ứng dụng gis trong quy hoạch du lịch huyện ba vì, thành phố hà nội - Pdf 24



1 ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Tự NHIÊN
Vũ Lê ánh

ứNG DụNG GIS TRONG QUY HOạCH
DU LịCH HUYệN BA Vì,Thành phố hà NộI
LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC


NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC PGS.TS PHạM VĂN Cự
Hà Nội - 2012 3
LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay luận văn đã hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học tự nhiên- Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS. TS. Phạm Văn Cự đã
tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và động viên, tạo điều kiện để
học viên hoàn thành luận văn .
Tác giả xin cảm ơn dự án DANIDA " Nghiên cứu tác động của biến đổi khí
hậu đến biến đổi sử dụng đất và sinh kế cộng đồng trên đồng bằng Sông Hồng” của
Trung tâm Quốc tế biến đổi toàn cầu - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện nghiên cứu
phát triển du lịch- Tổng Cục Du lịch, Khoa sau đại học- Trường đại học Khoa học
Tự nhiên- Đại học Quốc Gia Hà Nội, Công ty TNHH tư vấn GeoViet đã quan tâm
giúp đỡ động viên, đóng góp ý kiến để học viên hoàn thành luận văn .
Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo khoa Địa lý- Đại học Khoa
học Tự nhiên đã tận tình trao đổi, trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ
để học viên hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Phạm Trung Lương,
TS. Trương Sỹ Vinh- Viện nghiên cứu phát triển du lịch- Tổng Cục du lịch- Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã trao đổi ý kiến, để luận văn có thể hoàn thành.

CHƢƠNG 2. GIS VÀ ỨNG DỤNG GIS TRONG QUY HOẠCH DU LỊCH 24
2.1. Hệ thông tin địa lý 24
2.1.1.Giới thiệu chung 24
2.1.2 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý (GIS) 25
2.1.3 Quan niệm về cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý 30
2.2. Ứng dụng của GIS trong quy hoạch du lịch 40
2.2.1. Vai trò vị trí của GIS trong quản lý tài nguyên và quy hoạch lãnh thổ du lịch . 40
2.2.2 Ứng dụng GIS trong du lịch ở Việt Nam và Trên thế giới 42
2.3 Mô hình và mô hình hóa trong GIS. 44
2.3.1 Khái niệm chung. 44
2.3.2. Mô hình hóa tiêu chí hình thành khu, tuyến điểm du lịch trong quy hoạch lãnh
thổ du lịch. 49
CHƢƠNG 3: THỬ NGHIỆM ỨNG DỤNG GIS VÀO QUY HOẠCH LÃNH THỔ DU
LỊCH HUYỆN BA VÌ 53 5
3.1 Giới thiệu chung về huyện Ba Vì. 53
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 53
3.1.2. Điều kiện xã hội 59
3.2 Lựa chọn phần mềm 60
3.3 Cấu trúc nội dung cơ sở dữ liệu huyện Ba Vì, Hà Nội 62
3.3.1 Cơ sở dữ liệu huyện Ba Vì 62
3.3.2.Xử lý dữ liệu thô 63
3.3.3. Cấu trúc dữ liệu sau khi xử lý 64
3.4 Xử lý số liệu 65
3.4.1 Sử dụng GIS để mô hình hóa quá trình hình thành khu, tuyến, điểm du lịch 65
3.4.2 Các bước thực hiện 68
3.4.3 Kết quả đạt được 72
KẾT LUẬN 76

