LUẬN VĂN:
Vận dụng lý luận hàng húa sức lao động của
C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở
nước ta
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt mấy chục năm tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ở nước ta, thị
bên ngoài các quan hệ thị trường. Dù có mang những phẩm chất đặc biệt thế nào đi nữa,
sức lao động vẫn là một thứ hàng hóa để mua bán theo giá trị của nó trên thị trường, xét
trong mối tương quan với các hàng hóa khác và ngay cả với chính nó. Vì vậy, việc tiếp tục
nhận thức, vận dụng hợp lý lý luận hàng hóa sức lao động, về thị trường lao động là một
vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.
Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn việc " Vận dụng lý luận hàng húa sức lao động
của C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta " để làm đề tài nghiên cứu của
luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi nền kinh tế thị trường ở nước ta được hình thành và phát triển, các nhà nghiên
cứu đã có được thực tiễn sinh động để soi rọi lại những vấn đề về kinh tế - xã hội của thời
kỳ quá độ trong đó có vấn đề về hàng hoá sức lao động và thị trường lao động. Có thể nêu
một số tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan xung quanh vấn đề này như sau:
Về hàng hoá sức lao động:
- Phạm Văn Chiến và Phạm Quốc Trung (1990), "Bàn về điều kiện xuất hiện hàng
hoá sức lao động", Giáo dục lý luận, (2), tr.33-34. Bài viết xuất hiện trên diễn đàn - tranh
luận nhằm bảo vệ tính khoa học, lịch sử của lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác. Đặc
biệt là những giả định về điều kiện xuất hiện hàng hóa sức lao động trong điều kiện của
Việt Nam.
- Lê Minh Vụ (1993), "Suy nghĩ về hàng hoá sức lao động trong thời kỳ quá độ ở
Việt Nam", Quốc phòng toàn dân, (9), tr.29-32. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở khoa học
trong việc xác định sức lao động là hàng hóa với điều kiện cụ thể của Việt Nam và đi đến
kết luận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường thì sức lao động phải là hàng hóa.
- Mai Trung Hậu (1990), "Bàn về hàng hóa sức lao động", Giáo dục lý luận, (7),
tr.31, 33. Bài viết phân tích phạm trù hàng hóa sức lao động và khẳng định tính tất yếu
khách quan của hàng hóa sức lao động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
Về thị trường lao động:
- Nguyễn Thị Lan Hương (2002), Thị trường lao động Việt Nam định hướng và
phát triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Tác giả trình bày các luận cứ cơ bản định hướng
pháp đưa ra trước đây cũng ít nhiều không thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
mới cần được điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu của thực tiễn kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, luận văn muốn nghiên cứu, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của
C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta như một đề tài chuyên sâu dưới góc độ
khoa học Kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu làm rõ tính khách quan, khoa học của lý luận hàng hoá - sức lao động
của C.Mác và việc phát triển thị trường lao động ở nước ta. Qua đó, phát hiện ra những
nhận thức còn hạn chế về lý luận hàng hoá sức lao động, đưa ra những quan điểm cơ bản,
các giải pháp trong quá trình tiếp tục nhận thức lý luận và vận dụng vào thực tiễn phát
triển thị trường lao động ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác và tất yếu khách quan
của việc tồn tại hàng hóa sức lao động trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hoá - sức lao động của C.Mác
trong việc phát triển thị trường lao động ở nước ta.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản trong việc phát triển thị trường lao
động ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn lấy lý luận hàng hoá - sức lao động của C.Mác và quá trình hình thành,
phát triển thị trường lao động của nước ta làm đối tượng nghiên cứu.
- Luận văn tập trung phân tích những nội dung cơ bản trong lý luận hàng hoá - sức
lao động của C.Mác và tính tất yếu khách quan của quá trình phát triển thị trường lao động
ở nước ta.
- Phân tích thực trạng việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động trong việc phát
triển thị trường lao động ở Việt Nam. Những số liệu chủ yếu và ví dụ minh họa từ thời kỳ
đổi mới đến nay.
