Tiểu luận hàng hóa sức lao động - Pdf 24


TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KON TUM
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
****************
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN:
NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
(PHẦN 2)
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU HỌC THUYẾT VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG CỦA CÁC
MÁC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
Ngô Thị Ngọc Bích
Lớp: K18 GDTH

Kon Tum, tháng 5 năm 2014
Kon Tum, tháng 5 năm 2014
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Tìm hiểu học
thuyết về hàng hóa sức lao động của C.Mác
và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế thị trườngđịnh
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” chúng
tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Chủ nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm non

CNXH 6
Chủ nghĩa tư bản 6
CNTB 6
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 6
CNH – HĐH 6
Tư bản chủ nghĩa 6
TBCN 6
Tư liệu sản xuất 6
TLSX 6
Xã hội chủ nghĩa 6
XHCN 6
A. MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Cấu trúc đề tài 8
B. NỘI DUNG 9
Chương 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỨC LAO ĐỘNG VÀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
TRONG CNTB 9
1.1. SỰ CHUYỂN HÓA SỨC LAO ĐỘNG THÀNH HÀNG HÓA 9
1.1.1. Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung 9
1.1.2. Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa 10
1.2.HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ GIÁ CẢ CỦA HÀNG HÓA SỨC LAO
ĐỘNG 11
1.2.1. Hàng hóa sức lao động 11
1.2.2.Giá cả hàng hóa sức lao động: Tiền công trong CNTB 13
SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH 17

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH – HĐH
Tư bản chủ nghĩa TBCN
Tư liệu sản xuất TLSX
Xã hội chủ nghĩa XHCN
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
6
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bất cứ chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của nền
sản xuất. Nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện: người
lao động được tự do về thân thể, tự do sử dụng sức lao động của mình; Đồng thời
người lao động mất hết tư liệu sản xuất, để nuôi sống bản thân và gia đình nên họ phải
đem bán sức lao động.
Việc phát hiện ra phạm trù hàng hoá sức lao động trong chủ nghĩa tư bản được
coi là chìa khoá để phân tích thực chất của nền sản xuất TBCN (tư bản chủ nghĩa).
C.Mác đã nhìn thấy được quy luật vận động của tư bản bằng cách chỉ ra được công
thức chung của tư bản, đồng thời thấy được mâu thuẫn trong công thức chung của nó.
Vì lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, nhưng chính nhờ quá trình lưu
thông mà tư bản tăng thêm được giá trị. Theo Mác, nhờ lưu thông nhà tư bản mới mua
được thứ hàng hoá đặc biệt mà quá trình tiêu dùng nó cũng là quá trình tạo ra giá trị và
giá trị thặng dư. Thứ hàng hoá đặc biệt đó chính là hàng hoá sức lao động.
Việc tìm ra thứ hàng hoá đặc biệt - hàng hoá sức lao động cũng như phát hiện ra
tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó không
chỉ giúp cho C.Mác “phanh phui” thực chất nền sản xuất TBCN đó là sản xuất giá trị
thặng dư; mà nó còn là cơ sở lý luận quan trọng để các nước vận dụng trong phát triển
nền kinh tế thị trường hiện nay.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá

tiểu luận.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Hàng hóa sức lao động của C.Mác và thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Quan điểm của C.Mác về lý luận hàng hóa sức lao động
và thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ nội dung lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác và sự vận dụng
của loại thị trường này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ đề tài nhằm nghiên cứu những quan điểm lý luận về hàng hóa sức
lao động và đưa ra những giải pháp xây dựng nền kinh tế thị trường hàng hóa sức lao
động. Cũng như đưa ra những đặc điểm về nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp kết luận.
5. Cấu trúc đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung chính của đề được kết
cấu gồm 2 chương:
- Chương 1. Tìm hiểu học thuyết kinh tế về sức lao động và hàng hóa sức lao
động trong CNTB
- Chương 2. Vận dụng học thuyết hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị
trường Việt Nam hiện nay.
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
8
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
B. NỘI DUNG
Chương 1

