Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện mang tính tất yếu thì đất
nước Việt Nam cũng không thoát “cơn lốc” kinh tế thị trường nóng bỏng. Cạnh tranh
là không thể tránh khỏi và ngày càng quyết liệt nhất là đối với các tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trên toàn cầu nói chung và doanh
nghiệp Việt Nam nói riêng muốn tồn tại và phát triển được phải tạo ra lợi thế cạnh
tranh, “cái riêng có”(khác biệt hoá) đối với các lực lượng cạnh tranh. Ngành sản xuất
bánh kẹo nói chung và công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu cũng nằm trong quy luật
chung này. Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu sau 43 năm thăng trầm đã đạt nhiều
thành quả lớn trong sản xuất kinh doanh và đã đóng góp không nhỏ vào việc xây
dựng nền kinh tế nước ta.
Tiêu thụ sản phẩm là chức năng vốn có của doanh nghiệp sản xuất, muốn sản
xuất phải có hoạt động tiêu thụ. Vì vậy tiêu thụ có vai trò quyết định đến hoạt động
của mọi doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh nói chung và công ty cổ phần
bánh kẹo Hải Châu nói riêng.
Sau một thời gian ngắn thực tập tại công ty em thấy hoạt động tiêu thụ của
công ty chưa thực sự hiệu quả nhất là với mặt hàng bánh kẹo truyền thống tại thị
trường nội địa. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ
sản phẩm bánh kẹo tại thị trường nội địa của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu”.
Với mục đích nghiên cứu về quá trình tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo của công ty cổ
phần bánh kẹo Hải Châu tại thị trường nội địa, qua đó đưa ra một số đề xuất nhằm
đẩy mạnh tiêu thụ bánh kẹo của công ty.Bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Phần 2: Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo tại thị trường nội địa
của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Phần 3: Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo tại thị trường
nội địa của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Bài viết của em còn nhiều thiếu sót nên em kính mong nhận được sự thông cảm
chỉ dẫn góp ý của các thầy, các cô cùng tất cả các bạn để đề tài của em được hoàn
thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Phương Hiền đã giúp em hoàn
Hệ thống kho
Khu B: 15.000 m
2
bao gồm
Xí nghiệp bánh cao cấp
Hệ thống kho
2
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Khu vực mở rộng: 20.000 m
2
II. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu là một công ty cổ phần trực thuộc Tổng
Công Ty Mía Đường I - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tiền thân là Nhà
máy Hải Châu được thành lập 2/9/1965. Nhà máy Hải Châu trong quá trình hoạt động
của mình qua những lần đổi tên:
2/9/1965: Nhà máy Hải Châu được tách ra từ Tổng Công Ty Mía Đường I -
Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
29/9/1994: Nhà máy Hải Châu được bổ xung thêm ngành nghề kinh doanh
và đổi tên thành Công ty Bánh kẹo Hải Châu.
22/10/2004: Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. 30/12/2004
Công ty Bánh kẹo Hải Châu đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông sáng lập thống nhất đổi
tên công ty Bánh kẹo Hải Châu thành Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu.
Sau 43 năm, từ những ngày đầu mới thành lập và đi vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu đã trải qua rất nhiều thay đổi.Qua
tìm hiểu thấy rằng quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần bánh kẹo
Hải Châu có thể chia làm 5 giai đoạn với những đặc trưng:
1: Giai đoạn 1965 – 1975
16/11/1964 theo quyết định số 305/QDBT, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn đã thành lập ban kiến thiết và chuẩn bị sản xuất gia công bột mì nhằm xây dựng
nhà máy.
3: Giai đoạn 1986 – 1993
Cùng với những sự thay đổi của đất nước, và quan trọng là bước vào thời kỳ cải
cách, nền kinh tế thị trường được hình thành và ngày càng rõ nét. Để có thể cạnh
tranh với các doanh nghiệp khác trong thị trường nhà máy Hải Châu đã ở rộng sản
xuất bằng việc tận dụng mặt bằng của mình. Cụ thể:
Năm 1989 – 1990: Công ty đã lắp đặt dây chuyền sản xuất bia với công suất
200 lít/ngày.
