BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐAỊ HỌC NGOẠI THƯƠNG
BAYASGALANBAT GANTUYA
QUAN HỆ KINH TẾ – THƯƠNG MẠI GIŨA MÔNG CỔ VÀ VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG
Chuyên ngành: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN PHÚC KHANH
Hà Nội - 2006
Quan hệ kinh tế – thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam: thực trạng và
triển vọng (153 trang)
MỤC LỤC
LỜI CĂM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KINH TẾ
THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC MÔNG CỔ
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ
năm 1986-1990
1.2 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ
năm 1990 đến nay
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-1996
1.2.1.1 Tỷ lệ lạm phát
1.2.1.2 Tỷ giá hối đoái
1.2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1996 đến nay
1.2.3 Cơ cấu kinh tế Mông Cổ
1.2.3.1 Xét theo tỷ trọng trong GDP nền kinh tế Mông Cổ
1.2.3.2 Xét theo tình hình tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của các
1.4.1 Nước Mông Cổ tích cực tham gia vào các hoạt động thương mại
song phương, khu vực và đa phương
1.4.2 Tình hình hoạt động ngoại thương Mông Cổ trong những năm
đầu
thập niên 90
1.4.3 Tình hình hoạt động ngoại thương Mông Cổ, sau khi gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới (WTO)
1.4.3.1 Những cải cách trong chính sách đối ngoại của Mông Cổ
kể từ khi thực hiện đổi mới kinh tế
1.4.3.2 Những điều chỉnh về thuế quan
1.4.4 Tình hình ngoại thương Mông Cổ trong những năm gần đây
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG
MẠI GIỮA MÔNG CỔ VÀ VIỆT NAM
2.1. Đặc trưng của quan hệ Mông Cổ – Việt nam trong những năm từ 1990
đến 2001
2.1.1 Những tiền đề trong tiến trình lịch sử dẫn đến thiết lập và phát
triển quan hệ truyền thống và hữu nghị của hai nước Mông Cổ -Việt Nam
3
2.1.1.1 Vai trò và ý nghĩa vị trí địa lý của hai nước Mông Cổ - Việt Nam
a. Vị trí địa lý của đất nước Mông Cổ
b. Vị trí địa lý của đất nước Việt Nam
2.1.1.2 Những tiền đề lịch sử dẫn đến thành lập và phát triển mối quan
hệ truyền thống và hữu nghị hai nước Mông Cổ - Việt Nam
a. Vài nét về lịch sử cổ đại của quan hệ truyền thống hai nước
Mông Cổ và Việt Nam
b. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển quan hệ ngoai giao
hai nước Mông Cổ và Việt Nam
2.1.1.3 Các giai đọan phát triển của quan hệ Mông Cổ – Việt Nam
a. Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1954 đến năm 1984
b. Giai đoạn từ cuối thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90 (1985-1991)
3.2Triển vọng quan hệ kinh tế, thương mại Mông Cổ – Việt Nam trong thời
gian tới
3.2.1 Triển vọng trong quan hệ thương mại song phương
3.2.2 Triển vọng trong quan hệ đầu tư
3.3 Một số giải pháp đẩy mạnh quan hệ thương mại Mông Cổ – Việt Nam
3.3.1 Cần tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai nhà nước
3.3.2 Các biện pháp mà Chính phủ hai nước Mông Cổ và Việt Nam cần
áp dụng nhằm đẩy mạnh xuất nhập khẩu
3.3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp hai nước
xúc tiến thương mại từ phía Chính phủ
3.3.2.2 Những giải pháp từ phía doanh nghiệp hai nước Mông Cổ
và Việt Nam trong việc tăng cường hoạt động xúc tiến
thương mại, thông tin thương mại của các doanh nghiệp
3.3.3 Cải thiện các phương thức thanh toán giữa doanh nghiệp hai nước và
vận chuyển hàng hóa giữa hai nước Mông Cổ và Việt Nam
3.3.3.1 Đề xuất liên quan tới vấn đề thanh toán xuất nhập khẩu
a Tăng cường sự hiện diện của các Ngân hàng thương maị hai
nước để hỗ trợ khâu thanh toán xuất khẩu cho các
doanh nghiệp hai nước
b Có thể áp dụng các phướng thức thanh toán trong hoạt động
xuất nhập khẩu giữa các doanh nghiệp hai nước như thanh
toán trả chậm có nhiều hình thức
c. Áp dụng phướng thức thanh toán mở tín dụng thư (L/C)
trực tiếp giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hai nước.
