LỜI CAM KẾT
Kính gửi: - Trường Đại học Kinh tế quốc dân
- Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế
Tên em là Nguyễn Thị Hoài Thu
Sinh viên lớp Thương mại quốc tế 47
Em xin cam kết rằng bài viết dưới đây là do bản thân em dựa trên cơ sở
phân tích, tổng hợp các tài liệu tham khảo và những thông tin số liệu có thật của
công ty XNK Intimex cung cấp để hoàn thành luận văn này.
Nếu sao chép đề tài của người khác thực hiện em xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài Thu
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ KÊNH PHÂN PHỐI........................6
I. Khái quát về kênh phân phối .........................................................................................6
1. Định nghĩa và các loại kênh phân phối...................................................6
2. Cấu trúc kênh phân phối.........................................................................9
3. Chức năng và vai trò của kênh phân phối.............................................12
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xây dựng kênh phân phối............13
5. Quản lý kênh phân phối........................................................................14
II. Kinh nghiệm phát triển kênh phân phối hàng hóa của một số quốc gia................19
1. Hệ thống phân phối của Nhật Bản........................................................19
2. Hệ thống phân phối hàng hóa của Hoa Kỳ và Châu Âu........................21
3. Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam................................23
III. Giới thiệu về công ty XNK Intimex..........................................................................24
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty XNK Intimex..................24
2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các lĩnh vực kinh doanh của
II. Một số giải pháp phát triển kênh phân phối ............................................................59
1. Nhóm giải pháp của công ty XNK Intimex...........................................59
2. Một số kiến nghị nhằm hỗ trợ phát triển kênh phân phối từ phía Nhà
nước......................................................................................................69
KẾT LUẬN74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................74
LỜI MỞ ĐẦU
Suy thoái kinh tế và tài chính toàn cầu không ngừng tác động tiêu cực tới
sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới, kéo theo đó là nhu cầu nhập
khẩu hàng hóa sẽ giảm mạnh. Điều này tất yếu sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
3
của nước ta. Vì vậy, để giảm bớt sự phụ thuộc vào xuất khẩu trong giai đoạn
hiện nay thì việc ưu tiên hướng về thị trường nội địa đang là giải pháp đúng đắn
và được Nhà nước tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi. Nhận thức được vai trò vô
cùng quan trọng của việc phát triển thị trường nội địa, thúc đẩy tiêu thụ hàng
hóa nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp
Việt Nam hoà mình vào bối cảnh kinh tế mới với cùng một mục tiêu là phát
triển và hoàn thiện hệ thống kênh phân phối của mình ngay tại thị trường trong
nước. Tuy nhiên khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường phân phối vào ngày
1-1-2009 theo cam kết gia nhập WTO thì việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực phân phối trong nước với các tập đoàn lớn mạnh và có
tiếng tăm trên thế giới sẽ khốc liệt và khó khăn hơn rất nhiều.
Công ty XNK Intimex với tư cách là một trong các doanh nghiệp đứng
đầu trong lĩnh vực phân phối hàng hóa trên thị trường nội địa, bên cạnh việc
không ngừng tìm tòi lối đi mới, thị trường mới cho các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực, công ty còn đề ra chiến lược phát triển và hoàn thiện hệ thống kênh phân
phối trong mạng lưới kinh doanh nội địa của mình trong điều kiện kinh tế đầy
khó khăn của năm 2009 và các năm tiếp theo.