Như định nghĩa này của C.Mác thì sức lao động đã xuất hiện từ lâu, cùng với sự
xuất hiện của con người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt
cho bản thân. Trải qua quá trình lâu dài, sức lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, thể
hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. ở mọi thời kỳ, mọi nơi có tiến hành sản
xuất đều có sự tồn tại của sức lao động. Nhưng sức lao động trở thành hàng hoá lại là đặc thù
của một thời kỳ phát triển lịch sử, "trạng thái của một xã hội trong đó người công nhân xuất
hiện trên thị trường hàng hoá làm người bán sức lao động của bản thân mình, bỏ cách rất xa
các trạng thái xã hội của thời kỳ nguyên thuỷ" [24, tr.266].
Nếu không kể tới thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ thì trong một thời gian dài, sức lao
động cùng với người có sức lao động bị cột chặt vào chủ nô và địa chủ phong kiến. Người
nô lệ thì bị áp đặt lao động cưỡng bức, bị đối xử như một công cụ biết nói và chịu sự chi
phối hoàn toàn về mọi mặt của chủ nô. Còn người nông dân tá điền, tuy không bị lệ thuộc
hoàn toàn vào địa chủ, nhưng họ lại không được quyền tự do di chuyển, lựa chọn chủ đất
làm thuê. Sức lao động trong thời kỳ phong kiến đã manh nha trở thành hàng hoá nhưng
lại bị chặn bởi sự bóc lột siêu kinh tế, dưới bạo lực của địa chủ phong kiến trấn áp. Người
lao động có sức lao động chỉ làm thuê cho một địa chủ và chịu sự áp đặt tiền công mà
không có quyền định giá cả của nó. Điều này đã làm cho sức lao động không phải được
thuê mua mà là bị áp bức cung cấp, nên sức lao động không thể trở thành hàng hoá được.
Quan hệ sản xuất phong kiến đã trở thành lực cản cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất càng phát triển càng làm cho xã hội phong kiến thêm bất ổn
định và quan hệ sản xuất phong kiến phải nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới, tiên tiến
hơn mà cơ sở cho sự ra đời của phương thức sản xuất đó chính là sản xuất hàng hoá giản
đơn đã được chuẩn bị sẵn chính trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phân công
lao động xã hội đã làm cho kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển nhanh hơn, chuyển sang
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà nền tảng là chế độ lao động làm thuê và sự bóc lột sức lao
động của các ông chủ tư sản.
Dưới tác động của quy luật giá trị, những người sản xuất nhỏ, lạc hậu, sản xuất với
chi phí cao, sản phẩm ít phong phú đã không thể tồn tại được trong nền kinh tế hàng hoá
phát triển. Những người sử dụng kỹ thuật cao hơn, vớilượng hao phí lao động cần thiết ít
thể, nếu có tư liệu sản xuất, họ sẽ tự sản xuất ra sản phẩm để mang đi bán chứ không
bán sức lao động như C.Mác đã nói:
Người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng
hoá, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chi phối được sức
lao động của mình với tư cách là một hàng hoá, với mặt khác anh ta không còn
có một hàng hoá nào để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn
không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình [24, tr.253].
Hai điều kiện trên thuộc về bản thân người sở hữu sức lao động, tạo ra cho họ
quyền tự định đoạt việc bán sức lao động của mình.
Điều kiện thứ ba để đảm bảo sức lao động là hàng hoá, đó là người lao động chỉ bán
sức lao động của mình trong một thời gian nhất định. Thời gian đó được người mua và
người bán hàng hoá sức lao động thoả thuận trên thị trường và được thể hiện trên hợp đồng
để nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó. Như C.Mác đã nói:
Người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong
một thời gian nhất định thôi, bởi vì anh ta bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy
trong một lần thì anh ta bán cả bản thân anh ta, và từ chỗ là một người tự do,
anh ta sẽ trở thành một người nô lệ, từ chỗ là một người chủ hàng hoá, anh ta sẽ
trở thành một hàng hoá. Với tư cách là một con người, anh ta phải thường xuyên
duy trì mối quan hệ đối với sức lao động của mình như là đối với vật sở hữu của
mình và vì vậy như là đối với một hàng hoá của bản thân mình. Điều đó chỉ có
thể thực hiện được trong chừng mực anh ta bao giờ cũng chỉ để cho người mua
sử dụng hoặc tiêu dùng sức lao động của mình một cách nhất thời, trong một
thời hạn nhất định thôi, do đó chỉ trong chừng mực là khi bán sức lao động, anh
ta vẫn không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động ấy [24, tr.251-252].