*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
9
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
của quá trình, còn hàng hóa chỉ đóng vai trò trung gian, tiền ở đây không phải là chi ra
dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu hồi về.
Sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn, vì vậy sự vận động của tư bản cũng
không có giới hạn. Mọi công thức T-H-T´ là công thức chung của mọi tư bản vì mọi
tư bản đều được biểu hiện trong lưu thông dưới dạng tổng quát đó dù là tư bản thương
nghiệp, tư bản thương nghiệp hay tư bản cho vay.
1.1.1.2. Mâu thuẫn của công thức chung.
Nhìn vào công thức chung tư bản T-H-T’ ta thấy hình như giá trị thặng dư (t)
được sinh ra trong lưu thông. Nhưng học thuyết giá trị đã khẳng định giá trị (t) do lao
động (sản xuất) tạo ra, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư. Cụ thể:
Xét trong lưu thông:
- Nếu trao đổi ngang giá thì giá trị chỉ thay đổi hình thái từ tiền sang hàng và từ
hàng sang tiền chứ không được tăng lên để tạo giá trị thặng dư.
- Nếu trao đổi không ngang giá, tức là hàng hóa có thể bán cao hoặc thấp hơn
giá trị. Nhưng trong nền sản xuất hàng hóa, mỗi người sản xuất vừa là người bán, vừa
là người mua.
Như vậy, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư.
Xét ngoài lưu thông: tiền đề trong két sắt, hàng hóa để trong kho thì bản thân
chúng không thể tự làm tăng giá trị cũ mình lên để có giá trị thặng dư.
Vậy, lưu thông T-H-T’ không tạo ra giá trị thặng dư, nhưng nếu không có lưu
thông thì không có giá trị thặng dư. Do đó, “giá trị thặng dư không thể xuất hiện trong
lưu thông và không thể xuất hiện ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông
đồng thời không phải trong lưu thông”. Đó là mâu thuẫn của công thức chung tư bản.
1.1.2. Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa
1.1.2.1. Sức lao động

phải phát triển tới một mức độ nhất định. Sức lao động biến thành hàng hóa là nhân tố
đánh giá giai đoạn mới trong sự phát triển sản xuất hàng hóa trở thành hình thái phổ
biến sản xuất hàng hóa TBCN. Sự cưỡng bức lao động bằng các biện pháp phi kinh tế
trong chế độ nô lệ và chế độ phong kiến được thay bằng hợp đồng mua bán bình đẳng
về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư liệu sản xuất.
Trong các hình thái xã hội trước CNTB chỉ có sản phẩm lao động mới là hàng
hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các
hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội phong kiến) bị phá vỡ, thì mới
xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa. Chính sự xuất hiện
của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến
và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – Thời đại của CNTB.
1.2.HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ GIÁ CẢ CỦA HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1.2.1. Hàng hóa sức lao động
Cũng giống như hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động cũng có hai
thuộc tính đó là giá trị và giá trị sử dụng. Nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt, hàng
hóa sức lao động có những khác biệt so với hàng hóa thông thường ở trên hai phương
diện: giá trị và giá trị sử dụng. Tính đặc biệt đó thể hiện qua những điểm cơ bản sau
1.2.1.1. Giá trị của hàng hóa sức lao động
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
11
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng
lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng
một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.
Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được
quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy;
hay nói cách khác, giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị những

Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
những điều đó không thể không ảnh hưởng tới giá trị sức lao động, không thể không
dẫn đến sự khác biệt của giá trị sức lao động theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh
tế, nhưng chúng bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động.
1.2.1.2. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là công cụ để thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng sức lao động của con người sử dụng lao động. Khác với hàng hóa thông thường,
sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì các giá trị và giá trị sử dụng đều biến mất theo
thời gian thì hàng hóa sức lao động khi được tiêu dùng ngoài việc sản xuất ra một loại
hàng hóa nào đó đồng thời lại tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân
nó. Phần lớn hơn đó chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư và là chìa khóa để giải
quyết mâu thuẫn công thức chung tư bản làm cơ sở để tiền tệ chuyển thành tư bản.
Chỉ có giá trị sử dụng của “khả năng lao động” đó, “được tư bản làm cho vận
dụng nó liền trở thành một hoạt động sản xuất xác định của người công nhân”, tức
thành giá trị sáng tạo, một quá trình giá trị được tăng thêm. Do đó thực chất của lao
động chỉ là quá trình sử dụng, khả năng lao động được phát huy tác dụng lên thực tế
(về sau Mác tiến thêm bước nữa phân biệt giá trị “sức lao động” và giá trị sử dụng của
“khả năng lao động”).
1.2.2.Giá cả hàng hóa sức lao động: Tiền công trong CNTB
1.2.2.1. Bản chất kinh tế của tiền công.
Ở bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một
thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc
nào đó thì nhà tư bản trả cho một số tiền nhất định gọi là tiền công. Hiện tượng đó làm
cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động. Sự thật thì tiền công
không phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động không phải là hàng hóa. Sở
dĩ như vậy là vì:
-Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một
hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản
xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình

Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng
sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao
động.
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động tất yếu và
thời gian lao động thặng dư, thành lao động trả công và lao động không được trả công.
Do đó tiền công che đậy đi cái bản chất bóc lột của CNTB.
1.2.2.2. Các hình thức cơ bản của tiền công.
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công
tính theo sản phẩm.
Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay
nhiều tùy thuộc vào thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày tháng) dài hay ngắn.
Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công tháng.
Tiền công ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay thấp, vì
nó còn tùy thuộc vào ngày lao động dài hay ngắn. Do đó muốn đánh giá chính xác
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
14
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
mức tiền công không chỉ căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.
Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian.
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã
sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công
được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một
ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày,
do đó về thực chất đơn giá tiền công là tiền công phải trả cho thời gian cần thiết sản
xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa
của tiền công tính theo thời gian.

Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ
nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công
ấy. Bởi lẽ trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu
hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp mức tăng giá cả tư
liệu tiêu dùng và dịch vụ; đồng thời thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên, khiến cho
cung về lao động làm thuê vượt quá cầu lao động, điều đó cho phép nhà tư bản mua
sức lao động dưới giá trị của nó, vì vậy tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu
hướng hạ thấp.
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có
những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công. Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân đòi tăng tiền công. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản
ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ nên nhu cầu về
sức lao động có chất lượng ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ
chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là
một nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công.
Ở trên chúng ta đã tìm hiểu về tư bản, công thức chung tư bản và qua đó thấy
được mâu thuẫn công thức chung của tư bản. Mâu thuẫn đó chỉ được giải quyết khi
nhà tư bản tìm được trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt mà khi sử dụng nó sẽ
tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn bản thân giá trị ban đầu của nó. Đó chính là hàng
hóa sức lao động. Đây chính là cơ sở để Mác đề cập đến vấn đề tiền công trong
CNTB; qua nghiên cứu thực tiễn của mình, Mác đã chỉ rõ bản chất của tiền công; các
hình thức tiền công và hai xu hướng tiền công trong CNTB. Kết quả của việc nghiên
cứu này chính là cơ sở lý luận hết sức quan trọng để tiếp cận những vấn đền rộng lớn
và có tính thực tiễn hơn là nghiên cứu về thị trường hàng hóa sức lao động ở trong
một nền kinh tế thị trường cụ thể ở Việt Nam. Đó chính là cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu việc phát triển hàng hóa sức lao động ở Việt Nam trong nền kinh tế định
hường XHCN.
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
16

thị trường có sự quản lý Nhà nước”. Như vậy đến lúc này chúng ta đã hình thành rõ
nét về mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tư duy đó được tiếp tục hoàn thiện khi
văn kiện Nghị quyết Đại hội VIII (4/1996) xác định mô hình kinh tế tổng quát nước ta
là: “Mô hình kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước”.
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
17
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Đại hội IX của Đảng (4/2001) đã đặt ra vấn đề xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, đề ra nhiệm vụ xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Điều này thể hiện sự chuyển biến quan trọng từ nhận thức kinh tế thị
trường như một công cụ, một cơ chế quản lý sang nhận thức mới, coi kinh tế thị
trường là một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng XHCN.
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư duy của Đại hôi IX, Đại hội X của Đảng lại tiếp tục
khẳng định: “Mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ là nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN”.
Như vậy, từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội X (2006) là thời kỳ đổi mới toàn diện
cả cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế với nội dung chính là từ bỏ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự tham gia quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.
2.1.2. Những đặc trưng, bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt vừa có những
tính chất chung của nền kinh tế thị trường: Một là, các chủ thể kinh tế có tính độc lập,
có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Hai là, giá cả do thị trường quyết định, hệ
thống thị trường được phát triển đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân
phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là,
nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật

vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế nói trên tồn tại một cách khách quan và là
những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy, phát
triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là một tất yếu đối với nước ta. Chỉ có
như vậy chúng ta mới khai thác được mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao được hiệu quả
kinh tế, phát huy được tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát triển chung nền
kinh tế của đất nước nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Do đó không chỉ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ
công hữu là thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, mà còn phải khuyến khích
các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển để hình thành nền kinh tế thị
trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các hình thức hợp
tác liên doanh giữa trong và ngoài nước
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính
nguyên tắc và là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng
XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị
trường nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần. Bởi lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng
với nó, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới –
XHCN ở nước ta.
*Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện nhiều hình
thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu.
Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tương ứng với nó. Chế độ phân phối do
quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu quyết định. Nhưng quan hệ
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
19
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
phân phối, các hình thức thu nhập là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất.

chữa “những thất bại của thị trường”, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
20
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
thân cơ chế thị trường không thể làm được, đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát
triển theo định hướng XHCN.
*Thứ năm, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội
nhập.
Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trước đổi mới,
đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta trong điều kiện toàn
cầu hóa kinh tế.
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đang diễn ra quá
trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phụ thuộc
lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếu
đối với nước ta. Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại,
kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước để khai thác tiềm năng và thế mạnh của
nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh
tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn.
Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa và đa
dạng hóa các hình thức đối ngoại, gắn thị trường trong nước với thị trường khu vực và
thế giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ vững
được độc lập, chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh
tế đối ngoại.
Trong thời gian tới, cần tiếp tục mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ
kinh tế đối ngoại; có bước đi thích hợp hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới; phải
đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại, chủ động và tích cực thâm nhập thị trường thế giới, chú trọng thị trường các

Những bất cập ngày cành lớn giữa quy mô chung và cấu trúc “cung – cầu” sức
lao động trên thị trường lao động. Hiện nay, ở Việt Nam cung về sức lao động đang
vượt quá cầu và sẽ còn tiếp tuc trong tương lai, điều đó tạo ra áp lực về vấn đề việc
làm cho người lao động. Hàng năm, cung sức lao động tăng từ 3,2% đến 3,5% như
vậy mỗi năm lao động nước ta tăng 1,3 đến 1,5 triệu người đến độ tuổi lao động.
Mâu thuẫn giữa nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn trong khi đó trình độ tổ
chức quản lý về mặt nhà nước chưa phù hợp với cơ chế mới, chưa đáp ứng được yêu
cầu giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường.
Hệ thống giới thiệu việc làm chỉ mới hình thành và còn chưa phân bố rộng khắp
cả nước. Bên cạnh đó, hệ thống này còn chưa có một cấu trúc tổ chức thành lập rõ ràng,
chưa được đảm bảo trang bị vật chất cần thiết và đội ngũ cán bộ chưa đồng bộ.
Cấu trúc nguồn nhân lực Việt Nam phân phối chưa có sự hợp lý giữa các vùng,
có gần tới 80% lực lượng lao động ở nông thôn, mà ở đây việc làm không đầy đủ và
thất nghiệp có thể lên tới 30%. Những lao động tự do ở nông thôn lên thành phố với
mục đích tìm việc làm điều đó làm tăng hơn nữa sức cung lao động.
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của thị trường lao động, các loại thị
trường khác như: tư liệu sản xuất, tài chính, bất động sản cũng đã đang hình thành
và phát triển nhưng chưa có sự đồng bộ, sự liên kết giữa chúng với nhau còn yếu nên
chưa tạo ra được động lực để cùng phát triển.
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
22
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Sự phân hóa thu nhập của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng giữa các vùng
lãnh thổ trên cả nước theo các chỉ số phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, thị trường lao động Việt Nam đang hình thành nhưng hoạt động của
loại thị trường này vẫn chưa thực sự hiệu quả, còn gặp nhiều vấn đề khó khăn trong
quá trình giải quyết việc làm cho người lao động. Đảng và Nhà nước vẫn chưa có
những chính sách tối ưu nhất để giúp đỡ người dân lao động trong thời gian này.