Trong quá trình thực tập tại công ty XNK Intimex, được sự hướng dẫn,
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ KÊNH PHÂN PHỐI
I. Khái quát về kênh phân phối
1. Định nghĩa và các loại kênh phân phối
1.1. Định nghĩa kênh phân phối
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kênh phân phối. Tuy nhiên,
không có một định nghĩa nào có thể thoả mãn được tất cả các đối tượng quan
tâm. Bởi vậy, trước khi đưa ra định nghĩa về kênh phân phối, cần phải xác định
quan điểm của người nghiên cứu. Người sản xuất có thể định nghĩa kênh phân
phối như các hình thức di chuyển sản phẩm qua các hình thức trung gian khác
nhau vì họ quan tâm đến các loại trung gian thương mại cần sử dụng để đưa sản
phẩm của họ đến người tiêu dùng. Những người trung gian phân phối lại có thể
mô tả kênh phân phối như là dòng chảy quyền sở hữu hàng hóa. Người tiêu
dùng thì lại quan niệm một cách đơn giản hơn. Họ cho rằng kênh phân phối là
các loại trung gian đứng giữa họ và người sản xuất. Mặt khác, dưới góc độ của
nhà quản trị ở doanh nghiệp, kênh phân phối được định nghĩa là “một tổ chức hệ
thống các quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân bên ngoài để quản lý các
hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị
trường của doanh nghiệp”
1
. Đây cũng là quan điểm mà chuyên đề hướng tới.
1.2. Các loại kênh phân phối
Các kênh phân phối được phân loại dựa trên sự phát triển mức độ phụ thuộc
lẫn nhau được thừa nhận của các thành viên kênh. Giáo trình Quản trị kênh phân
phối – PGS. TS Trương Đình Chiến – NXB Đại học KTQD năm 2008 có trình
bày ba hình thức tổ chức kênh là: (1) các kênh đơn, (2) các kênh tự nhiên hay
truyền thống, (3) hệ thống phân phối liên kết theo chiều dọc với nội dung cơ bản
như sau:
1
: Giáo trình Quản trị kênh phân phối - Chủ biên: PGS.TS Trương Đình Chiến - NXB ĐH
kinh doanh
7
Các kênh đơn và
kênh truyền thống
1.2.2. Các kênh truyền thống
Các kênh được xếp loại là kênh truyền thống được biểu hiện như các dòng
chảy hàng hoá/dịch vụ tự do. Các quan hệ buôn bán giữa các thành viên trong
kênh truyền thống kém vững chắc qua thời gian. Nhiều thành viên sẽ tự rời bỏ
kênh nếu thấy lợi ích không còn. Bởi vậy, các kênh truyền thống có thể bị phá
vỡ nhanh chóng bởi một thành viên nào đó khi họ thấy quan hệ kinh doanh đã
mất đi tính hấp dẫn. Nhược điểm của kênh truyền thống là thiếu sự lãnh đạo tập
trung, hiệu quả hoạt động kém và có nhiều xung đột tai hại.
1.2.3. Hệ thống kênh phân phối liên kết chiều dọc (Vertical
marketing system-VMS)
Các hệ thống phân phối liên kết dọc là các kênh phân phối có chương trình
trọng tâm và quản lý chuyên nghiệp, được thiết kế để đạt hiệu quả phân phối và
ảnh hưởng marketing tối đa tới thị trường mục tiêu. Các thành viên kênh có sự
liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất.
Các hệ thống phân phối chiều dọc có thể được phân loại thành kênh VMS
tập đoàn, kênh VMS hợp đồng và kênh VMS được quản lý.
Kênh VMS tập đoàn
Kênh liên kết dọc tập đoàn là kết quả của sự mở rộng một tổ chức theo
chiều dọc ngược lên phía trên từ nhà bán lẻ hoặc xuôi xuống phía dưới từ nhà
sản xuất. Kênh VMS tập đoàn hoạt động như một doanh nghiệp độc lập nhờ
hiệu lực của quyền sở hữu, có phạm vi chi phối thị trường rất lớn, đảm nhiệm
việc phân phối một khối lượng lớn hàng hóa, giữ vai trò quan trọng trong điều
hòa cung cầu trên thị trường ở từng khu vực cũng như cả nước.
Kênh VMS hợp đồng
Kênh VMS hợp đồng là kênh phân phối trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các thành viên được xác định trong một hợp đồng thông thường. Mỗi đại lý
bảo chia sẻ lợi ích cho các bên trong thời gian dài.