Năm 1990 – 1991: Công ty lắp đặt dây chuyền sản xuất bánh quy Đài Loan
với công suất 2.5 – 2.8 tấn/ca. Sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao, phù
4
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và có đóng góp lớn đối với công ty cho
đến tận ngày hôm nay.
Sản phẩm chính: Công ty vẫn đẩy mạnh đầu tư, phát triển theo chiều sau các
mặt hàng truyền thống
Năm 1993: Đầu tư 1 dây chuyền công nghệ của Cộng Hoà Liên Bang Đức
với công suất 1 tấn/ ca
Số lao động bình quân: 950 người/ năm.
4: Giai đoạn 1991 – 2003
Bước vào thời kỳ này nhà máy Hải Châu vẫn tiếp tục đầu tư thêm máy móc
thiết bị trong sản xuất nhằm tăng lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
Năm 1994: Lần đầu tiên nhà máy Hải Châu khoác lên mình với một tên mới
Công ty bánh kẹo Hải Châu. Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất kem xốp
phủ socola của Đức với công suất 500kg/ca.
Năm 1996: Công ty liên doanh với Bỉ để sản xuất socola chất lượng cao Tuy
nhiên chỉ có 30% sản lượng tiêu thụ trong thị trường trong nước, còn lại là
xuất khẩu ra nước ngoài.
Năm 1998: Dừng sản xuất socola với Bỉ đồng thời mở rộng đây chuyền sản
xuất bánh có công suất vào khoảng 4 tấn/ca.
Cũng trong những năm đó, nhà máy đã mua thêm 2 dây chuyền sản xuất kẹo
Xí nghiệp bánh III: Sản xuất bánh mềm và kem xốp: bánh kem có phủ
6
Công ty cổ phần bánh kẹo
Hải Châu
Bánh
quy
XN bánh III XN kẹo XN gia vịXN bánh I
Kem xốp
Lương
khô
Bánh mềm
kẹo
nhân
kẹo
thường
xốp
pét
BC
iot
BC
thường
phủ socola thường custard tulip
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
socola và bánh kem thường với nhiều hương vị khác nhau (vị Vani, vị Dâu,
Vị Khoai môn...). Sản xuất trên dây chuyền của Đức và Hà Lan.
Xí nghiệp kẹo: Sản xuất kẹo các loại như: kẹo nhân (Chew nhân khoai môn,
Chew nhân bạc hà, Chew nhân socola, trái cây nhân khoai môn, trái cây
nhân socola...), kẹo thường (Chew đậu đỏ, Chew khoai môn, Chew socola,
trái cây cứng). Và xốp pét vị dâu, vị đậu đỏ. Sản xuất trên dây chuyền của
Đúc và Hà Lan.
P. Kinh
doanh thị
trường
XN
quy
kem
xốp
XN
Bánh cao
cấp
XN
Gia Vị
XN
Kẹo
Chi nhánh
Nghệ An
Chi
nhánh
Đà Nẵng
Chi nhánh
TP Hồ Chí
Minh
Chi nhánh
Hà Nội
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Sơ đồ 121: Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
3: Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong cơ cấu tổ chức
Hội đồng quản trị: Điều hành mọi hoạt động của công ty, ra các quyết định
quản trị, hoạch định chiến lược …
Ban điều hành: Quản lý chung, chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ
hoá,hiên đại hoá. Chính vì vậy, sản phẩm của công ty rất đa dạng từ chủng loại lẫn
mẫu mã.