Hình 3.2 : Cơ sở dữ liệu huyện Ba Vì, Hà Nội
Hình 3.3 : Các bước thực hiện mô hình để xác định điểm du lịch huyện Ba Vì
Hình 3.4: Các bước thực hiện mô hình để xác định khu du lịch huyện Ba Vì
Hình 3.5: Các bƣớc thực hiện mô hình để xác định tuyến du lịch huyện Ba Vì1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, đời sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao và nhu
cầu du lịch cũng ngày càng tăng. Do đó, du lịch đã trở thành ngành “công nghiệp
không khói” đang đƣợc nhà nƣớc đặc biệt quan tâm đầu tƣ vừa để phát triển vừa để
bảo vệ hệ sinh thái và phát triển bền vững.[9] Du lịch là một ngành kinh tế tổng
hợp, có quan hệ mật thiết với nhiều ngành kinh tế khác nhau nhƣ giao thông vận tải,
bƣu chính viễn thông, cung cấp điện nƣớc…và các hoạt động văn hóa xã hội nhƣ
văn hóa, lịch sử, khảo cổ, lễ hội, làng nghề….
Sự phát triển của các ngành kinh tế có liên quan cũng nhƣ trình độ phát triển
của các hoạt động văn hóa xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động phát triển
du lịch . Ngƣợc lại ,sự phát triển của du lịch cũng góp phần tích cực vào sự phát
triển các ngành kinh tế có liên quan và các hoạt động văn hóa xã hội khác . Trong
sự phát triển có tính biện chứng này, sự giao lƣu thông tin giữa các ngành du lịch ,
giữa các địa phƣơng với du lịch và ngƣợc lại là hết sức quan trọng.
Chính vì vậy, để đảm bảo sự phát triển đúng đắn của du lịch Việt Nam, công tác
quy hoạch đóng một vai trò hết sức quan trọng .Nếu thiếu quy hoạch , hoạt động du
lịch có thể sẽ gây ra những tác động không mong muốn và không lƣờng trƣớc đƣợc.
GIS-hệ thống thông tin địa lý, là một hệ thống thông tin đƣợc thiết kế để thu
thập, cập nhật lƣu trữ, tích hợp và xử lý, tra cứu , phân tích và hiển thị mọi dạng dƣ
liệu địa lý. GIS có khả năng phối hợp xử lý giữa thông tin không gian và phi không
gian để giải quyết các vấn đề theo yêu cầu của ngƣời dùng. Chính nhờ những khả

2. Mục tiêu nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Mô hình hóa tiêu chí phục vụ quá trình hình thành khu tuyến điểm du lịch.
- Thử nghiệm quá trình mô hình hóa trong GIS để hình thành khu, tuyến
điểm du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội.
Giới hạn nghiên cứu
Quy hoạch du lịch nói chung và quy hoạch lãnh thổ du lịch nói riêng là một
bài toán lớn, yêu cầu một khối lƣợng lớn về CSDL cũng nhƣ các chuyên gia nghiên
cứu. Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn, học viên chỉ tập trung nghiên cứu các
phƣơng pháp phân tích trong GIS để mô hình hóa dữ liệu xác định các điểm du 3
lịch, tuyến du lịch, khu du lịch ( Một trong các nội dung của quy hoạch lãnh thổ du
lịch) thông qua các tiêu chí .
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu về du lịch, luật du lịch, thông tƣ, nghị định, đề tài khoa
học…
- Thu thập cơ sở dữ liệu huyện Ba Vì, Hà Nội
- Bổ sung các dữ liệu còn thiếu.
- Mô hình hóa dữ liệu trong GIS để hình thành khu, tuyến điểm du lịch qua
các tiêu chí.
4. Nội dung nghiên cứu
- Các khái niệm cơ bản về quy hoạch du lịch, tài nguyên du lịch và các khái
niệm, tiêu chí của khu, tuyến điểm du lịch.
- Giới thiệu khái quát về hệ thông tin địa lý(GIS) và vai trò của hệ thông tin
địa lý trong quy hoạch du lịch. Mô hình hóa dữ liệu trong GIS để hình thành khu,
tuyến điểm du lịch qua các tiêu chí.
- Thử nghiệm ứng dụng GIS trong việc xác định khu tuyến điểm du lịch của
huyện Ba Vì, Hà Nội.