2. Cấu trúc kênh phân phối
PGS.TS Trương Đình Chiến trong giáo trình Quản trị kênh phân phối
(NXB ĐH KTQD năm 2008) đã đưa ra định nghĩa về cấu trúc kênh phân phối
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
9
như sau: “Cấu trúc kênh phân phối là một nhóm các thành viên của kênh mà tập
hợp các công việc phân phối được phân chia cho họ. Các cấu trúc kênh khác
nhau có cách phân chia các công việc phân phối cho các thành viên kênh khác
nhau”.
Đồng thời, tác giả còn đề cập đến 3 yếu tố cơ bản thường phản ánh cấu trúc
của một kênh phân phối là:
- Chiều dài của kênh: được xác định bởi số cấp độ trung gian có mặt trong
kênh. Khi số cấp độ trung gian trong kênh tăng lên thì chiều dài của kênh cũng
tăng lên.
- Chiều rộng của kênh: biểu hiện ở số lượng các trung gian thương mại ở
mỗi cấp độ của kênh. Số lượng thành viên kênh ở mỗi cấp độ trung gian trong
kênh có thể biến thiên từ một đến vô số. Theo chiều rộng của kênh, có ba
phương thức phân phối chủ yếu: phân phối rộng rãi, phân phối chọn lọc và phân
phối độc quyền.
- Các loại trung gian ở mỗi cấp độ của kênh: ở một cấp độ trung gian trong
kênh có thể có nhiều loại trung gian thương mại cùng tham gia phân phối sản
phẩm.
Sơ đồ 2: Sơ đồ biểu diễn các dạng cấu trúc kênh thường gặp
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
Người SX
Đại lý
Người b.buôn
Người bán lẻ
Người SX
thông tin thị trường; Trợ giúp khách hàng.
• Trung gian bán buôn thực hiện các công việc
phân phối sau đây cho khách hàng của họ: Đảm bảo sự sẵn sàng của sản phẩm;
Cung cấp dịch vụ khách hàng; Thực hiện tín dụng và trợ cấp tài chính; Đưa ra
tập hợp hàng hóa phù hợp; Chia nhỏ hàng hóa; Tư vấn và trợ giúp kĩ thuật cho
người tiêu dùng.
- Những người trung gian bán lẻ: Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
11
kinh doanh bán hàng cho tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch vụ cho
thuê bổ trợ cho việc bán hàng hóa. Các công việc phân phối đặc biệt thích hợp
với người bán lẻ bao gồm:
• Đưa ra sự hỗ trợ về con người và vật chất để người sản xuất và người bán
buôn có thể có nhiều điểm tiếp xúc với khách hàng.
• Cung cấp việc bán hàng cá nhân, quảng cáo và trưng bày để bán các sản
phẩm của người sản xuất.
• Phát hiện nhu cầu tiêu dùng và truyền những thông tin này trở lại qua kênh.
• Phân chia số lượng lớn hàng hóa thành nhiều lượng nhỏ để phù hợp với
nhu cầu tiêu dùng, qua đó tiết kiệm cho người sản xuất và tạo thuận lợi cho
người tiêu dùng.
• Thực hiện dự trữ tồn kho để người cung cấp có thể có dự trữ tồn kho
rộng lớn sản phẩm của họ ở chi phí thấp, đồng thời cho phép người tiêu dùng
tiếp xúc tiện lợi nhất với sản phẩm của người sản xuất và người bán buôn.
• San sẻ rủi ro cho người sản xuất hay bán buôn bằng việc đề nghị và chấp
nhận phân phối trước mùa tiêu thụ.
- Các tổ chức bổ trợ: là các công ty kinh doanh cung cấp các dịch vụ trợ
giúp cho việc thực hiện các công việc phân phối khác ngoài mua, bán và chuyển
quyền sở hữu như các tổ chức vận tải, các công ty kho hàng, các đại lý quảng
cáo, các tổ chức tài chính, bảo hiểm, nghiên cứu thị trường…Bằng việc phân
chia hợp lý các công việc phân phối cho các tổ chức bổ trợ, người quản lý kênh
và phân công lao động nên nó giúp cho nhà sản xuất và nhà phân phối nâng cao
hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và sử dụng kênh marketing như là một
công cụ cạnh tranh trong nỗ lực thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của những khách
hàng mục tiêu đã lựa chọn.