Điều kiện thứ tư là luôn tồn tại một lớp người sẵn sàng mua sức lao động trên thị
trường - đó là các nhà tư bản. Một loại hàng hoá đưa ra trên thị trường làm đối tượng cho
quá trình trao đổi thì cần phải có chủ thể và khách thể của quá trình trao đổi. Chủ thể của
việc bán sức lao động là người công nhân, còn khách thể là nhà tư bản. Quá trình trao đổi
giữa lao động sống với lao động vật hoá đã làm xuất hiện người lao động ở phía này và
Là một hàng hoá được mua bán trên thị trường, cho nên hàng hoá sức lao động
cũng có giá trị và giá trị sử dụng như những hàng hoá thông thường khác. Tuy nhiên, là
một hàng hoá đặc biệt, hàng hoá sức lao động có tính chất khác xa so với những hàng hoá
thông thường khác.
* Về giá trị sức lao động:
Giá trị sức lao động được quyết định bởi lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất ra sức lao động. Nhưng sức lao động là khả năng lao động, nên số thời gian lao
động cần thiết kết tinh trong nó chính là do giá trị của những tư liệu sinh hoạt mà người có
sức lao động ấy đã tiêu dùng tạo thành. Để duy trì, tái tạo sức lao động của mình, con
người đã sử dụng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định nên "giá trị của sức lao động là do
giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết của một người lao động trung bình quyết định"
[24, tr.732].
C.Mác cho rằng, sức lao động chỉ được sản xuất ra trong một con người đang sống.
Vì vậy, việc sản xuất ra sức lao động chỉ có thể xảy ra khi có sự tồn tại của con người đó,
hay chính là việc duy trì cuộc sống của con người đó. Những tư liệu sinh hoạt mà người có
sức lao động sử dụng hàng ngày cũng có một lượng giá trị nhất định và lượng giá trị đó trở
thành đại lượng quyết định giá trị của sức lao động. "Giá trị của sức lao động được quy thành
giá trị của một tổng số những tư liệu sinh hoạt nhất định. Vì vậy, giá trị ấy thay đổi cùng với
sự thay đổi của giá trị các tư liệu sinh hoạt đó, nghĩa là cùng với sự thay đổi đại lượng thời
gian lao động cần thiết để sản xuất ra chúng" [24, tr.258]. Điều này phụ thuộc vào trình độ
văn minh của mỗi nước trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Ngoài ra, quy mô của tư
liệu sinh hoạt cần thiết và phương thức thoả mãn những nhu cầu về tư liệu sinh hoạt cần
thiết đó lại phụ thuộc vào điều kiện sống và thói quen sinh hoạt của người lao động đó; do
đó, "việc quy định giá trị sức lao động bao hàm một yếu tố lịch sử và tinh thần. Nhưng, đối
với một nước nhất định và đối với một thời kỳ nhất định, thì tính trung bình, quy mô của
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định" [24,
tr.256-257].
Người sở hữu sức lao động có thể chết đi và cần có người thay thế, nối dõi nên sức
lao động phải thường xuyên được thay thế bằng những sức lao động mới; điều này khẳng
Trên thị trường, người công nhân và nhà tư bản thoả thuận với nhau về giá cả sức
lao động cũng như những điều kiện của lao động. Bước ra ngoài thị trường sức lao động,
hay khỏi quá trình lưu thông thì sức lao động đã hoàn toàn là của nhà tư bản. Lúc này mới
chính là lúc giá trị sử dụng của sức lao động biểu hiện. C.Mác đã viết: "Giá trị của nó cũng
như giá trị của bất cứ hàng hoá nào khác, đã được quyết định trước khi nó đi vào lưu
thông , nhưng giá trị sử dụng của sức lao động thì chỉ bao hàm ở những biểu hiện sau này
của sức đó mà thôi" [24, tr.260].