Hiện nay,sản phẩm chủ yếu của công ty là:
* Bánh và kẹo các loại
Kẹo các loại: Phân xưởng sản xuất kẹo được đặt tại cơ sở chính của công ty,
với các dây truyền công nghệ của Đức tạo ra được rất nhiều chủng loại kẹo
khác nhau (kẹo cứng hoa quả, kẹo mềm, kẹo chew với nhiều hương
vị…).Ngay từ khi mới thành lập, kẹo là một sản phẩm mang tính chất chủ
đạo của công ty và được công ty chú trọng đầu tư mở rộng, nâng cao năng
suất
Bánh các loại: Bánh Hương Thảo – một loại bánh cao cấp được nhiều người
biết đến, bánh kem xốp, bánh quy bơ …và hiện nay sản xuất lương khô,
bánh mềm là hai loại có ưu thế cạnh tranh cao
Bánh kẹo là sản phẩm có chu kỳ sống ngắn bởi nó mang tính mùa vụ nhiều.
Những mặt hàng này trong năm mức sản xuất cũng như tiêu thụ là không
nhiều chỉ đến các dịp lễ tết hay mùa cưới hỏi mới huy động khả năng sản
xuất cao độ và sản lượng tiêu thụ là rất lớn
Điều đặc biệt nữa phải kể đến đó là bánh kẹo được chế biến từ nhiều loại
nguyên liệu rất dễ hỏng, không đảm bảo chất lượng như: Đường, bơ, sữa,
Dầu thực vật, trứng …Việc kiểm tra chất lượng nguyên liệu quyết định rất
lớn đến thành công trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
* Gia vị thực phẩm:
Hiện tại, công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu chỉ sản xuất một chủng loại
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
gia vị duy nhất và hiện đang có mặt trên thị trường khá phổ biến đó là các
chủng loại bột canh : Bột canh Iôt, bột canh thường và bột canh cao cấp.
Theo nhận định của các ban ngành trong công ty cũng như thực tế cho thấy
rằng: Các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực sản xuất với công ty cũng có rất nhiều
sản phẩm Bánh, kẹo như Hải Hà hay Kinh Đô. Các sản phẩm của các doanh nghiệp
Chỉ tiêu
XN bánh
DC bánh 1 DC bánh 3
DC bánh
mềm
DC bánh
kem xốp
XN kẹo XN gia vị
Tỷ lệ cơ
giới hoá -
tự động
hoá
65% 85% 95% 90% 85% 50%
Nguồn: phòng kỹ thuật
Qua thống kê cho thấy, tỷ lệ cơ giới hoá không đồng đều và chưa cao.Các trang
thiết bị máy móc thường được đầu tư từ khá lâu.
Bảng 1.2: Tình hình trang thiết bị của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
TT Bộ phận DC sản xuất Năm Công nghệ
1
Bánh
DC bánh 1 1965 Trung Quốc
DC bánh 3 1992 Đài Loan
DC phủ socola 1995 Đức
DC bánh mềm 2002 Hà Lan
2 Kẹo DC kẹo 1996 German
3 Gia vị thực phẩm DC bao gói tự động 2005 Việt Nam
Nguồn: phòng kỹ thuật
Mặc dù giảm được lao động chân tay nhưng điều đáng nói ở đây lại là chất
lượng của máy móc. Máy móc có công suất lớn, đảm bảo cho hoạt động sản xuất tiêu
thụ của công ty nhất là trong những ngày lễ tết… Nhưng sản phẩm của công ty cổ
ng
Nấu
Làm
nguộ
Trộn
hươn
Lăn
côn
Quật
kẹo
Ép
khuôn
Bao
gói
Phối
trộn
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
* Quy trình sản xuất bột canh
4: Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu dùng trong sản xuất là đường, bơ, sữa, dầu… toàn những
đồ dễ hỏng và kho tìm kiếm.
Những nguyên liệu dùng trong sản xuất luôn luôn phải được đảm bảo về chất
lượng, trong khi đó thị trường nhà cung ứng trong nước đang rất hạn chế, nên nguyên
liệu chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài, giá cao.
Trong hoạt động sản xuất của mình, công ty nhận thấy được vai trò quan trọng
của socola bởi socola được nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng vì vậy
socola được công ty đặc biệt quan tâm.