- Đánh giá giá trị và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường mặc dù kênh
marketing không phải là một cấu trúc nội bộ của doanh nghiệp.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xây dựng kênh phân phối
Trước hết, các doanh nghiệp phải xác định được khi nào cần xây dựng một
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
13
kênh phân phối hoàn toàn mới hay chỉ nên hoàn thiện, cải tiến kênh phân phối
hiện có của mình. Nhận thức được điều này là rất quan trọng nhằm tránh tình
trạng mất công sức và thời gian trong khi kênh phân phối mới không đem lại
được hiệu quả như mong muốn.
Đây là những yếu tố mang tính chung nhất, cần thiết nhất để có thể yêu cầu
quyết định xây dựng kênh phân phối:
- Phát triển sản phẩm mới hoặc dòng sản phẩm mới (nếu kênh hiện tại
không phù hợp).
- Đưa các sản phẩm hiện tại vào thị trường mục tiêu mới.
- Có sự thay đổi cơ bản trong một số biến số của marketing-mix (chính
sách giá mới…).
- Khi thành lập công ty mới.
- Các trung gian thương mại hiện tại thay đổi chính sách của họ làm ảnh
hưởng đến mục tiêu phân phối của công ty (các trung gian thương mại bẳt đầu
sử dụng các nhãn hiệu riêng của họ…).
- Thay đổi khả năng sẵn sàng và hiệu quả kinh doanh của các loại trung
gian thương mại cụ thể.
- Mở ra các khu vực thị trường địa lý mới.
- Xảy ra những sự thay đổi môi trường kinh doanh chủ yếu, có thể ở môi
trường kinh tế, văn hoá, xã hội, cạnh tranh, kỹ thuật hoặc luật pháp.
Tất cả các dòng chảy như đàm phán, tiền tệ, xúc tiến, chuyển quyền sở hữu…
phải được quản lý có hiệu quả để đạt các mục tiêu phân phối của kênh.
- Quản lý kênh là quản lý các hoạt động, các quan hệ ở bên ngoài chứ
không phải nội bộ doanh nghiệp. Do đó đòi hỏi người quản lý kênh phải sử
dụng những biện pháp hoàn toàn khác với những biện pháp quản lý các biến số
marketing khác.
- Mọi vị trí thành viên trong kênh đều có trách nhiệm và khả năng quản lý
kênh ở những mức độ khác nhau.
- Các vị trí thành viên kênh khác nhau có mục tiêu, định hướng quản lý
kênh khác nhau.
2
: Giáo trình Quản trị kênh phân phối - Chủ biên: PGS.TS Trương Đình Chiến - NXB ĐH
KTQD năm 2008 - trang 236
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
15
- Phân biệt quản lý kênh hàng ngày với quản lý kênh về mặt chiến lược.
Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, quản lý dài hạn tập trung vào
những biện pháp có tính chiến lược trong khi quản lý hàng ngày giải quyết
những công việc phân phối cụ thể. Quản lý phân phối hàng ngày tất nhiên sẽ
chịu sự chi phối của quản lý dài hạn.
- Mức độ và khả năng quản lý hệ thống kênh phân phối của các doanh
nghiệp phụ thuộc vào kiểu tổ chức kênh đã xác lập của doanh nghiệp.
5.3. Nội dung của quản trị kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc vào
các dòng chảy của nó có được điều hành thông suốt hay không. Vì thế, trọng
tâm của quản trị kênh phân phối là hoàn thiện quản lý các dòng chảy của nó.