3.3.3.2 Đề xuất liên quan tới vận chuyển hàng hóa giữa hai nước
Mông Cổ và Việt Nam
5
3.3.4 Tạo thuận lợi cho việc tăng cường quan hệ thương mại, đẩy nhanh
kim ngạch xuất nhập khẩu với Việt Nam
3.3.4.1 Cần tăng cường hờn nữa, nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp
2.2.2 Quan hệ kinh tế thương mại hai nước Mông Cổ và Thái
Lan
2.2.3 Quan hệ kinh tế thương mại hai nước Mông Cổ và
Malaixia
PHỤ LỤC II
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
7
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN
ASEM Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
ARF Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Hiệp hôi các nước Đông Nam Á
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
FDI Đầu tư trực tiếp của nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm nội địa
GATT Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
HS Hệ thống thuế quan điều hoà
IAP Chương trình tự do hoá và lợi nhuận hoá thương mại và đầu
tư tự nguyện của APEC
IFFC Trung tâm giao nhận vận tải quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
KKTTD Khu Kinh tế tự do
KTMTD Khu Thương mại tư do
MIGA Phòng bảo hiểm đầu tư đa phương
MIB Ngân hàng Đầu tư Quốc tế
MBES Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế
OECD Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
OSZD Hiệp định của Tổ chức hợp tác đường sắt
SEV Hội đồng tương trợ kinh tế quốc tế xã hội chủ nghĩa
Hình 1.2: Tăng trưởng thực tế qua các năm 1984-2005
Hình 1.3: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng, 1990-2001
Hình 1.4: Tỷ lệ lạm phát, 1999-2005
Hình 1.5: Lưu thông tỷ giá danh nghĩa và thực tế đồng tiền Tugrug
Hình 1.6: Tỷ giá hối đoái, 2000-2005
Hình 1.7: GDP bình quân đầu người bình quân năm qua các năm 1990-
2005
Hình 1.8: Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp (so với năm 1990)
Hình 1.9: Định hướng phát triển nền kinh tế Mông Cổ
Hình 1.10: Định hướng phát triển các ngành kinh tế
Hình 1.11: Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại Mông Cổ, 1990-2003
Hình 1.12: Số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, 1992-2004
9
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu theo ngành của FDI tính đến cuối năm 2003
Biểu đồ 1.2: Vốn đầu tư theo nước đầu tư tính đến cuối năm 2003
CHƯƠNG II
Bảng 2.1: Các hiệp định hợp tác đã ký giữa Chính phủ hai nước Mông Cổ và
Việt Nam
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước Mông Cổ và Việt Nam
Bảng 2.3: Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu Mông Cổ và Việt Nam I
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước Mông Cổ và Việt Nam
Bảng 2.5: Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu Mông Cổ và Việt Nam II
Bảng 2.6: Tình hình xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mông Cổ theo
mặt hàng
Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu giữa Việt Nam – Mông Cổ theo mặt hàng
(2003-2005)
Bảng 2.8: Vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài Việt Nam vào Mông Cổ
Bảng 2.9: Tổng số dự án có vốn đầu tư Việt Nam tại Mông Cổ, theo ngành
Bảng 2.10: Thống kê xuất khẩu Việt Nam với Mông Cổ
CHƯƠNG II
thiện. Tôi xin tiếp thu và xin cảm ơn mọi ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô, bạn bề cũng như của mọi độc giả.
11
MỞ ĐẦU
1. Tinh cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử lâu dài phát triển nền kinh tế - thương mại hai
nước Mông Cổ - Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú trọng giai đoạn từ 1990
đến nay. Có thể nhấn mạnh rằng, đặc biệt trong 15 năm gần đây từ 1990-
2005, quan hệ Mông Cổ – Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại
giao, kinh tế – thương mại, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, du lịch, nghệ thuật
đều đã được khôi phục, phát triển nhanh chóng và sâu rộng, đem lại nhiều kết
qủa thiết thực cho cả hai bên. Cho đến nay, hai nước đã ký hơn 20 hiệp định
song phương và thoả thuận cấp Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp
tác lâu dài giữa hai nươc.