Giá trị sử dụng của sức lao động là tính có ích của sức lao động thoả mãn nhu cầu
sản xuất của nhà tư bản. Nhà tư bản cần có sức lao động của người công nhân kết hợp với
tư liệu sản xuất của mình để tạo ra giá trị sử dụng, tạo ra các hàng hoá. Chính vì vậy, mà
tính có ích của sức lao động chỉ được thể hiện ra trong quá trình sản xuất. Người lao động
bán sức lao động bằng cách lao động sản xuất theo yêu cầu của người mua. Người mua
tiêu dùng sức lao động là nhằm sử dụng tính có ích của sức lao động. Đặc tính có ích của
sức lao động không chỉ là năng lực tạo ra các giá trị sử dụng mà "cái có ý nghĩa quyết định
là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó, là cái đặc tính của nó làm một nguồn sinh
ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Đó là sự
phục vụ đặc biệt mà nhà tư bản mong chờ ở nó" [24, tr.289-290].
Người mua bán sức lao động thực hiện giá trị trao đổi của sức lao động và nhượng
lại giá trị sử dụng của sức lao động đó. Anh ta không thể nhận được giá trị trao đổi mà lại
không chuyển nhượng giá trị sử dụng. Người mua đã phải trả giá trị hàng ngày của sức lao
động, vì vậy, việc tiêu dùng sức lao động ấy trong một ngày là thuộc quyền của anh ta; và
nhà tư bản biết được rằng "chi phí hằng ngày để duy trì sức lao động và sự tiêu phí sức lao
động ấy trong một ngày - đó là hai đại lượng hoàn toàn khác nhau. Đại lượng thứ nhất quyết
định giá trị trao đổi của nó, đại lượng thứ hai tạo thành giá trị sử dụng của nó" [24, tr.289].
Điều này cũng có nghĩa là giá trị của sức lao động và giá trị được tạo ra trong quá trình sử
dụng sức lao động là hai đại lượng khác nhau. Chính nhà tư bản đã nhằm vào sự chênh lệch
và giá trị đó khi mua sức lao động; và do đó mới chính là tính có ích thật sự của sức lao
động đối với nhà tư bản.
Tính có ích của sức lao động "chỉ thật sự được thực hiện, tức chỉ thật sự tạo ra một
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động"
[19, tr.171].
Trên bề mặt của xã hội TBCN, giá trị sức lao động được thể hiện ra thành tiền công
và được lầm hiểu rằng đó là "một số lượng tiền nhất định trả cho một số lượng lao động
nhất định" [24, tr.754]; nhưng thật ra, người công nhân không bán lao động mà bán sức lao
động. Sức lao động hay năng lực lao động "là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi
khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó"; còn lao động là "quá trình tiêu dùng sức lao
động là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt
động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa
họ và tự nhiên" [24, tr.265-266]. Hai khái niệm này khác nhau, nhưng có mối quan hệ với
nhau. Vì lao động không thể trở thành hiện thực, nếu không có sức lao động và muốn sức
lao động được thực hiện thì phải có lao động. Lao động, đó là một quá trình tạo ra của cải
vật chất và tinh thần, cùng các loại dịch vụ. Quá trình này được bắt đầu sau khi sự giao
dịch trên thị trường hàng hoá sức lao động đã được ký kết, quan hệ thị trường kết thúc và
quá trình sản xuất được bắt đầu. Để trở thành hàng hoá thì đối tượng phải có sẵn trước khi
bán, nhưng đối với lao động thì lại không diễn ra như vậy. Khi bán thì hàng hoá sẽ chuyển
từ người bán sang người mua. Với lao động chúng ta cũng không thấy sự chuyển đổi này.
Vì vậy, quan điểm cho rằng, trên thị trường lao động được bán chính bản thân "lao động"
là không chính xác hay nói cách khác là không có cơ sở khoa học.
