ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN DUY THÀNH
THỬ NGHIỆM ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS
VÀO DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG KHAI THÁC
CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG Ở VÙNG BIỂN XA BỜ
TRUNG BỘ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1
2. Mc tiêu nghiên cu 2
3. Nhim v nghiên cu 2
4. Các kt qu c c tài 3
5. Cu trúc c tài 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. Đặt vấn đề 4
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu 7
c ngoài 7
9
1.3. Phương pháp nghiên cứu 11
1.3.1. 11
1.3.2. p phân tích thng kê 12
1.3.3. n thám 14
1.3.4. 14
1.3.5. 15
1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 16
1.4.1. Khu vc nghiên cu 16
1.4.2. Thi gian nghiên cu 17
u, d liu s dng 17
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
2.1. Vị trí địa lý 21
2.1.1. Mô t vùng bin nghiên cu 21
2.1.2. Tia vùng nghiên cu trong ngh cá xa b 21
2.1.3. V trí v an ninh và ch quyn lãnh hi 21
2.2. Điều kiện tự nhiên 22
ng h 22
AVHRR Advanced Very High Resolution Radiometer
CLS Collecte localization satellite
CPUE Catch per unit effort
GHRSST - A Group for High Resolution Sea Surface Temperature
MOVIMAR monitor the ocean and water resources of Vietnam project
NOAA The National Oceanic and Atmospheric Administration
NWP - Numerical Weather Prediction
OSTIA -The Operational Sea Surface Temperature and Sea Ice Analysis
SEAFDEC Southeast Asian Fisheries Development Center
SEVIRI - the Spinning Enhanced Visible and Infrared Imager
SST - Sea Surface Temperature
TMI - the Tropical Rainfall Measuring Mission Microwave Imager
VASEP – Vietnam Association Seafood Exporters and Producers,
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Thành phần sản lượng (Tỷ lệ % so với tổng sản lượng) cá ngừ bắt được
bảng các nghề qua số liệu điều tra độc lập và giám sát hoạt động khai thác 6
Bảng 2. Bảng thống kê sản lượng của từng nghề khai thác theo thời gian 13
Bảng 3. Bảng thống kê CPUE theo không gian (ô lưới) 13
Bảng 4. Nguồn số liệu câu vàng cá ngừ 18
Bảng 5. Giá trị cực trị chlorophyll-a các tháng trong năm ở vùng biển xa bờ Trung
bộ 24
Bảng 6. Tỷ lệ % thành phần sản lượng cá ngừ khai thác bằng câu vàng qua số liệu
điều tra độc lập và giám sát hoạt động khai thác 41
Bảng 7. Tỷ lệ % thành phần sản lượng cá ngừ khai thác bằng câu vàng qua số liệu
Hình 12. Biểu đồ xu thế biến động 43
Hình 13. Sơ đồ quy trình công nghệ xây dựng bản đồ dự báo khai thác hạn tháng . 48
Hình 14. Bản dự báo cá ngừ đại dương thử nghiệm (tháng 4 – trái) và (tháng 5 -
phải). 50
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Khai thác tiềm năng từ biển nói chung và khai thác nguồn lợi hải sản nói riêng
đã, đang và sẽ đối mặt với rất nhiều yếu tố rủi ro trên biển. Chính vì vậy, an toàn trên
biển để hoạt động sản xuất luôn được quan tâm. Dự báo ngư trường khai thác nguồn
lợi hải sản (sau đây gọi tắt là dự báo khai thác) sẽ góp phần cảnh báo nguy cơ có thể
xảy ra hiện tượng thời tiết bất thường trên biển vì dự báo các trường hải dương và khí
tượng là phần không tách rời của dự báo ngư trường khai thác, ngư trường khai thác
cá ngừ đại dương thường là ngư trường xa bờ. Bên cạnh đó, việc tổ chức và điều phối
hoạt động khai thác dựa vào kết quả dự báo sẽ góp phần giảm bớt áp lực ở những ngư
trường truyền thống, có nghĩa là sẽ giảm nguy cơ mâu thuẫn trong khai thác.