Có thể nói, lĩnh vực thương mại và đầu tư là hai lĩnh vực được quan
tâm nhiều nhất và cũng có sức sống nhất trong quan hệ kinh tế Mông Cổ –
Việt Nam.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại bức tranh không phải tòan mầu
hồng, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều hiện ở mức rất thấp, chưa đầy
2 triệu USD trong những năm gần đây, chưa tương xứng với tiềm năng và
thấp hơn nhièu so với kim ngạch 16 triệu USD cách đây 10 năm. Làm thế nào
để phấn đấu đưa kim ngạch buôn bán hai chiều lên 10 triệu USD một năm vào
năm 2010? Làm thế nào để bên cạnh thương mại, phát triển quan hệ đầu tư
cũng ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương? Trong
tiến trình phát triển quan hệ thương mại, đầu tư, các ngành hữu quan hai nước
khẳng định ý chí và quyết tâm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển một cách
có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước và nhân dân hai nước;
tạo thuận lợi cho nhau, mạnh dạn đầu tư liên doanh sản xuất phù hợp với điều
kiện kinh tế hai bên, bằng cán bộ kỹ thuật cao, máy móc, thiết bị, nguyên liệu,
mặt bằng của Mông Cổ và nguồn nhân công dồi dào, cán bộ kỹ thuật cao,
Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển và quản lý hoạt động
xuất nhập khẩu, cũng như nhu cầu khôi phục quan hệ thương mại và đặc biệt
đối với thị trường có nhiều tiềm năng như thị trường Việt Nam, việc nghiên
cứu thị trường Việt Nam và quan hệ thương mại Mông Cổ – Việt Nam giúp
cho việc hoạch định chính sách thương mại Mông Cổ – Việt Nam là một vấn
đề có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác giả đã chọn vấn
đề “Quan hệ kinh tế – thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam: thực trạng và
triển vọng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ – Chuyên ngành Kinh
tế thế giới và quan hệ thương mại quốc tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu:
13
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ kinh tế - thương
mại giữa Mông Cổ và Việt Nam trong những năm gần đây.
- Đánh giá thực trạng mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Mông Cổ
và Việt Nam và tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế.
- Dự đoán triển vọng mối quan hệ song phương và đề xuất các giải
pháp nhằm phát triển mối quan hệ kinh tế - thương mại trong những năm sắp
tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề bức xúc về quan hệ thương mại và đầu tư
Mông Cổ – Việt Nam.
Giới thiệu tiến trình phát triển kinh tế – thương mại và đầu tư
giữa Mông Cổ và Việt Nam.
Khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có, đẩy mạnh việc trao
đổi hàng hoá, tìm kiếm khả năng hợp tác liên doanh nhằm đưa
quan hệ kinh tế, thương mại lên ngang tầm với quan hệ chính trị
tốt đẹp giữa hai nước.
Cung cấp những thông tin cập nhật nhất về thực trạng hoạt động
kinh tế – thương mại và đầu tư của hai nước.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động hợp tác kinh tế thương mại, đầu
tư của nước Mông Cổ
Chương 2: Thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Mông
Cổ và Việt Nam
Chương 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế –
thương mại và đầu tư giữa Mông Cổ và Việt Nam.
15
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI,
ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC MÔNG CỔ
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai
đoạn từ năm 1986-1990
Từ đầu những năm 1990 hầu hết các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
đã thực hiện những cải cách kinh tế dựa theo thị trường. Khác với các nền
kinh tế Đông Âu cũng đã có đi bước quá độ giống nhau, nền kinh tế Mông Cổ
phần lớn là nông nghiệp chăn nuôi với khu vực quốc doanh còn nhỏ – một
điều kiện ban đầu hết sức thuận lợi để quá độ được mau lẹ. Thực tế này xuất
phát từ tỷ trọng thấp của công nghiệp trong nền kinh tế và từ vai trò chủ đạo
của khu vực nông nghiệp và dịch vụ. Thực ra, ở Mông Cổ không có công
nghiệp nặng. Cho tới tận trước khi có các cuộc cải cách năm 1990, ngót một
nửa công ăn việc làm trong ngành chế tạo được tập trung trong hai phần sử
dụng nhiều lao động là dệt và chế biến thực phẩm. Theo só liệu thống kê
chính thức, những năm 1980 nền kinh tế Mông Cổ phát triển rất nhanh, GDP
bình quân năm tăng 6.2% (xem bảng 1.1). Những năm 1986 tốc độ tăng
trưởng đạt 9.4% [17.Tr.9].
Từ 1990, Mông Cổ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, đa phương
và không kiên kết. Vào năm 1990, nhân dân Mông Cổ từ bỏ hệ thống kế
đã thực hiện tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh bằng một cách chia thành
những xí nghiệp doanh nghịêp có quy mô quá nhỏ thậm chí do trình độ công
suất kỹ thuật công nghệ bị suy giảm, các sản phẩm Mông Cổ không thể cạnh
tranh được trên thị trường thế giới về chất lượng. Trong thời gian này, nhiều
ngân hàng thương mại bị phá sản, thất nghiệp tăng nhanh đạt khoảng 200
nghìn người.
