên và cho các em đứng lên tự nhận xét. Câu các em đã nói là:
Eg. A is easy.
B is easier.
C is the easiest.
10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
Eg. (Thin) Với từ này, tôi dán bức tranh trên lên bảng và cho các em đứng lên
quan sát và tự thực hành nói. Nội dung như sau:
Eg. A is a thin man.
B is a thinner man.
C is the thinnest man.
Or A is thin.
4/Một số bài tập ngữ pháp áp dụng các tính từ so sánh - Dạng ngắn, có quy
tắc .
III. KẾT QUẢ:
Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng sáng kiến này, tôi thấy rằng hiệu quả giờ
dạy cao hơn hẳn so với cách dạy thông thường, đặc biệt cách sắp xếp hợp lí, khoa học
trong từng phần, trong từng bước dạy. Qua đó h/s vừa hiểu rõ, vừa vận dụng tốt trong
hoạt động nói cũng như quá trình giao tiếp, đặc biệt là việc áp dụng cho các bài tập
ngữ pháp, cho thấy kết quả cao rõ rệt.
Điều tra cụ thể như sau:
TRƯỚC KHI VẬN DỤNG
KIỂU BÀI NÀY
SAU KHI VẬN DỤNG KIỂU
BÀI NÀY
-Chất lượng đại tra: 45%
- Chất lượng khá giỏi: 25%

một bài giảng để tạo ra thói quen, kĩ năng, kĩ xảo thao tác các hoạt động một cách
nhuần nhuyễn ở các bài dạy nói chung và bài dạy với các tính từ so sánh dạng này nói
riêng.
Phải có sự chuẩn bị kĩ càng, chu đáo về kiến thức, kế hoạch cũng như phương
tiện lên lớp, giúp cho giờ học trở nên nhịp nhàng nhưng cũng không kém phần sôi
nổi, tạo hứng thú và niềm say mê học tập cho các em.
Về phía học sinh phải hình thành cho các em thói quen học phương pháp mới,
có phản xạ để nhanh chóng thích nghi với những cái mới, phải biết tich hợp kiến thức
đẵ học để rut ra cái mới một cách nhanh nhất, chủ động sử dụng nó và sử dụng nó một
cách khéo léo trong các tình huống giao tiếp, cũng như trong việc vận dụng chúng
trong một số dạng bài tập ngữ pháp tiêu biểu.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
Tạo cho học sinh khả năng tích hợp kiến thức cũ để phát hiện kiến thức mới,
sau đó tự biết vận dụng nó một cách có hiệu quả nhất trong quá trình giao tiếp, cũng
như trong việc áp dụng hợp lí kiến thức vào một số dạng bài tập, chính là một trong
những điểm đến, là đích mà tôi đã đạt được qua việc nghiên cứu và viết sáng kiến
này. Không những rèn cho các em thói quen tự học, tự trau dồi kiến thức; rèn kĩ năng,
kĩ xảo sử dụng ngôn ngữ , mà còn tạo hứng thú , niềm say mê tham gia tiết học nói
riêng và học bộ môn Anh văn nói chung.
12
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỌC HIỂU ANH 7
Để sáng kiến của tôi thực sự phát huy hiệu quả trong thực tế, tôi rất mong có
sự đóng, rut kinh nghiệm, tạo điều kiện giúp đỡ của đồng nghiệp, để bổ sung cho tôi
những gì tôi chưa làm được trong quá trình thực hiện sáng kiến.
Như chúng ta đã biết, một giờ học đảm bảo như trên thì thường không khí lớp
dễ ồn ào trong khi h/s thực hiện các kĩ năng giao tiếp, nên không tránh khỏi sự ảnh
hưởng đến việc học tập của các lớp bên cạnh. Cho nên, tôi rất mong sự thông cảm từ
các đồng bên cạnh tôi.Và cũng từ lí do này , tôi rất mong nhà trường sớm tham mưu
với địa phương để xây dựng thêm các phòng chức năng để chúng tôi dễ dàng thực
hiện những tiết học với mục tiêu kể trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status