Để quản lý, kiểm soát việc sử dụng nguyên vật liệu phòng kế hoạch vật tư đưa
ra những định mức tiêu dùng cho từng loại sản phẩm cụ thể:
Bảng 1.3: Định mức vật liệu dùng cho 1 tấn bánh
phụ
Bao gói
đóng
Trộn
với iốt
Trộn
với phụ
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Bảng 1.5: Định mức vật liệu tiêu dùng cho 1 tấn bột canh Iôt
Nguyên
liệu
Muối
tươi
Mỳ
chính
Đường
Hạt
tiêu
Tỏi Iôt
K.lượng
(kg)
700 250 60 6 4 0,2
Nguồn: phòng kế hoạch vật tư
Sơ đồ cung ứng nguyên vật liệu
Sơ đồ 1.2: Cung ứng nguyên vật liệu
5: Về lao động.
Bảng 1.6: Tình hình sử dụng lao động của công ty qua các năm(2003 – 2007)
Năm
2003 2004 2005 2006 2007
Tổng lao động (người)
nghiệp
sản
xuất
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
hiện được tỷ lệ cơ giới hoá cao của máy móc thiết bị.
Về trình độ, lao động của công ty ngày một có trình độ cao hơn Năm 2006,
tỷ lệ lao động có trình độ đại học là 15% thì đến năm 2007 đã là 17%. Lao
động có trình độ cao đẳng trung cấp cũng tăng.
Về giới tính: Lao động nữ chiếm tỷ trọng cao hơn lao động là nam giới. Cụ
thể: Năm 2004 đến năm 2006, tỷ trọng nữ lao động chiếm hơn 66% nhưng
năm 2007 đã tăng đến 68%. Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cần
sự khéo léo tỷ mỉ nên số lao động là nữ tăn lên là hợp lý.
Tình hình sử dụng lao động của công ty ngày càng đúng xu hướng phát triển và
phù hợp với hoạt động cũng như hình thức hoạt động của công ty.
V: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Châu
1: Về tình hình sản xuất sản phẩm.
Sản phẩm của công ty là những sản phẩm mang tính chất mùa vụ. Có những lúc
việc sản xuất bị ngưng trệ do chưa có đơn đặt hàng nhưng khi mùa vụ của sản phẩm
đến đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải huy động lực lượng để sản xuất đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Để nắm bắt được nhu cầu cũng như điều chỉnh sản xuất,
phòng kế hoạch vật tư căn cứ vào tình hình sản xuất kỳ trước và tình hình tiêu thụ
thực tế nhằm đưa ra kế hoạch sản xuất cho các xí nghiệp chỉ đạo sản xuất.
Xem xét, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp trong
ba năm gần (2005 – 2007) ta có bảng số liệu sau:
16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Bảng 1.7:Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất giai đoạn 2005 – 2007 của
công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Chỉ tiêu
Tổng
14727,6 14970,5 101,65 15446 14485 93,78 19500 19748 101,27
Nguồn: Phòng kế hoạch vật tư
Qua bảng số liệu trên ta thấy, việc thực hiện kế hoạch trong ba năm gần đây
biến đổi liên tục:
Sản phẩm Bánh năm 2005 và 2006 luôn thực hiện vượt kế hoạch sản xuất,
nhưng đến 2007 tình hình sản xuất lại không đạt được chỉ tiêu kế hoạch
công ty đã đề ra. Thấy rằng bánh quy mà công ty sản xuất là những sản
phẩm chất lượng cao thêm vào đó trình độ công nghệ ngày một hiện đại vậy
tại sao kề hoạch sản xuất lại rơi vào tình trạng chỉ đạt 99,9% kế hoạch đã đề
ra. Tình hình sản xuất bánh có xu thế giảm năm 2005 thực hiện sản xuất
được 2304 tấn, năm 2006 tăng lên 2984 tấn nhưng 2007 lại giảm chỉ còn lại
1998 tấn
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Các sản phẩm còn lại cũng biến đổi không ngừng nhưng đều có xu hướng
tăng lên. Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ngày càng tốt hơn. Cụ thể:
năm 2007 TH/KH đạt 101,27% vượt kế hoạch 1.27%, riêng kem xốp từ
92,3% lên tới 129% vào năm 2007. Một bước tiến vượt bậc bởi đây là sản
phẩm mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong những năm gần
đây.