Bắt đầu từ giữa thập kỷ 90 nhịp độ phát triển kinh tế dần dần tăng lên là
do nước Mông Cổ trong việc theo đuổi quá trình hội nhập với nền kinh tế thế
giới thông qua việc tham gia từng bước vào hiệp định thương mại song
phương khu vực và đa phương một cách tích cực có hiệu quả. Để thực hiện
chính sách hội nhập kinh tế quốc tế thì việc tìm kiếm và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường hoạt động xuất khẩu hàng hoá để
thu ngoại tệ là rất quan trọng.
Tóm lại, giống như với các nước thực hiện chuyển đổi nền kinh tế,
những khó khăn trong những năm cải cách thị trường ở thập niên 90, tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng cả về mặt chính trị và về mặt kinh tế xã hội
đã đưa sự phát triển kinh tế Mông Cổ về khoảng cách tụt hậu khoảng 10 năm.
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990-1993 luôn là con số âm, sản xuất suy
17
giảm cùng với lạm phát cao đã làm sức mua của dân cư giảm, làm tiền lương
thực tế và thu nhập bình quân đầu người giảm đáng kể, môi trường kinh
doanh không ổn định, và nền kinh tế vẫn còn phải đối phó với hàng loạt vấn
đề nghiêm trọng trong thời gian trước mặt đó: sản xuất công nghiệp và nông
nghiệp giảm nghiêm trọng, nợ nước ngoài cao, dự trữ ngoại tệ và vàng không
đủ để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu… Tình trạng khan hiếm ngoại tệ
đã giảm sút nguồn lực cung cấp xăng dầu mà tác động tiêu cực đến lĩnh vực
công nghiệp nhiệt điện và vận tải. Năm 1990 Mông Cổ là một trường hợp
điển hình về một nước đang phát triển không ổn định kinh tế vĩ mô.
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu vĩ mô kinh tế Mông Cổ qua các năm 1980-2003
Năm
548 1023,6 538,3 582,4 675,9 693,2 752,8 801,1
Cán cân
thương mại,
triệu USD
-145 -578,8 30,2 -120,1 -140,2 -169,9 -228,9 -185,2
18
Tỷ giá hối
đoái (cuối
năm) 1 đô
la
Mỹ=Tugrug
3,00 5,31 813,2 902,0 1097,0
1102,
0
1125,0 1168,0
Dân số
(nghìn
người)
1,60 2,12 2311,3 2344,5 2390,5 2425,0 2459,0 2490,9
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
19
1.2 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai
đoạn từ năm 1990 đến nay
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-1996
Sau cuộc suy giảm kinh tế năm 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy
yếu mạnh xuống đến -9,2% năm 1991, đến -9,5% năm 1992, chỉ đến giữa
những năm 1990 tăng trưởng tăng một cách khiêm tốn vào năm 1994 đạt
2,3%, (GDP bình quân năm tăng 0,3%), tăng vọt trong năm 1995 (6,3%) là
mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm qua (xem bảng 1.1; hình 1.1).
Tuy nhien, đối với nước đã sang cơ chế thị trường và đang phát triển thì chỉ
1998 6,0
1999 10,0
2000 8,1
2001 8,0
2002 1,6
2003 4,7
2004 11,0
2005 9,5
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
22
Hình 1.3: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng, % (1990-2001)
Nguồn: [45.Tr.6]
Hình 1.4: Tỷ lệ lạm phát, % (1999-2005)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
1.2.1.2 Tỷ giá hối đoái
Mông Cổ đã làm nên những đổi thay đáng kể trong một môi trường cực
kỳ khó khăn. Với việc Liên Xô công bố giảm dần viện trợ bắt đầu từ năm
1989, chính phủ Mông Cổ đã phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng
23
thậm chí còn lớn hơn. Việc giảm dần viện trợ của Liên Xô có nghĩa là nền
kinh tế này sẽ phải xuất khẩu nhiều hơn để lấy tiền nhập khẩu những loại đầu
vào thiết yếu. Phương án duy nhất là phải tìm ra những nguồn tài trợ mới từ
bên ngoài.
Để xử lý cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng về cán cân thanh toán
này, chính phủ đã thống nhất và phá giá tỷ giá hối đoái với khu vực có đồng
tiền chuyển đổi tự do hồi đầu năm 1990, và cũng tự do hoá ngoại thương.
Việc đồng Tugrug phá giá gây ra tình trạng mất ổn định trong nền kinh tế, thị
trường tài chính, ngân hàng chao đảo, vốn đầu tư chạy khỏi Mông Cổ, nhiều
công ty phá sản, nhập khẩu giảm, môi trường kinh doanh biến động và nhiều
rủi ro. Tuy nhiên việc đồng Tugrug xuống giá cũng có mặt tích cực. Việc phá
với cuối năm 2000 [11.Tr.7] (xem hình 1.5).
Hình 1.6: Tỷ giá hối đoái (2000-2005)
25