và sử dụng đúng các công cụ đó cũng nhƣ các kiến thức sâu sắc về dữ liệu đang
đƣợc sử dụng.
Trong GIS thƣờng sử dụng nhiều phƣơng pháp phân tích khác nhau. Sau đây
là những phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong luận văn:
- Phƣơng pháp chồng xếp (Overlay Analysis)
- Các phƣơng pháp phân loại (Class Analyis)
- Phƣơng pháp tìm kiếm dữ liệu trong vùng không gian (Buffer)
- Phƣơng pháp phân tích tiêu chí
6. Khu vực nghiên cứu
Ứng dụng thí điểm vào huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Ba Vì là huyện thuộc
vùng bán sơn địa ở phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, từ 21
0
đến 21
0
19'40"
0
vĩ độ Bắc,
l05
0
17'35" đến l05
0
28'22'' kinh độ Đông. Cách trung tâm thành phố Hà Nội 53 km.
7. Luận văn có các ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau
Về mặt lý luận
- Xây dựng cơ sở lý luận và khoa học cho việc quy hoạch lãnh thổ du lịch
cũng nhƣ trong quy hoạch du lịch. 5
- Góp phần xác lập hƣớng tiếp cận, quy trình và phƣơng pháp cho quy hoạch

tạo dựng nên. Các yếu tố này luôn tồn tại và gắn liền với môi trƣờng tự nhiên và
môi trƣờng xã hội đặc thù của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia tạo nên những điểm
đặc sắc cho mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này đƣợc phát hiện,
đƣợc khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài
nguyên du lịch.[3]
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du
lịch chƣa khai thác. Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:
khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm
ẩn, yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du
lịch và trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra các phƣơng tiện để khai
thác các tiềm năng tài nguyên.
Nhƣ vậy cũng giống nhƣ các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch có
phạm trù lịch sử và có xu hƣớng ngày càng đƣợc mở rộng. Sự mở rộng của tài
nguyên du lịch thƣờng tùy thuộc vào yêu cầu phát triển du lịch, vào những tiến bộ
khoa học kỹ thuật, vào sự đầu tƣ, vào các sáng kiến và sở thích của con ngƣời. 7
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du
lịch. Tài nguyên nghĩa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc khai thác và
ohục vụ cho mục đích phát triển nào đó của con ngƣời. Theo Buchvakop - Nhà địa
lý học ngƣời Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết
hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể đƣợc sử
dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách
du lịch”. Xét dƣới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận
hợp thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn .
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Thiên nhiên là môi trƣờng sống của con ngƣời và mọi sinh vật trên trái đất.
Thiên nhiên bao quanh gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tƣợng
tự nhiên và các quá trình biến đổi của chúng, tạo nên các điều kiện tự nhiên thƣờng

với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là địa bàn cƣ trú của
đồng bào các dân tộc ít ngƣời với đời sống và nền văn hóa rất đa dạng đặc sắc: Ở
nƣớc ta, các địa hình đƣợc khai thác nhƣ mỏ tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng
thƣờng là các dạng và các kiểu địa hình đặc biệt sau:
- Các vùng núi có phong cảnh đẹp
Các vùng núi có phong cảnh đẹp đã đƣợc phát triển và khai thác phụ vụ mục
đích du lịch là cao nguyên Lâm Viên (Lang Bị Ang) với thành phố Đà Lạt (Lâm
Đồng), Sa Pa, Bấc Hà (Lào Cai), Tam Đảo (V Nít Phúc), Ba Vì (Hà Tây), các vùng
hố tự nhiên và nhân tạo nhƣ hồ Ba Bể (Bắc Kim), hồ Hòa Bình (Hòa Bình), hồ Thác
Bà (Yên Bái), hồ Đồng Mô (Hà Tây)… Đặc biệt Đà Lạt và Sa Pa ở độ cao trên
1500m đƣợc mệnh danh là "thành phố trong sƣơng mù", mang nhiều sắc thái của
nhiên nhiên vùng ôn đới đã đƣợc xây dựng thành điểm du lịch tham quan nghỉ mát
từ cách đây trên dƣới 100 năm. Cao Nguyên Bắc Hà, núi Ba Vì, núi Mẫu Sơn, núi
Bạch Mã cũng là những điểm du lịch nổi tiếng, có thời kỳ đã từng đƣợc khai thác
phục vụ du lịch, hiện tại đang đƣợc từng bƣớc phụ hồi và hứa hẹn những triển vọng
tốt đẹp.
- Các hang động
Nhiều hang động ở nƣớc ta có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo, có sức
hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch. Bên cạnh những vẻ đẹp tự nhiên do tạo hóa sinh
ra, các hang động còn chứa đựng những di tích khảo cổ học, những di tích lịch sử -
văn hóa rất đặc sắc của dân tộc nên càng có giá trị để phát triển du lịch.