Việc thực hiện kế hoạch sản xuất bột canh cũng đã đạt chỉ tiêu. Từ không
thực hiện đủ kế hoạch sản xuất 93% lên tới vượt mức kế hoạch 101,3%.
Khối lượng sản xuất thực hiện trong năm 2007 là 15200 tấn hơn kế hoạch là
200 tấn tương đương với 1,3%. Rất kịp thời trong sản xuất vì hai sản phẩm
mang lợi thế cạnh tranh của công ty đều được thực hiện tốt, đáp ứng nhu
cầu thị trường.
Điều đáng buồn là: tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kẹo - mặt hàng truyền
thống của công ty lại giảm xút trong năm 2007 (từ 108,6% năm 2005, xuống 100,7%
năm 2006 và tới năm 2007 chỉ còn đạt 94,1%)
nghiệp
16.043
16.189 16.234 16.620 16.920
Lợi nhuận từ hoạt động kd
2.193 2.284 2.308 2.755 4.339
Thu nhập khác
1.023 1.125 1.224 1.260 1.298
Chi phí khác
1.011 1.101 1.134 1.157 1.182
Lợi nhuận khác
70 72 90 103 116
Tổng LN trước thuế
2.275 2.380 2.398 2.858 4.455
Thuế thu nhập doanh
nghiệp
637 666,4 671,44 800,24 1.248
Lợi nhuận sau thuế
1.638 1.713,6 1.726 2.058 3.208
Nguồn: phòng tài chính kế toán
Trong thời gian qua bước từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần,
công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu đã có những bước thăng trầm đáng ghi nhận. Cụ
thể:
Lợi nhuận từ hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục tăng qua các
năm gần đây. Năm 2003, lợi nhuận đạt được là 2.275 triệu đồng lên 2280
triệu đồng, năm 2005 là 2308 triệu đồng. Riêng năm 2007 đạt 4339 triệu
đồng tăng 57,51 % so với năm 2006.
Mặc dù giá trị sản lượng, doanh thu đều tăng nhưng hiệu quả sử dụng vốn lại
không hiệu quả. Các chỉ tiêu đánh gia hiệu quả kinh doanh đều không tốt, năm 2007
đã có nhiều chuyển biến nhưng chưa đáng kể. Công ty cần xem xét các hoạt động sản
xuất, tiêu thụ.
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
2005 2006 2007
Năm
Biểu đồ tiêu thụ sản phẩm theo chủng loại 3
năm gần đây
Bánh
Kem xốp
Kẹo
Bột canh
Qua thống kê về tình hình tiêu thụ sản phẩm theo chủng loại sản phẩm thấy
rằng nhìn chung hoạt động tiêu thụ tương đối tốt nhưng không đồng đều giữa sản
20
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
lượng tiêu thụ của các sản phẩm hay các xí nghiệp khác nhau. Cụ thể như sau:
Tổng sản lượng tiêu thụ trong ba năm gần đây tăng: năm 2005 sản lượng
tiêu thụ đạt 13858 tấn, năm 2006 là 17705 tấn và 2007 lên tới 19439 tấn,
tăng 1734 tấn so với 2006 (tăng 9%). Sản lượng tiêu thụ qua các năm đều
tăng nhưng sản lượng tiêu thụ các loại sản phẩm không phải tăng đều, có
những chủng loại tăng có chủng loại giảm
Các sản phẩm truyền thống của doanh nghiệp có mức tiêu thụ giảm sút:
Bánh, sản lượng tiêu thụ năm 2005 là 2143 tấn sang năm 2006 đã đạt tới
2700 tấn nghĩa là tăng 557 tấn tương đương tăng 20,63%; nhưng năm 2007
sản lượng tiêu thụ giảm 800 tấn. Kẹo, Sản lượng tiêu thụ từ 840 tấn vào năm
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
2005 2006 2007
Năm
Biểu đồ tiêu thụ sản phẩm theo khu vực thị trường