Trước bối cảnh, giá nhiên liệu luôn có những diễn biến khó lường và thường
có xu thế tăng nhiều hơn giảm, trong khi đó, sản lượng khai thác đánh bắt được lại
tăng không đáng kể. Do đó, hiệu quả hoạt động khai thác hải sản đang dần kém hấp
dẫn, đặc biệt là hoạt động khai thác hải sản xa bờ. Dự báo khai thác sẽ cung cấp cả
thông tin về không gian và thời gian khai thác, giúp cho người hoạt động khai thác
có được thông tin cần thiết nhằm giảm chi phí cho việc tìm kiếm ngư trường vốn
đang trở lên tốn kém và mất an toàn.
Dữ liệu để thiết lập dự báo khai thác được sử dụng thông qua việc thiết lập
(SST), chlorophyll và dòng chảy.
Ứng dụng công nghệ GIS để mô hình hóa dữ liệu từ ảnh viễn thám độ phân
giải thấp kết hợp với dữ liệu thống kế phục vụ dự báo ngư trường cá ngừ đại dương.
Kiểm chứng và đánh gía kết quả dự báo thử nghiệm.
3. Nhim v nghiên cu
Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu, tư liệu, dữ liệu lịch sử có liên quan
về nhiệt độ, chlorophyll và dòng chảy.
Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu, tư liệu, dữ liệu lịch sử có liên quan
về nguồn lợi nghề cá ngừ đại dương.
Trang 3
Nghiên cứu các đặc trưng sinh học sinh thái cá ngừ đại dương (Thunnus
albacores và Thunnus obesus).
Nghiên cứu xác định mối tương quan giữa biến động ngư trường với trường
nhiệt mặt biển phục vụ xây dựng dự báo.
Xây dựng thử nghiệm bản dự báo khai thác ngắn hạn quy mô tháng cho đối
tượng là cá ngừ đại dương.
Kiểm chứng, đánh giá kết quả dự báo thử nghiệm.
4. Các kt qu t c ca tài
Đưa ra được mô hình và quy trình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại
dương vùng biển xa bờ Trung bộ Việt Nam.
Bản dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá ngừ địa dương tháng 4 và
tháng 5 năm 2013.
5. Cu trúc ca tài
Phần mở đầu
Chương I. Tổng quan về vấn đề và phương pháp nghiên cứu
Chương II. Đặc điểm khu vực liên quan đến nội dung nghiên cứu
Chương III. Thử nghiệm ứng dụng viễn thám và GIS vào dự báo cá ngừ đại dương
ở vùng biển xa bờ trung bộ Việt Nam
Dự báo ngư trường khai thác được chia thành: Một là, dự báo hạn ngắn
(short-term forecast) là dự báo có quy mô thời gian 1 tuần đến 10 ngày, nửa tháng,
một tháng và ba tháng. Dự báo khai thác cá ngắn hạn tập trung dự đoán những
thay đổi rất có thể xảy ra trong một tương lai gần ở những nơi cá tập trung:
Trang 5
Hai là, dự báo hạn dài (long-term forecast) là dự báo có quy mô thời gian từ 6
tháng đến 1 năm tương ứng với chu kỳ mùa và chu kỳ năm, dự báo này là những
dự định khả năng biến đổi hoặc ổn định trong chu kỳ dài của các điều kiện hải
dương và điều kiện đánh cá cho một vùng biển nghiên cứu dưới tác động đặc
trưng bằng 2 cực trị gió mùa tương ứng với biến động sản lượng cá khai thác theo
mùa: Ba là, dự báo siêu dài hạn (super long-term forecast) có khoảng thời gian từ
2 năm đến 20 năm, là dựa trên giả định về một đại lượng còn chưa biết, trên cơ sở
dự báo khí tượng-hải dương.