9
- Các bãi biển
Nƣớc ta có đƣờng bờ biển dài 3260km với khoảng 125 bãi biển có bãi cát
bằng phẳng, độ dốc trung bình 1 - 30, đủ nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác phụ
vụ du lịch. Điều lý thú là cả hai điểm đầu và cuối của đƣờng bờ biển nƣớc ta đều là

ngƣời và điều kiện triển khai các hoạt động du lịch là một yếu tố quan trọng để thu
hút khách, tạo nên tính chất mùa vụ trong hoạt động du lịch. Để khắc phục tính chất
mùa vụ do các tài nguyên khí hậu du lịch gây nên, rất cần thiết phải đa dạng hóa các
loại hình du lịch và tạo thêm nhiều sản phẩm du lịch mới, thích hợp.
c. Thủy văn
Đối với hoạt động du lịch, thủy văn cũng đƣợc xem nhƣ một dạng tài nguyên
quan trong. Nhiều loại hình du lịch gắn bó với đối tƣợng nƣớc. Các đối tƣợng nƣớc
chính sau đây đã đƣợc khai thác nhƣ tài nguyên du lịch.
- Bề mặt nƣớc và các bãi nông ven bờ
Bề mặt nƣớc là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp, yên bình. Bên cạnh hồ
rộng thì các dòng sông lớn, cảnh núi non, rừng cây, mây trời, ánh trăng và các công
trình kiến trúc song bóng nƣớc là những phong cảnh hữu tình. Các bãi biển hoặc các
bãi ven hồ thƣờng đƣợc sử dụng để tắm mát, dạo chơi và các hoạt động thể thao
nƣớc nhƣ bơi lội, đua thuyền, lƣớt ván.
- Các điểm nƣớc khoáng, suối nƣớc nóng
Các điểm nƣớc khoáng, suối nƣớc nóng là tài nguyên thiên nhiên rất quý giá
để triển khai các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dƣỡng, chữa bệnh.
d. Sinh vật
Tài nguyên sinh vật ở nƣớc ta rất đa dạng và phong phú. Nguồn tài nguyên
quý giá này cũng đã đƣợc khai thác để phục vụ cho mục đích du lịch.
Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho thiên nhiên đẹp và
sống động hơn.
- Một số hệ sinh thái đặc biệt
Ở nƣớc ta có một số hệ sinh thái đặc biệt rất tiêu biểu cho thiên nhiên của
vùng nhiệt đới đã đƣợc khai thác phục vụ cho mục đích du lịch nhƣ các hệ sinh thái
rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, hệ sinh thái rạn san hô ở Quảng Ninh,
Hải Phòng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu…
- Các điểm tham quan sinh vật
Ở nƣớc ta có rất nhiều điểm tham quan sinh vật thu hút đông đảo khách du
lịch nhƣ các vƣờn thú, vƣờn bách thảo, các công viên vui chơi giải trí (thủy cung) ở