M. bắc
M. trung
M.Nam
x. khẩu
Nếu xét đến tình hình tiêu thụ sản phẩm theo khu vực thị trường thì thị trường
miền Bắc vẫn chiếm tỷ trọng lớn (gần 80%), trong khi đó miền Trung, miền Nam và
xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 20% trong tỷ trọng sản phẩm tiêu thụ _ Số liệu 2007. Sản
lượng tiêu thụ giữa các miền qua các năm không chuyển biến là mấy, sản phẩm của công
ty có khách hàng chính là những người thu nhập trung bình nên không có giá trị xuất
khẩu (tỷ trọng xuất khẩu chiếm 0,4%). Công ty đặt tại Hà Nội, công nghệ cũng như khẩu
vị tiêu dùng thường phù hợp vời miền Bắc nên thị trường chính vẫn là dân Bắc. Việc giữ
vững thị trường khi thế lực cạnh tranh ngày càng nhiều là quan trọng và công ty cũng
phải mở rộng thị phần vào khu vực miền trong và ra các nước khu vực.
22
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Bảng2.3: Tình hình tiêu thụ sản phẩm giữa kế hoạch và thực tế trong giai đoạn 2005 -2007.
Năm
C.tiêu
(tấn)
TT/SX
tấn %
SX(tấn
)
TT(tấn) TT/ SX
tấn %
SX
(tấn)
TT
(tấn)
TT/ SX
tấn %
Kẹo 857,5 840 -17,5 97 870 855 -15 85 800 800 0 100
Kem xốp 1626 1420 -206 87 1500 1550 50 103 1900 1730 -170 91
Bánh 2304 2143 -161 93 2984 2700 -284 82 2500 1900 -600 76
Bột canh 10182 9450 -732 92,8 9131 12600 3470 130 17000 15009 -1991 82
Nguồn: phòng kinh doanh thị trường
Lª ThÞ Thuý Líp: QTKD Tæng hîp 46A
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Qua bảng số liệu ở trên, ta thấy:
Về tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của công ty trong giai đoạn
gần đây cũng có nhiều biến đổi. Chênh lệch giữa tiêu thụ và sản xuất
được đánh giá là không ổn định qua 3 năm qua. Cụ thể:
Trong mỗi năm lượng sản xuất sản các chủng loại sản phẩm nhìn chung lớn
hơn so với tiêu thụ thực tế. Điều này cũng là mặt tích cực trong sản xuất và tiêu thụ
của công ty, khách hàng không phải chờ đợi mua hàng, đôi khi vì sự sẵn có của sản
phẩm quyết định không nhỏ đến việc giữ chân khách hàng.
Thông thường hiện tượng hay bắt gặp tại các doanh nghiệp là sản xuất bao giờ
Kết quả thực hiện kế hoạch tiêu thụ như thống kê có thể nói rằng khả quan song
việc xác định nhu cầu thị trường, sản xuất và hoạt động tiêu thụ vẫn chưa thực sự
hiệu quả.
Bảng 2.5: Tỷ trọng sản phẩm tiêu thụ trong giai đoạn 2005 - 2007
Sản
phẩm
2005 2006 2007
SL
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
SL(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
SL(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Bánh 2143 15,46 2700 15,25 1900 9,78
Kẹo 840 6,06 855 4,83 800 4,1
Sản phẩm
khác
10870 78,48 14150 79,92 16739 86,12
Tổng 13853 100 17705 100 19439 100
Nguồn: Phòng kinh doanh thị trường
Bánh kẹo chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng sản lượng các loại mặt hàng
tiêu thụ của công ty và tỷ trọng tiêu thụ này ngày càng giảm. Năm 2005, tỷ trọng
bánh kẹo là 21,52%. Năm 2006 tỷ trọng bánh kẹo là 20,08%, năm 2007 tỷ trọng chỉ