23
Tìm hiểu học thuyết về hàng hóa sức lao động của Các Mác và ý nghĩa của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trình độ kỹ thuật nghề nghiệp: Năm 2012, lao động có trình độ sơ cấp, trung
cấp nghề và trug cấp chuyên nghiệp còn chiếm tỉ lệ khá thấp tương ứng là 2,56%;
1,61% và 3,61%. Tỷ lệ này cho thấy lao động chưa qua đào tạo nghề chưa đáp ứng
được nhu cầu của xã hội (Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương – Viện trưởng viện Khoa
học Lao động Xã hội).
Như vậy, ta có thể thấy nguồn cung lao động Việt Nam dồi dào, nhưng tay
nghề làm việc vẫn chưa cao, tỉ lệ người lao động tăng lên qua các năm và cả nước
đang cố gắng thực hiện tốt công tác phổ cập giá dục để đào tạo nghề cho người lao
động.
2.2.2.2.Tiếp cận từ nguồn cầu lao động.
Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu
hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, trong đó có gần 3,935 triệu cơ sở thuộc khu
vực sản xuất kinh doanh, chiếm tỷ trọng 94,9%.
Tiền lương của người lao động ngày càng được cải thiện. Các cơ sở kinh tế,
khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy, xí nghiệp…ngày càng gia tăng, chất lượng
tốt, đảm bảo an toàn lao động cho người tham gia lao động nên thu hút nhiều vốn đầu
tư, nguồn nhân lực dồi dào.
2.2.2.3.Chính sách của Nhà nước.
Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Với tư cách là người hoạch định chính
sách, tạo môi trường thuận lợi cho việc kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất,
nhà nước có các chính sách như: khuyến khích phát triển ngành, vùng; dạy nghề cho
lao động để thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất; tổ chức sản xuất kinh doanh,
tạo môi trường đầu tư, môi trường pháp lý; chính sách phát triển các làng nghề truyền
thống hoặc xuất khẩu lao động Đây chính là những chính sách kinh tế vĩ mô quan
trọng vừa tạo ra sức cung về lao động; đồng thời vừa kích thích, mở rộng sức cầu, tạo
điều kiện cho người lao động cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc có khả năng tự tạo việc
làm cho bản thân.

nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Doanh nghiệp phát triển đa dạng ở nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề
và ở tất cả các địa phương trong cả nước đã có tác động quyết định làm thay đổi cơ
cấu lao động.
- Nhược điểm.
* Về cung lao động:
Lực lượng lao động phân bố không đồng đều, có nhiều bất hợp lý:
+ Lực lượng lao động tập trung phần lớn ở nông thôn (chiếm 73,5% lực
lượng lao động cả nước), tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng (22,29%),
Đồng bằng sông Cửu Long (21,49%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (3,18%). Có 7/8
vùng lãnh thổ có tỉ lệ lực lượng lao động ở nông thôn trên 70%, đặc biệt cao ở các
vùng như Bắc Trung Bộ, Tây Bắc (trên 85%). Chỉ riêng vùng Đông Nam bộ có cơ cấu
lao động nông thôn dưới 50%.
+ Trong số lao động có việc làm ở Việt Nam thì có trên 70% việc làm không
ổn định (tự làm, làm việc trong gia đình không hưởng lương, chủ yếu trong nông
nghiệp) dễ bị tổn thương, dễ rơi vào nghèo đói. Lao động trong nông nghiệp vẫn
*GVHD: Th.s Hoàng Xuân Lĩnh * SVTH: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status