Kết quả công tác dự báo ngư trường khai thác đã và đang được thực hiện và
ứng dụng vào thực tiễn từ trước đến nay thật đáng trân trọng. Tuy vậy, lượng
thông tin được sử dụng trong việc thiết lập các bản dự báo khai thác vẫn đang
dừng lại dữ liệu nghề cá (dữ liệu đơn biến) mà chưa ứng dựng dữ liệu hải dương
học vào công tác này, đặc biệt là dữ liệu hải dương học khai thác từ dữ liệu ảnh vệ
tinh. Nhằm nâng cao chất lượng dự báo khai thác đề tài KC.09.14/06-10 đã xây
dựng dự báo dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố môi trường với nguồn lợi
nghề cá, tuy vậy, kết quả của đề tài này còn cần được kiểm chứng, them vào đó,
mô hình ứng dụng dữ liệu viễn thám của đề tài vẫn chưa thể hiện rõ tính ưu việt
của nguồn tư liệu viễn thám.
Cá ngừ đại dương được xem là đối tượng khai thác chính của các loại nghề xa
bờ trong đó có nghề câu vàng cá ngừ đại dương (sau đây gọi tắt là nghề câu vàng),
rê trôi và vây khơi. Có 3 loài thuộc họ cá thu ngừ (Scombridae) nằm trong nhóm cá
ngừ đại dương gồm có cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares), cá ngừ mắt to
(Thunnus obesus) và cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis). Ngoài cá ngừ vằn, 2 loại cá
cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to đều có kích thước lớn (từ 700 - 2000 mm, khối
5,37
0,02
-
Cá Ngừ mắt to
6,08
17,14
0,65
2,27
0,05
0,36
Cá Ngừ vằn
0,61
0,27
49,50
21,65
-
0,14
Cá ngừ khác
0,24
0
6,8
42,28
3,64
18,26
Tổng
41,81
45,83
60,15
71,57
3,71
trường GIS (ArcGIS, Mapinfo…) phục vụ công tác dự báo.
Do vậy, dự báo khai thác có hiệu quả và phát triển nghề cá biển bền vững cần
xây dựng được một quy trình dự báo khai thác phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt Nam. Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp này, tác giả tập trung vào khai thác
dữ liệu viễn thám độ phân giải thấp, ứng dụng công nghệ GIS và nghiên cứu đối
tượng cá ngừ đại dương – cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và cá ngừ mắt to
(Thunnus obesus) với tên đề tài là “T
Trung B ”.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.2.1.
Trên thế giới, việc dự báo phân bố và biến động nguồn lợi hải sản nói chung
và ngư trường nói riêng là một hướng ưu tiên phát triển của sinh học biển và hải
dương học nghề cá, nhất là ở các quốc gia có các đội tàu đánh bắt xa bờ và đại dương
phát triển mạnh như Mỹ, Nhật, Nga, Nauy, Hàn Quốc, Đài Loan và Ấn Độ. Tại quốc
gia này, công tác dự báo khai thác xây dựng từ việc khai thác các tư liệu ảnh vệ tinh
để thu thập thông tin, dữ liệu và chiết rút dữ liệu (nhiệt độ, chlorophyll-a, dòng
chảy ) kết hợp với nguồn dữ liệu nghề cá phục vụ công tác dự báo khai thác. Tại Ấn
độ, khai thác sử dụng tư liệu ảnh NOAA AVHRR cho nghiên cứu chỉ số nhiệt độ bề
Trang 8
mặt biển (SST) và chlorophyll phục vụ công tác dự báo nghề cá để tìm kiếm những
khu vực có tiềm năng đánh bắt cho sản lượng cao [23]. Ngoài chỉ số về SST và
chlorophyll, chỉ số độ cao nhiệt độ bề mặt nước biển (SSH) cũng được phân tích từ
dữ liệu ảnh viễn thám kết hợp với dữ liệu cá ngừ vây vàng từ nghề câu vàng để tìm ra
các mối tương quan có ý nghĩa giữa sản lượng khai thác đối tượng này với các yếu tố
hải dương học phục vụ cho việc dự báo vùng tập trung cá ngừ vây vàng trong thời
gian gần thực (near real time) [6]. Trung Quốc, công tác dự báo khai thác cũng được
tiến hành thường xuyên, các nghiên cứu tập trung vào việc thiết lập các dự báo khai
thác hải sản ngắn hạn. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã cung cấp các dự báo khai
thác dài hạn phục vụ cho việc định hướng phát triển nghề cá.
dự báo khai thác cần phải tuân theo các quy luật biến động của đời sống sinh vật
biển bao gồm nguồn lợi khai thác liên quan mật thiết đến các quá trình khí tượng-
hải dương biến đổi theo quy mô thời gian khác nhau từ dài, trung bình và ngắn và
tương ứng với nó là quy mô không gian từ toàn cầu đến khu vực cụ thể.