Giáo trình Quản trị kênh phân phối của PGS.TS Trương Đình Chiến – NXB Đại
học Kinh tế quốc dân năm 2008 – xây dựng nội dung quản trị kênh phân phối
với 10 nội dung cơ bản sau:
5.3.1. Xây dựng hệ thống thông tin hoàn chỉnh trong kênh
- Không chuyển sản phẩm trước đến các điểm bán mà dự trữ ở các kho
trung tâm. Hoạt động vận chuyển chỉ được thức hiện khi nhận được đơn đặt
hàng cụ thể, nghĩa là việc phân phối chỉ thực sự diễn ra khi biết chắc về nhu cầu
của thị trường.
5.3.3. Tăng cường dòng xúc tiến
Hoạt động xúc tiến là một công cụ cạnh tranh quan trọng trên thị trường và
là trách nhiệm chung của mọi thành viên trong kênh. Các doanh nghiệp sản xuất
nên phối hợp với các thành viên kênh để xây dựng chương trình hợp tác xúc tiến
một cách có hiệu quả dựa trên sự phối hợp dữ liệu về dân số học và sức mua.
5.3.4. Đổi mới dòng đàm phán
Các doanh nghiệp cần sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để giảm chi
phí cho các công việc giấy tờ và xác lập những hợp đồng đầy đủ, chính xác.
Ngoài ra, các thành viên trong kênh phải nâng cao năng lực đàm phán để thiết
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
17
lập các quan hệ hợp tác hiệu quả. Đồng thời, việc chuyển từ đàm phán theo từng
thương vụ buôn bán đơn lẻ sang đàm phán nhằm đảm bảo quan hệ kinh doanh
lâu dài của cả hệ thống là hết sức cần thiết.
5.3.5. Hoàn thiện dòng thanh toán
Các doanh nghiệp khi tham gia vào kênh phải thiết lập một cơ chế thanh
toán với phương thức và thời gian hợp lý. Chuyển phương thức thanh toán bằng
tiền mặt sang thanh toán chuyển khoản và các phương thức thanh toán hiện đại
qua mạng máy tính. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát quá trình thực hiện dòng
thanh toán, kiểm soát nợ để tránh hiện tượng nợ quá hạn hoặc mất khả năng
thanh toán. Nếu sử dụng hệ thống đặt hàng và thanh toán điện tử trong kênh
phân phối thì chi phí và rủi ro trong hoạt động thanh toán sẽ được giảm bớt.
5.3.6. Quản lý dòng đặt hàng
Để thực hiện tốt hoạt động phân phối hàng ngày, các doanh nghiệp cần
phải xây dựng được quy trình thu thập, tập hợp, giải quyết đơn đặt hàng một
cách tối ưu. Trước mắt, các doanh nghiệp nên nghiên cứu và áp dụng hệ thống
thống văn hoá và điều kiện kinh tế:
- Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản có nhiều cửa hàng bán lẻ với
mật độ rất dày đặc nhưng với quy mô nhỏ. Những cửa hàng bán lẻ này thường
sử dụng trung bình từ 1- 49 nhân viên và có mật độ khoảng 13 cửa hàng cho
1.000 dân cư, cao hơn so với tỷ lệ 8,7 cửa hàng cho 1.000 dân Pháp, 6,6 ở Đức,
6,5 ở Mỹ và 6,1 ở Anh. Nếu tính về số lượng các cửa hàng bán lẻ, Nhật Bản có
1,6 triệu của hàng bán lẻ so với 1,5 triệu cửa hàng của Mỹ. Trong khi đó, Mỹ có
số dân lớn gấp hơn 2,1 lần và diện tích lớn gấp 25 lần của Nhật Bản. Các cửa
hàng bán lẻ thực phẩm nhỏ tồn tại phổ biến và rộng khắp Nhật Bản với diện tích
bán lẻ hàng thực phẩm là 307 m2 trên 1.000 dân cư (so với Đức và Pháp là 200
m2 và Anh là 100 m2). Hệ thống bán lẻ của Nhật Bản bao gồm các loại cửa
hàng sau:
• Các cửa hàng bán lẻ nhỏ trong hệ thống phân phối hàng hóa thường nằm
ở các vùng đông dân cư và kinh doanh nhiều loại mặt hàng như: thực phẩm,
may mặc và các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Các cửa hàng này có đặc điểm
tiện lợi và dịch vụ tốt.