C.Mác hoàn toàn bác bỏ luận điệu cho rằng tiền công là giá cả của lao động. Bởi vì,
nếu nói như thế sẽ trở nên vô nghĩa, sẽ bị cuốn vào cái vòng luẩn quẩn, lao động sẽ là hàng
hoá. "Trong cách nói: "giá trị của lao động", khái niệm giá trị không những hoàn toàn mất
đi, mà còn biến thành cái đối lập với nó. Đó là một lời nói giả tưởng" [24, tr.757]. Sự giả
tưởng này thể hiện ở những điều vô lý như sau:
Một là, nếu tiền công là giá cả của lao động thì lao động phải là hàng hoá như mọi
hàng hoá khác phải có giá trị. Lượng giá trị của mọi hàng hoá là do lượng lao động chứa
đựng trong hàng hoá quy định. Vậy chẳng lẽ giá trị của lao động lại chính là lao động kết
tinh trong lao động. Đây là điều trùng lắp vô nghĩa. Thật ra, khi lao động được thừa nhận
bản thuê công nhân làm việc trong suốt thời gian lao động, và với cách nhìn tiền công là
giá cả lao động thì tiền công lại không phụ thuộc vào giá trị bản thân sức lao động, hay
thời gian lao động một ngày. Chính vì vậy mà "tiền công đã xóa bỏ mọi vết tích phân chia
ngày lao động ra thành lao động cần thiết và lao động thặng dư thành lao động được trả
công và lao động không công. Toàn bộ lao động thể hiện ra như là lao động được trả công"
[24, tr.761]. Quan hệ tiền tệ đã che mất lao động không công của người công nhân làm
thuê. "Do bản chất của nó, tiền công đòi hỏi người lao động bao giờ cũng phải cung cấp
một số lượng lao động không công nhất định" [24, tr.872].
Sự chuyển hoá của giá trị sức lao động thành tiền công đã giúp tạo ra ảo tưởng về
quan hệ tự do, bình đẳng trong quan hệ mua - bán sức lao động giữa nhà tư bản và công
nhân. Thực tế đó là mối quan hệ bất bình đẳng giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê, vì
người công nhân đã tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân sức lao động của mình
khi được nhà tư bản sử dụng trong quá trình sản xuất.
Bản thân tiền công cũng có rất nhiều hình thức khác nhau, nhưng cơ bản vẫn là hình
thức tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.
Theo C.Mác "sức lao động bao giờ cũng được bán trong một kỳ nhất định. Vì vậy,
cái hình thức chuyển hoá trong đó giá trị hàng ngày, hàng tuần của sức lao động trực tiếp
biểu hiện là hình thức tiền công tính theo thời gian" [24, tr.766]. Như vậy, tiền công tính
theo thời gian là sự biểu hiện bằng tiền giá trị của giá trị sức lao động theo ngày, tuần
Quy luật chung của tiền công theo thời gian là:
Nếu số lượng lao động hàng ngày hay hàng tuần, đã cho sẵn thì tiền
công ngày hay tiền công tuần phụ thuộc vào giá cả sức lao động, bản thân giá
cả này lại biến đổi cùng với giá trị sức lao động hay cùng với những chênh lệch
của giá cả sức lao động so với giá trị của nó. Ngược lại, nếu giá cả lao động đã
cho sẵn, thì tiền công ngày hay tiền công tuần phụ thuộc vào số lượng lao động
hàng ngày hay hàng tuần [24, tr.769].
Khi tiền công ngày hay tuần tăng thì giá cả sức lao động có thể không thay đổi về
danh nghĩa, tuy vậy, nó vẫn có thể tụt xuống dưới mức bình thường của nó. Điều này xảy
ra khi giá cả của giờ lao động không thay đổi, nhưng ngày lao động bị kéo dài quá mức
1.1.4. Thị trường sức lao động
Theo C.Mác, "muốn cho người chủ tiền tìm được trên thị trường một sức lao động
với tư cách là hàng hoá thì một số những điều kiện khác nhau phải được thực hiện" [24,
tr.251]. Đó là:
Thứ nhất:
Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể bán được nó với tư cách là
hàng hoá, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó,
người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình.
Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư
cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác ở chỗ một
người thì mua, còn người kia thì bán, và vì thế cả hai đều là những người bình
đẳng về mặt pháp lý. Muốn duy trì mối quan hệ ấy, người sở hữu sức lao động
bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định thôi [24,
tr.251-252].
Thứ hai, "người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hàng hoá
trong đó lao động của anh ta được vật hoá, mà trái lại, anh ta buộc phải đem bán, với tư
cách là hàng hoá, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ở cơ thể sống của anh ta thôi"
[24, tr.252-253].
Theo sự phân tích của C.Mác, người lao động bán sức lao động cho nhà tư bản
nhưng không từ bỏ quyền sở hữu sức lao động của mình, chính vì vậy thực chất mối quan
hệ mua - bán hàng hoá sức lao động giữa nhà tư bản và công nhân là mua bán quyền sử dụng
sức lao động trong một thời gian nhất định. Nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động này gọi
là thị trường sức lao động.
Như vậy là để chuyển hoá tiền thành tư bản, người chủ tiền phải tìm được
người lao động tự do ở trên thị trường hàng hoá Tại sao người lao động tự do
ấy lại đứng đối diện với người chủ tiền trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy
không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với
tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng hoá [24, tr.253].
Thị trường sức lao động là nơi diễn ra quan hệ mua bán hàng hoá sức lao động giữa
số ngày càng nhanh cùng với sự tăng lên của đại lượng ấy. Bởi do tư bản phụ thêm hình thành
trong tiến trình tích luỹ chủ yếu được dùng làm phương tiện cải tiến hơn về kỹ thuật cũng như
sự đổi mới của tư bản cũ khiến cho một khối lượng lao động ít hơn cũng đủ để vận dụng một
khối lượng máy móc và nguyên liệu lớn hơn.
Như vậy, một mặt số tư bản phụ thêm được hình thành trong quá trình tích luỹ ngày
càng thu hút ít người lao động hơn so với đại lượng của nó. Mặt khác, số tư bản cũ được
tái sản xuất ra một cách chu kỳ trong kết cấu mới, lại gạt bỏ một số ngày càng nhiều những
người lao động mà trước đó nó đã dùng.
Có thể thấy, quá trình tích luỹ tư bản, một mặt làm tăng thêm lượng cầu về lao
động, mặt khác lại làm tăng thêm lượng cung về công nhân bằng cách "giải phóng" công
nhân, trong khi đó sức ép của những công nhân không có việc làm lại buộc những người
có việc làm bỏ ra nhiều lao động hơn, và như vậy làm cho lượng cung về lao động độc lập
đến một mức độ nhất định đối với lượng cung về công nhân.
Trên thị trường sức lao động, chứa đựng quan hệ cạnh tranh giữa công nhân với
công nhân và giữa công nhân với nhà tư bản.
Nếu một công nhân làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai lần so với bình thường, thì
số cung về lao động tăng lên mặc dù số cung về sức lao động trên thị trường không
tăng, tức lượng cầu về sức lao động của nhà tư bản không thay đổi. Lúc đó, do lao
động quá mức của bộ phận có việc làm trong giai cấp công nhân làm tăng thêm hàng
ngũ của đội quân trừ bị của giai cấp ấy, trong khi đó thì ngược lại, áp lực mạnh mẽ
gấp bội có sự cạnh tranh của đội quan trừ bị này đối với công nhân có việc làm lại
buộc họ phải lao động quá mức và phục tùng mệnh lệnh của tư bản. Việc buộc một
bộ phận này của giai cấp công nhân phải ăn không ngồi rồi vì có một bộ phận khác
lao động quá mức và ngược lại, đã trở thành một thủ đoạn làm giàu của các nhà tư
bản cá biệt và đồng thời thúc đẩy nhanh việc sản xuất ra đội quân thất nghiệp trừ bị
theo một quy mô tương ứng với sự tiến triển của tích luỹ xã hội [24, tr.900].