Một số nghiên cứu lĩnh vực dự báo khai thác được thực hiện từ khá sơm, giai
đoạn 1960-1962 Chương trình hợp tác Việt Nam và Liên Xô, giai đoạn 1962-1965
triển khai nhiều đợt tổng thể về nghề cá đáy và mô trường ở vùng biển Vịnh Bắc
Bộ thông qua các đề tài từ cấp bộ đến cấp Nhà nước. Giai đoạn gần đây, các đề
cấp Nhà nước liên tục được thực hiện với các nội dung nghiên cứu liên quan trực
tiếp đến công tác dự báo khai thác nhằm nâng cao chất lượng dự báo khai thác, nổi
bật là đề tài;
Mt là tài n chng khoa hc cho vic d báo bing sng và
phân b ngun l giai đoạn 1991-1995 (Lê Đức Tố chủ nhiệm) [14]. Mục
đích của đề tài là nhằm nghiên cứu và tìm ra khả năng dự báo khai thác cá ở vùng
biển nước ta. Đây được coi là đề tài nghiên cứu theo hướng Hải dương học nghề cá
đầu tiên ở Việt Nam. Đề tài đã xây dựng được các luận cứ khoa học liên quan đến
các bài toán dự báo trong lĩnh vực Hải dương học nghề cá vùng biển Việt Nam, chỉ
rõ vai trò quan trọng của sự biến động các trường khí tượng, hải dương tới biến
động phân bố và sản lượng cá khai thác và sự cần thiết phải nghiên cứu chúng một
cách cơ bản, khoa học phục vụ công tác dự báo cá. Đề tài đã bước đầu ứng dụng
một số mô hình dự báo và quản lý nguồn lợi cá khai thác (mô hình xác suất, VPA,
LCA) tại vùng biển Nam Trung Bộ và vịnh Bắc Bộ đối với một số loài cá ( nục sò,
chỉ vàng, mối thường, mối hoa, mối vạch) đạt kết quả khá tốt. Các kết quả nghiên
Trang 10
cứu còn cho thấy vai trò quan trọng của các cấu trúc hải dương như hoạt động nước
trồi, các front, các khối nước, đối với phân bố nguồn lợi cá biển Việt Nam. Trong
quá trình xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu hải dương học nghề cá, đề tài đã nhận
thấy nhiều bất cập trong việc xây dựng dự báo môi trường và nguồn lợi cá biển ở
nước ta, cụ thể là sự thiếu hụt và tính không đồng bộ của nguồn dữ liệu thống kê
ng phc v khai thác hi sn xa bgiai đoạn 2007-2010 (Đoàn Văn Bộ chủ
nhiệm) [4]. Đề tài đã đạt được; Một là có được hệ thống các CSDL hải dương học,
nghề cá hoàn chỉnh cho phép đánh giá và dự báo ngư trường theo công nghệ tiên
tiến phục vụ quản lý khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản xa bờ; Hai là có quy trình dự
báo theo phương pháp tương quan đa biến giữa ngư trường với các yếu tố môi
trường biển cơ bản; Ba là có được các kết quả kiểm chứng (lý thuyết) các dự báo
với mực độ tin cậy cao, tuy vậy, các kết quả này chưa được kiểm chứng thực tế.
Như vậy, Dự báo khai thác được quan tâm từ rất sớm, giai đoạn 1997-2010,
công tác này là nhiệm vụ thường niên
do Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện.