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
19
• Trong hệ thống phân phối Nhật Bản còn có các cửa hàng bách hóa lớn và
các siêu thị cũng làm nhiệm vụ kinh doanh bán lẻ. Tuy nhiên, hiệu quả kinh
doanh của các cửa hàng siêu thị lớn ở Nhật Bản không cao do thiếu tính linh
họat, nền kinh tế và chi tiêu tiêu dùng giảm sút. Gần đây, các cửa hàng bách hóa
tổng hợp đang chuyển sang cung cấp nhiều loại dịch vụ, hoạt động giải trí khác
nhau, đồng thời, cung cấp nhiều loại hàng hóa cao cấp đắt tiền, kể cả hàng nhập
khẩu.
• Các nhà bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua
catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà. Doanh số
của loại bán hàng này không lớn lắm, nhưng đang tăng lên nhanh chóng trong
những năm gần đây.
- Hệ thống phân phối hàng hóa Nhật Bản có sự cấu kết chặt chẽ giữa các
nguyên tem, mác. Điều này có nghĩa là nhà sản xuất và nhà phân phối sẽ gánh
chịu mọi rủi ro về hàng hóa.
Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ một số nhược điểm:
- Hệ thống phân phối hàng hóa khép kín qua nhiều tầng nấc làm cho giá
hàng hóa tăng giá khi tới tay người tiêu dùng. Giá bán lẻ của Nhật Bản trung
bình cao hơn ở Mỹ là 48%, ở Anh là 55%.
- Không kích thích các cửa hàng bán lẻ nỗ lực cải tiến nâng cao hiệu quả
kinh doanh, hạ giá sản phẩm.
- Duy trì số lượng cửa hàng bán lẻ đông đảo không hiệu quả.
- Không minh bạch về định giá sản phẩm.
- Hạn chế sự thâm nhập thị trường Nhật Bản của các công ty nước ngoài.
Hiện nay, Nhật Bản đang đối đầu với 2 luồng quan điểm: nới lỏng quy định
về phân phối hàng hóa hay bảo vệ, duy trì hệ thống cũ. Nhật Bản đang phải chịu
sức ép của nước ngoài vì không cho hàng hóa của họ thâm nhập thị trường trong
nước. Tuy nhiên, các quan chức Nhật Bản đang cần sự ủng hộ chính trị của các
nhà bán lẻ thì lại lên tiếng ủng hộ việc duy trì hệ thống phân phối cũ.
2. Hệ thống phân phối hàng hóa của Hoa Kỳ và Châu Âu
Số lượng các cửa hàng bán buôn, bán lẻ trong hệ thống kênh phân phối của
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
21
Hoa Kỳ và Châu Âu rất lớn nhưng xét về mật độ lại chỉ bằng một nửa của Nhật
Bản. Số cấp phân phối trung gian tồn tại giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng
cuối cùng của Nhật Bản cũng gấp đôi của Hoa Kỳ và Châu Âu. Ngoài ra hệ
thống phân phối của Hoa Kỳ nói riêng và của Châu Âu nói chung là một hệ
thống mở khác hẳn với sự khép kín và bài ngoại ở Nhật Bản.
Nếu như trước đây, ở Hoa Kỳ và Châu Âu chủ yếu tồn tại loại kênh phân
phối truyền thống và các công ty chỉ sử dụng một kênh phân phối để bán hàng
tại một thị trường hay một phân đoạn thị trường thì ngày nay kênh phân phối
truyền thống đã được thay thế bằng kênh phân phối theo chiều dọc, theo chiều
ngang và với sự đa dạng hóa khách hàng, ngày càng có nhiều công ty sử dụng hệ
- Các hình thức phân phối hàng hóa vô cùng đa dạng và hiện đại, có thể
phục vụ và đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng…
Tuy nhiên, hệ thống kênh này cũng tồn tại một số nhược điểm sau:
- Sự bền chặt trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối không
cao như trong hệ thống phân phối của Nhật Bản.