Hình 1.2 :Chùa Một Cột
Ngày nay, việc phát huy các thế mạnh về tiền năng du lịch nhân văn để phát
triển du lịch đƣợc Nhà nƣớc quan tâm, ngay Điều 1 pháp lệnh du lịch Việt Nam chỉ
rõ: “Nhà nƣớc Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, quan
trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc…” . Việc phát triển du lịch nhân văn (Du lịch
văn hoá) là cách để giáo dục lòng yêu nƣớc, nhận thức trách nhiệm bảo vệ tài sản
công của quốc gia, quản bá về hình ảnh của đất nƣớc ra thề giới.
1.1.2 Quy hoạch lãnh thổ du lịch
Du lịch là một hoạt động tổng hợp phức tạp có quan hệ với nhiều lĩnh vực
kinh tế và xã hội. Chính vì vậy nếu thiếu quy hoạch, hoạt động du lịch có thể sẽ gây
ra những tác động không mong muốn và không lƣờng trƣớc đƣợc . Việc quy hoạch
sẽ đƣa ra những chỉ dẫn cần thiết để phát triển du lịch đối với cả những điểm mới và
những điểm đang hoạt động.
Quy hoạch lãnh thổ du lịch là một nội dung đặc biệt quan trọng trong quy
hoạch du lịch. Về thực chất tổ chức lãnh thổ du lịch là sự kết hợp phân tích tổng
hợp giữa chiến lƣợc sử dụng lãnh thổ và phát triển kinh tế xã hội – xã hội và khả 13
năng phát triển du lịch nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng tài nguyên du
lịch và các điều kiện có liên quan đến trong một lãnh thổ nhất định.[2]
Mục đích của công tác quy hoạch là dựa trên cơ sở về tiềm năng và nguồn
lực , nghiên cứu các tác động nội – ngoại lực của các yếu tố tự nhiên kinh tế- xã hội
và những biến động tiềm ẩn ngoài quy luật . Điều này đòi hỏi công tác quy hoạch
lãnh thổ phải nghiên cứu quy luật biến động của các yếu tố cơ bản trong không
gian lãnh thổ quy hoạch , làm căn cứ cho các dự báo . Đối với các mục tiêu quy
hoạch khác nhau cần nhƣ có những phƣơng án và lựa chọn các giải pháp khác nhau.
Quy hoạch là một công tác cần đƣợc tiến hành thƣờng kì có bố sung và đƣợc điều
chỉnh cho sát với tình hình thực tế và những xu thế, biến động mới nảy sinh.

nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động phát
triển hoạt động du lịch . Tuy nhiên điều đó không nhất thiết đƣợc hiểu là có mặt
bằng hoặc có sơ sở hạ tầng ,cơ sở kỹ thuật vật chất kỹ thuật phát triển bởi đối với
một số loại hình du lịch nhƣ du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao, du
lịch leo núi……không đòi hỏi phải có những điều kiện này, thậm chí việc phát triển
cơ sở hạ tầng sẽ có những tác động tiêu cực đến sự phát triển của chúng.
Chính vì vậy, việc xác định không gian thuận lợi phát triển du lịch thƣờng
chỉ căn cứ đến đặc điểm phân bố không gian tài nguyên du lịch , trong đó chú
trọng hơn tới những tài nguyên đặc sắc có tính đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu.
Ngoài ra để xác định không gian này cũng cần lƣu ý đến những khả năng tai
biến tự nhiên có ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động phát triển du lịch nhƣ trƣợt lở
đất đá do các quá trình ngoại sinh , động đất do các hoạt động kiến tạo ….
Không gian ưu tiên đầu tư phát triển du lịch : có phạm vi nhỏ hơn và
thƣờng nằm trong vùng không gian thuận lợi phát triển du lịch . Việc xác định
không gian ƣu tiên đầu tƣ nhằm định hƣớng cho công tác đầu tƣ sau quy hoạch .
Không gian này thƣờng đƣợc xác định căn cứ vào tính đặc sắc hấp dẫn của tài
nguyên du lịch với các điều kiện thuận lợi để có khai thác có hiệu quả tiềm năng đó.
Ngoài ra, sự phát triển những không gian này sẽ tạo ra những điểm , cụm du lịch có
vị trí quan trọng có tính then chốt trong tổ chức lãnh thổ du lịch chung của vùng
nghiên cứu khoa học . 15
1.2. Khái niệm khu, tuyến, điểm du lịch .
1.2.1. Khu du lịch
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về khu du lịch. Theo sách “ Resort
Development and Management” (phát triển và quản lý khu nghỉ dƣỡng, nghỉ mát)
của Viện Nghiên cứu Giáo dục, Đào tạo của Hiệp hội Khách sạn và Motel Hoa Kỳ
thì khu nghỉ dƣỡng, nghỉ mát du lịch có tính nguyên tắc bao trùm là phải tạo ra
đƣợc một môi trƣờng mà môi trƣờng đó có tác dụng thúc đẩy, nâng cao một hiệu