Đề tài đã thu được nhiều kết quả trong việc xây dựng bản dự báo khai thác cá và các
loài hải sản theo nghề, mùa vụ ( vụ bắc và vụ nam), theo tháng. Các bản dự báo
được gửi đến Đài tiếng nói Việt Nam, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản các tỉnh
ven biển và phát hành rộng rãi đến các cá nhân, tổ chức liên quan phục vụ thực tiễn
sản xuất (gián đoạn ở 6/2011-3/2013).
1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.3.1.
Phương pháp chuyên gia là phương pháp tổng hợp thu thập các ý kiến chuyên
gia trong lĩnh vực dự báo khai thác và các lĩnh vực có liên quan đưa ra những dự
đoán khách quan về tương lai phát triển của lĩnh vực khoa học kỹ thuật này dựa trên
việc xử lý có hệ thống các đánh giá của chuyên gia. Đây là phương pháp dự báo
mang tính định tính, cụ thể nội dung của nó gồm;
a. Thành lập nhóm chuyên gia
Nhóm chuyên gia được lập thành 2 nhóm cơ bản là nhóm các chuyên gia dự báo
và nhóm chuyên gia phân tích;
Trang 12
Nhóm chuyên gia dự báo sẽ đưa ra những đánh giá dự báo về đối tượng cần dự
báo như dự báo khí tượng hải dương, dự báo các yếu tố hải dương học nghề cá, dự
báo biến động giá trị đối tượng nghiên cứu, dự báo mùa vụ đối tượng nghiên cứu và
Tháng
Năm
Loài khai thác
Kinh độ
Vỹ độ
Sản
lượng
(kg)
Câu vàng
1
5
2000
Acanthocybium solandri
110.95
7.95
146.3
Câu vàng
1
5
2000
Alepisaurus ferox
110.95
7.95
46.3
Câu vàng
1
5
2000
Carcharhinus tilstoni
111.45
Thunnus albacares
110.95
7.95
438.9
Câu vàng
1
5
2000
Xiphias gladius
110.95
7.95
48.9
Câu vàng
2
5
2000
Acanthocybium solandri
110.97
10.22
68.3
Câu vàng
2
5
2000
Alepisaurus ferox
110.97
10.22
205.1
Câu vàng
2
Bảng 2 thể hiện số liệu thống kê sản lượng khai thác theo loài của nghề lưới
câu vào tháng 5 năm 2000, số liệu cho thấy có rất nhiều loài bắt gặp trong một mẻ
lưới, trong đó có đối lượng cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)
Bảng 3. Bảng thống kê CPUE theo không gian (ô lưới)
Ký hiệu
Kinh độ
Vỹ độ
CPUE_min
CPUE_max
CPUE_tb
Số mẫu
Độ lệch chuẩn
AD19
116.75
13.75
0
19.7629
11.171
3
10.13
Q21
110.25
12.75
0
17.2225
8.77783
3
8.61
Q20
110.25
T21
111.75
12.75
1.9285
5.7145
3.8215
2
2.68
U22
112.25
12.25
0
9
4.515
3
3.21
Bảng 3 thống kê năng suất khai thác nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình và số mẫu
trên từng ô lưới 0,5 x 0,5 độ (kí hiệu ô AD19, Q21…), kinh độ và vỹ độ tâm ô lưới
được thể hiện cho kí hiệu tương ứng của mỗi ô lưới.
Trang 14
1.3.3.
Phương pháp viễn thám là phương pháp sử dụng bức xạ điện từ như một
phương tiện để điều tra và đo đạc những đặc tính của đối tượng [12]. Phân tích và
tách chiết thông tin từ tư liệu ảnh viễn thám gồm nhiệt độ bề mặt biển, hàm lượng
chlorophyll-a, và dong chảy…
1.3.4.
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System) gọi tắt là GIS
được định nghĩa là hệ thộng nhập liệu, lưu trữ, thao tác, phân tích và hiện thị dữ
liệu địa lý hoặc không gian, dữ liệu được thể hiện ở dạng điểm, đường và vùng
không gian là những vấn đề cần được ưu tiên.”