- Hệ thống phân phối hàng hóa Hoa Kỳ và Châu Âu đạt được lợi thế và
sự thích ứng rất cao khi mở rộng sang các quốc gia có đặc điểm phân phối và
tiêu dùng tương đồng nhưng lại vấp phải khó khăn nếu thâm nhập sang các
quốc gia có hệ thống phân phối lạc hậu và đặc điểm, tâm lý tiêu dùng khác
biệt.
3. Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
Ở Việt Nam từ trước đến nay, kênh phân phối theo kiểu truyền thống vẫn
giữ vai trò chủ đạo. Điều này xuất phát từ truyền thống văn hóa, tập quán tiêu
dùng cũng như điều kiện kinh tế, xã hội. Đây là điểm khá tương đồng giữa Việt
Nam và Nhật Bản trong việc hình thành và phát triển một hệ thống phân phối
hàng hóa như hiện nay. Tuy nhiên, do vị thế kinh tế, chính trị của Việt Nam trên
toàn thế giới không vững chắc, kiên cố và hùng mạnh như của Nhật Bản nên khả
năng thiết lập sự bảo hộ của Chính phủ Việt Nam với hệ thống phân phối nội địa
trước sự xâm nhập của các tập đoàn nước ngoài là rất khó thực hiện. Mặt khác,
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
23
nền kinh tế hàng hóa của Việt Nam, mới chỉ thực sự phát triển trong vài năm
gần đây, đã cho thấy những bất cập tồn tại trong kênh phân phối truyền thống.
Đó là sự yếu kém trong cơ sở vật chất, sự hạn chế về năng lực, trình độ chuyên
môn của nguồn nhân lực, mối quan hệ lỏng lẻo giữa nhà sản xuất và các nhà
phân phối… Như vậy, với kênh phân phối truyền thống, các doanh nghiệp Việt
Nam chỉ có thể phát triển dựa trên lợi thế về sự am hiểu thị trường, am hiểu tâm
lý tiêu dùng của người Việt.
Đối với việc triển khai xây dựng các kênh phân phối hiện đại như của Châu
Âu, Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam nên nhận ra rằng bản thân các doanh
- Công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã Hà Nội
- Công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã Hồ Chí Minh
Ngày 01/08/2000 Bộ Thương Mại đã chính thức ra quyết định phê duyệt
điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty với tên là “công ty xuất nhập khẩu
Intimex” trực thuộc Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công Thương).
Năm 2006, công ty XNK Intimex đã tiến hành cổ phần hóa 3 đơn vị trực
thuộc thành 3 công ty con hạch toán độc lập (công ty cổ phần sản xuất và thương
mại Intimex, công ty cổ phần Sài Gòn Intimex, công ty cổ phần XNK Intimex
Hochiminh).
Hiện nay, công ty XNK Intimex là một trong những công ty hàng đầu
thuộc Bộ Công Thương và đang trong giai đoạn tập trung nguồn lực để tiến
hành cổ phần hóa công ty mẹ. Công ty có chức năng chính là kinh doanh thương
mại, bao gồm cả xuất nhập khẩu và buôn bán, bán lẻ hàng hoá trên thị trường
nội địa, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản, chế biến nông sản… Ngoài ra công ty còn
được phép tổ chức sản xuất, gia công lắp ráp, liên doanh, liên kết, hợp tác với
các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để sản xuất hàng hoá phục vụ cho tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu.
2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các lĩnh vực kinh doanh của
công ty XNK Intimex
2.1. Chức năng, nhiệm vụ
2.1.1. Chức năng
- Trực tiếp xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu các mặt hàng: nông, lâm,
thuỷ hải sản chế biến, thủ công mỹ nghệ và các mặt hàng khác.
SV: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp TMQT 47
25