các điểm tham quan du lịch thuần túy. [1],[12]
Kết hợp đỉnh nghĩa của Pháp lệnh Du lịch và các phân tích trên có thể đƣa ra
định nghĩa khái quát về khu du lịch nhƣ sau: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du
lịch với ưu thế nổi bật về tài nguyên thiên nhiên; có không gian diện tích đủ rộng,
được quy hoạch đầu tư phát triển để trở thành nơi cung cấp đồng bộ các dịch vụ và
tiện nghi du lịch đặc thù phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch; đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội và môi trường”.
1.2.2. Điểm du lịch
Điểm du lịch đƣợc nhìn nhận theo định nghĩa của Mục 4 điều 10 của Pháp
lệnh Du lịch định nghĩa: “ Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả
năng thu hút khách du lịch” bên cạnh đó mục 3 điều 10 đã giải thích rõ tài nguyên
du lịch bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị
nhân văn, công trình sáng tạo của con ngƣời đƣợc sử dụng thỏa mãn nhu cầu du
lịch. Nhƣ vậy trong địa bàn thành phố Hà Nội có thể có hàng chục điểm du lịch theo
định nghĩa của Pháp lệnh Du lịch
Trên thực tế thƣờng có sự so sánh giữa các khu và điểm du lịch, vì vậy có thể
định nghĩa điểm du lịch nhƣ sau: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn
tập trung trong một không gian nhất định; được quy hoạch để cung cấp một số dịch
vụ thỏa mãn nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn, tìm hiểu của khu du lịch”.
Nhƣ vậy có thể thấy rõ sự khác biệt lớn nhất giữa khu du lịch với điểm du
lịch đó là: khu du lịch đƣợc quy hoạch đầu tƣ phát triển để cung cấp đồng bộ các
dịch vụ du lịch đặc thù, phục vụ nhu cầu đa dạng của khu du lịch, trong đó dịch vụ
lƣu trú đƣợc chú trọng đặc biệt; còn điểm du lịch chỉ cung cấp một số dịch vụ nhất
định và chỉ phục vụ cho nhu cầu tham quan, thƣởng ngoạn, tìm hiểu của du khách. 17
1.2.3. Tuyến du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam: Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du
lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông

- Có cơ sở lƣu trú du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao và các cơ sở dịch vụ
đồng bộ khác.
b) Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là khu du lịch địa phương:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch;
- Có diện tích tối thiểu hai trăm héc ta, trong đó có diện tích cần thiết để xây
dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, cơ sở lƣu trú và dịch
vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của địa phƣơng, có khả năng bảo đảm
phục vụ ít nhất một trăm nghìn lƣợt khách du lịch một năm.
* Các điều kiện để hình thành phát triển điểm du lịch
Căn cứ vào định nghĩa về điểm du lịch và tài nguyên du lịch trong Pháp lệnh
Du lịch và theo Luật Du lịch(2005) và NĐ 92/2007/NĐ-CP thì việc hình thành phát
triển điểm du lịch cũng phải có những điều kiện bắt buộc và cần thiết.
a) Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du lịch
quốc gia:
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của
khách du lịch(Có ít nhất một loại tài nguyên theo định nghĩa tại mục 3 điều 10 trong
pháp lệnh du lịch )
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất một trăm nghìn lƣợt khách tham quan một năm.
- Có đƣờng giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ
xe, có khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nƣớc, thông tin liên
lạc và các dịch vụ khác đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách du lịch.
- Đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi
trƣờng theo quy định của pháp luật.
b) Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du
lịch địa phương:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch (Có ít
nhất một loại tài nguyên theo định nghĩa tại mục 3 điều 10 trong pháp lệnh du lịch).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status