Bản đồ là mô hình kí hiệu hình tượng không gian của các đối tượng và các
hiện tượng tự nhiên và xã hội, được thu nhỏ, được tổng hợp hoá theo một cơ sở toán
nhất định, nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố và mối tương quan của các đối tượng,
hiện tượng và cả những biến đổi của chúng theo thời gian để thoả mãn những yêu
cầu đã được xác định trước.
Xét trên quan điểm này, những bản đồ dự báo ngư trường khai thác phục vụ
cho các mục tiêu thực tiến nói trên, phải thỏa mãn các yêu cầu cơ bản: Một là, nội
dung bản đồ phải được thể hiện bàng hệ thống kí hiệu hình tượng, trên cơ sở những
nguyên tắc và quy luật của Ngôn ngữ bản đồ. Hai là, bản đồ là hình ảnh thu nhỏ của
bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng, trên một cơ sở toán học nhất định. Ba là, nội dung
bản đồ phải được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc và quy luật khái quát hóa,
nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin dự báo ngư trường khai thác hải sản nói
chung, khai thác, đánh băt cá ngừ đại dương nói riêng.
Bản đồ số vùng biển xa bờ Trung Bộ, Việt Nam được sử dựng làm bản đồ
nền địa lý, làm hệ thống thông tin không gian của GIS, trong quá trình thành lập
bản đồ dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương cho nghề câu vàng vùng
biển nói trên cũng được xây dựng theo những nguyên tắc và yêu cầu này. Nhóm
Trang 16
bản đồ dự báo ngư trường khai thác được thành lập trên cơ sở những nguyên tắc
và yêu cầu đó.
Do vậy, phương pháp bản đồ là một trong các phương pháp cơ bản để phân tích
không gian về những biến động ngư trường khai thác theo thời giúp các hộ ngư dân
và doanh nghiệp khai thác hải sản theo dõi và điều chỉnh kế hoạch sản xuất của
mình đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
1.4.1. u
Theo Chiến lược phát triển Thuỷ
sản Việt Nam đến 2010, toàn vùng biển
0
E đến 117
0
E (Hình 1).
Hình 1. Giới hạn vùng biển nghiên cứu
Trang 17
1.4.2.
Dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương hạn ngắn (1 tháng), thời gian
xây dựng thử nghiệm dự báo khai thác là tháng 4 và tháng 5 năm 2013.
1.4.3. , d li ng
Bản dự báo thử nghiệm được xây dựng trên cơ sở nguồn dữ liệu nghề cá (dữ
liệu nghề cá ngừ đại dương) được thu thập từ các chương trình khảo sát, giám sát và
nhật ký khai thác. Dữ liệu ảnh viễn thám độ phân giải thấp (MODIS AQUA,
NOAA-AVHRRH, MERIS, …) được công ty CLS cập nhật và xử lý, dữ liệu này
truyền trực tiếp từ CLS cho dự án (MOVIMAR).
Hình 2. Phần mềm chuyên dụng Themsis viewer dung để chiết rút dữ liệu hải dương
1.4.3.1.
Số liệu gốc được tập hợp từ các chương trình nghiên cứu nguồn lợi hải sản
có liên quan đến đối tượng cá ngừ đã được thực hiện tại vùng biển Việt Nam trong
giai đoạn từ 1996 đến 2009 (Bảng 4). Số liệu của các chương trình này được thu
thập thông qua các chuyến điều tra độc lập, các chuyến giám sát trên tàu khai thác
thương phẩm, và chương trình sổ nhật ký khai thác.
Trang 18
Bảng 4. Nguồn số liệu câu vàng cá ngừ
Dạng
số liệu
Tên đề tài/dự án (tên tóm tắt)
Xây dựng mô hình dự báo cá khai thác và các
cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh
bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam
2006
1
Số liệu
giám
sát
HĐKT
Dự án Đánh giá Nguồn lợi sinh vật biển Việt
Nam (ALMRV)
2001
1
Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa
chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ
phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam.
2000-
2001
3
Đề tài điều tra hiện trang nguồn lợi và môi
trường vùng biển quần đảo Trường Sa
2001-
2003
3
Xây dựng mô hình dự báo cá khai thác và các
cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh
bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam
2006-
2007
1