Sự vận động của quy luật cung cầu về lao động trên cơ sở đó làm cho sự
chuyên chế của tư bản trở nên hoàn chỉnh. Vì vậy, khi công nhân phát hiện được
cái điều bí ẩn là tại sao họ càng làm lụng nhiều, càng sản xuất ra nhiều của cải cho
các quy luật cơ bản là quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Các quan
hệ mang tính áp đặt, cống nạp, cưỡng đoạt của kinh tế tự nhiên đã được thay bằng quan hệ
thị trường ngang giá, trao đổi hàng hoá - tiền tệ. Lực lượng sản xuất phát triển được hỗ trợ
bởi một hệ thống các thể chế thị trường nhằm đảm bảo cho nền kinh tế vận hành một cách
có hiệu quả nhất.
Kinh tế thị trường là một sự phát triển mang tính tất yếu. Sự hiện diện của kinh tế
thị trường tại tất cả các quốc gia trên thế giới cho thấy kinh tế thị trường có sức sống mãnh
liệt và là bước phát triển tự nhiên mang tính quy luật trong lịch sử nhân loại. Từ những
mầm mống phát sinh trong nền kinh tế phong kiến, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã
phá vỡ những kết cấu phong kiến; thúc đẩy tự do hoá kinh tế và thiết lập vững chắc quan
hệ hàng hoá - tiền tệ. Tích luỹ tư bản, quá trình công nghiệp hoá đã biến mọi yếu tố của
sản xuất thành hàng hoá.
Sức lao động là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất xã hội, vì vậy ở bất kỳ xã hội
nào cũng đều tồn tại sức lao động chứ không phụ thuộc vào giai đoạn hay trình độ phát
triển của xã hội đó. Nhưng chỉ trong những điều kiện nhất định thì sức lao động mới trở
thành hàng hoá và được mua bán trên thị trường như những hàng hoá khác. Như C.Mác đã
khẳng định: Sức lao động trở thành hàng hoá khi người lao động được tự do về thân thể và
không có tư liệu sản xuất. Điều này hoàn toàn đúng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, lúc đó sức lao động của những người làm thuê đều đã trở thành hàng hoá. Tiền
công nói chung cũng như tiền lương nói riêng chẳng phải gì khác hơn là giá cả sức lao
động. Với tư cách là giá cả sức lao động cũng như các loại giá khác về nguyên tắc tiền
công hay tiền lương phải phản ánh giá trị sức lao động và được hình thành trên thị trường,
chủ yếu do tương quan cung cầu sức lao động trên thị trường quyết định.
Như vậy, xuất phát từ cả hai phía: lợi ích của người lao động và lợi ích của xã hội
mà thị trường sức lao động hình thành và phát triển. Thừa nhận sức lao động là hàng hoá là
một tất yếu theo xu hướng vận động khách quan của nền kinh tế hàng hoá.
Dưới chế độ XHCN, sức lao động là hàng hoá cũng là tất yếu khách quan, bởi lẽ
tính chất đặc trưng của sức lao động trong điều kiện CNXH chủ yếu bắt nguồn từ lý luận
CNCS khoa học của C.Mác, quan hệ lao động mà C.Mác trình bày dựa trên cơ sở lý luận
thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng" [35, tr.7]. Như
vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì lẽ tất nhiên sức lao động vẫn là
hàng hoá, đó là sự thật không có cách nào phủ nhận được.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, hàng hoá sức lao động tồn tại trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải được nhìn nhận một cách khách quan, đúng
quy luật vận động của nó, bởi lẽ:
- Quá trình vận động của kinh tế hàng hoá dù muốn hay không thì các yếu tố của
quá trình sản xuất và lưu thông cũng đều chịu sự chi phối của quy luật sản xuất và lưu
thông hàng hoá (quy luật giá trị, giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh ). Khi cầu
về sức lao động xuất hiện thì "tín hiệu" đó sẽ được phát ra trên thị trường và tất nhiên sẽ có
cung sức lao động đáp ứng. Cung - cầu sức lao động gặp nhau trên thị trường thì hành vi